skkn tích hợp kiến thức ngữ văn, âm nhạc vào dạy học lịch sử ở trường THCS - Pdf 37

UBND TỈNH HẢI DƯƠNG
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BẢN MÔ TẢ SÁNG KIẾN
TÍCH HỢP KIẾN THỨC NGỮ VĂN, ÂM NHẠC VÀO
DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THCS
Bộ môn: Lịch sử

Năm học: 2014 – 2015
1


THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1.Tên sáng kiến: “Tích hợp kiến thức Ngữ văn, Âm nhạc vào dạy học Lịch
sử ở trường THCS”
2. Lĩnh vực áp dụng: Ngành khoa học giáo dục; Bộ môn Lịch sử
3. Tác giả:
Họ và tên:Nguyễn Văn Cương

Nam

Sinh ngày 16 tháng 06 năm 1976
4. Trình độ chuyên môn: Đại học sư phạm Sử
Chức vụ, đơn vị công tác: Phó hiệu trưởng trường THCS Lê Lợi
Điện thoại: 0978734600
5. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến:
- Trường THCS Lê Lợi.
- Địa chỉ: Thị tứ Lê Lợi – xã Lê Lợi – thị xã Chí Linh – tỉnh Hải Dương
- Điện thoại: 03203593126
6. Đơn vị áp dụng sáng kiến lần đầu ( nếu có ): Trường THCS Lê Lợi – Lê Lợi
– Chí Linh- Hải Dương.

hiểu được tâm lí và tạo cho các em cảm thấy thoải mái mỗi khi đón nhận tiết
học đòi hỏi người thầy luôn phải tìm tòi, đổi mới phương pháp cách dạy, cách
tiếp cận để tạo cho các em tâm thế tốt nhất cho giờ học sử.
Xuất phát từ ý nghĩa và tầm quan trọng trong việc dạy môn Lịch sử và
mong muốn các em sẽ đạt được những thành tích nhất định với bộ môn các em
học. Đó chính là lí do để tôi chọn tên sáng kiến kinh nghiệm “Tích hợp kiến
thức Ngữ văn, Âm nhạc vào dạy học Lịch sử ở trường THCS”.
2. Điều kiện, thời gian áp dụng sáng kiến
- Điều kiện: Phòng học bộ môn, máy chiếu, lược đồ, sách giáo khoa, tài
liệu, tư liệu lịch sử liên quan đến nội dung bài học.
- Thời gian: Từ tháng 9 / 2013 đến tháng 05 / 2014.
- Đối tượng: Đối tượng nghiên cứu là học sinh các đối tượng.
3. Nội dung sáng kiến
- Tính mới, tính sáng tạo của sáng kiến: Với những kiến thức đã dạy các
em tôi đan xen thêm kiến thức Ngữ văn ( phần văn học) và âm nhạc vào trong
mỗi tiết dạy có nội dung phù hợp để tạo cho các em có hứng thú hơn khi đến
3


với môn học đặc biệt là tạo cho các em nhớ lâu hơn về các mốc thời gian và các
sự kiện quan trọng thông qua việc học tích hợp các kiến thức liên môn.
- Khả năng áp dụng của sáng kiến: Trong quá trình giảng dạy học sinh
đại trà, ôn luyện đội tuyển của trường tôi thấy khả năng áp dụng của sáng kiến
vào thực tế đối với học sinh đại trà và học sinh đội tuyển học sinh giỏi là khả
thi và đạt đươc kết quả tốt.
- Lợi ích giá trị của sáng kiến: đối với sáng kiến sẽ mang lại cho người
dạy những lợi ích căn bản, những bài tập, phương pháp phù hợp với đối tượng
học sinh để nâng cao thành tích kết quả học tập của các em.
4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến
Sau thời gian nghiên cứu từ tháng 9/2013 đến tháng 05/2014 kết hợp với

Từ cơ sở đó tôi mạnh dạn xin trình bày một số kinh nghiệm về sử dụng tài liệu
Ngữ văn, Âm nhạc trong giờ học sử.
2. Cơ sở lý luận của vấn đề
“Lịch sử là những gì đã diễn ra trong quá khứ; lịch sử loài người mà
chúng ta học là toàn bộ những hoạt động của con người từ khi xuất hiện
đến nay” (SGK Lịch sử 6 – trang 3 – NXB Giáo dục năm 2002).
Như vậy, qua khái niệm trên chúng ta đều thấy rằng: Việc học lịch sử có
nét đặc trưng riêng, có cái khó riêng. Đó là người học không thể tri giác trực
tiếp; không thể “sờ” hay làm thí nghiệm trong phòng thí nghiệm.... mà buộc
phải tư duy, phải trừu tượng hoá, khái quát hoá để dựng lại những gì đã diễn ra
trong quá khứ, thông qua các sự kiện, niên đại, nhân vật....Để làm được điều đó
ngoài việc sử dụng các nguồn tư liệu sử học (hiện vật, văn tự cổ....) thì việc sử
dụng các tác phẩm văn học cũng có tác dụng rất lớn trong việc “dựng lại” lịch
sử.
Bên cạnh đó, việc dạy và học lịch sử ở nhiều trường phổ thông hiện nay
đang gặp nhiều khó khăn. Đó là tình trạng đại bộ phận học sinh đang dần “xa
lánh” môn Lịch sử, không còn hứng thú với việc học tập môn Lịch sử. Đây là
thực trạng đáng buồn. Bởi vì, sử học ở trường phổ thông có vai trò rất quan
5


trọng trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm và hình thành nhân cách của học
sinh.
Tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng trên, theo tôi có nhiều nguyên
nhân (gia đình – xã hội – nhà trường). Trong đó một nguyên nhân quan trọng
dẫn tới hiện tượng trên đó là: Giáo viên dạy sử còn để giờ dạy sử quá khô khan,
nặng nề nên thiếu sự thu hút đối với học sinh. Do đó, để khắc phục hiện tượng
này, theo tôi ngoài việc đổi mới phương pháp, tăng cường sử dụng đồ dùng
trực quan.... thì chúng ta nên sử dụng nhiều hơn nữa nguồn tài liệu Ngữ văn,
Âm nhạc trong giờ học lịch sử để làm bài giảng thêm sinh động, hấp dẫn hơn.

Ngoài SGK, tài liệu tham khảo có vị trí, ý nghĩa quan trọng trong việc
làm phong phú kiến thức lịch sử đang học, hiểu sâu hơn quá khứ, tạo bài giảng
hấp dẫn, sinh động có sức lôi cuốn học sinh.
Phân loại tài liệu tham khảo, theo tài liệu BDTX chu kì 3, nó có các loại
như sau:
- Tài liệu lịch sử gốc: Gồm các văn kiện, tài liệu có liên quan trực tiếp
đến sự kiện, ra đời vào thời điểm xảy ra sự kiện như các hiệp ước, điều ước,
tuyên ngôn.... Ví dụ: Hiệp ước Hác Măng (1883); tuyên ngôn độc lập khai sinh
ra nước VNDCCH (2/9/1945).
- Tài liệu, văn kiện của Đảng, Nhà nước, phong trào công nhân và cộng
sản Quốc tế....
- Các tài liệu Ngữ văn (văn học dân gian, văn học bác học).
- Tài liệu lịch sử rút ra từ các công trình nghiên cứu sử học, dân tộc
học....
Như vậy, trong giờ dạy học việc sử dụng tài liệu tham khảo giúp học
sinh có thêm cơ sở để nắm vững, hiểu bản chất sự kiện lịch sử; hình thành khái
niệm, hiểu rõ quy luật, bài học của lịch sử. Nó giúp các em khắc phục việc
“hiện đại hoá” lịch sử hoặc “hư cấu” sai sự thực lịch sử.
4.2. Sử dụng tài liệu Ngữ văn, âm nhạc trong giờ học sử:
4.2.1. Vai trò, ý nghĩa của tài liệu Ngữ văn:
Tài liệu Ngữ văn trong quá trình dạy học lịch sử ở trường phổ thông
có vai trò to lớn.
Trước hết, các tác phẩm Ngữ văn với những hình tượng cụ thể có tác
động mạnh mẽ đến tư tưởng, tình cảm của học sinh, nó giúp học sinh tiếp nhận
kiến thức, khắc sâu kiến thức 1 cách dễ dàng hơn.
Ví dụ: Khi dạy bài 27 (lịch sử 7) chế độ phong kiến nhà Nguyễn. mục II. Các
cuộc nổi dậy của nhân dân; khi dạy về cuộc khởi nghĩa Cao Bá Quát (1854 7


1856) để khắc sâu về nhân vật lịch sử này và làm phong phú thêm bài giảng.



Ví như khi dạy bài 23 (lịch sử 6). Những cuộc khởi nghĩa lớn trong các
thế kỉ VII – IX. Mục 2 khởi nghĩa Mai Trúc Loan (722) để làm rõ sự kiện, nhân
vật. Giáo viên có thể đưa vào đoạn thơ sau:
“Hùng cứ Hoan Châu đất một vùng
Vạn An thành luỹ khói hương xông
Bốn phương Mai Đế lừng uy đức
Trăm trận Lý Đường phục võ công....
.... Đường đi cống vai từ đây đứt
Dân nước đời đời hưởng phúc chung.”
Không những vậy, tài liệu văn học dân gian còn làm cho bài học sinh
động, tạo được không khí gần gũi với bối cảnh lịch sử đang học. Nó phản ánh
những hiểu biết về các sự kiện lịch sử đang học, giúp học sinh hiểu được vấn
đề cụ thể rõ ràng hơn.
Ví như khi dạy Bài 25 (lịch sử 8) kháng chiến lan rộng ra toàn quốc
(1873 - 1884). Mục II – phần 2, nhân dân Bắc Kì tiếp tục kháng Pháp. Để làm
cho học sinh hiểu rõ tình cảnh rối ren của triều Nguyễn khi Tự Đức mất cũng
như hiểu tại sao Pháp lại không nhân nhượng triều Nguyễn như năm 1874 nữa.
Giáo viên có thể đọc cho học sinh nghe 2 câu ca dao sau:
“Một nhà sinh được Ba vua
Vua sống, vua chết, vua thua chạy dài.”
(Ba vua này là Đồng Khánh (sống) Kiến Phúc (chết) Hàm Nghi chạy ra
Tân Sở đều là con của Kiến Thái Vương (một nhà)). Tất nhiên giáo viên cần
lưu ý giải thích từ “thua” thuộc quan điểm giai cấp nào?
Hoặc khi dạy Bài 29 (lịch sử 8) chương trình khai thác thuộc địa của
thực dân Pháp và những chuyển biến về kinh tế, xã hội ở Việt Nam. Tại phần I
mục 2 chính sách kinh tế. Để mô phỏng cảnh nhân dân ta phải nộp sưu thuế.
Giáo viên có thể sử dụng 4 câu ca dao sau:
“Ôi nhớ những năm nào thuở trước

hút học sinh hơn khi theo dõi bài giảng.
Ví dụ như: khi dạy Bài 24 (lịch sử 8) Cuộc kháng chiến từ năm 1858 đến
năm 1873. Tại mục II. Cuộc kháng chiến chống Pháp từ năm 1858 đến năm
1873. Tuỳ vào diễn biến bài giảng giáo viên có thể lồng ghép bài thơ sau sao
cho phù hợp tiến trình bài học. Cụ thể là:
10


“Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây
Một bàn cờ thế phút ra tay
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ đàn chim dáo dát bay
Bến Nghé cửa tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây
Hỏi trăng dẹp loạn rày đâu vắng
Nỡ để dân đen mắc nạn này!”
(Theo thơ văn Nguyễn Đình Chiểu – NXB Văn học, Hà Nội 1963)
Hoặc để nói lên khí thế chống giặc của người dân Nam Bộ nói chung, 3
tỉnh miền Tây Nam Kì nói riêng, giáo viên có thể trích 1 đoạn trong văn tế
Nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu như:
“Nhớ linh xưa:
Cui cút làm ăn: Toan lo nghèo khó.
Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng
bộ....
.... Bữa thấy bòng bong che trắng lấp, muốn tới ăn găn; ngày xem ống khói
chạy đen xì, muốn ra cắn cỏ”.
.... Hoả mai đánh bằng rơm con cúc, cũng đốt xong nhà dạy đạo kia; gươm đeo
dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ....
Trong quá trình lịch sử từ đầu thế kỉ XX, khi nói về sự biến đổi của xã
hội Việt Nam, cũng như thân phận của người nông dân trong xã hội thuộc

“Khoét núi ngủ hầm, mưa dầm cơm vắt
Máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn.”
Như vậy, có thể nói rằng, các tác phẩm văn học xuất hiện cùng thời kì
diễn ra các sự kiện lịch sử đã giúp học sinh thấy được “bức tranh” sống động
của lịch sử, làm cho các em nhận thức được sự kiện đó 1 cách toàn diện hơn.
Học để học sinh ghi nhớ nhanh kết quả của chiến dịch Điện Biên Phủ,giáo
viên có thể sử dụng những câu thơ sau:
“ Một chiều hè lịch sử
Bố kể truyện Điện Biên
Bộ đội mình chiến thắng
Lũ Tây bị bắt sống
12


Ta giải đi từng đoàn.
Tướng Đờ Cát xin hàng
Bốt đồn đều san phẳng.
Cờ quyết chiến quyết thắng
Tung bay trên nóc hầm.
Chiều mồng bẩy tháng năm
Một chiều hè lịch sử ”.
Qua đó phân tích cho học sinh nắm được chiều ngày 7/5/1954,quân ta đánh
vào sở chỉ huy địch ,bắt sống toàn bộ bọn giặc tại đây .lá cờ đỏ sao vàng của
quân dân ta đó tung bay trên nóc hầm tướng Đờ Ca-x tơ-ri.
Một ví dụ khác khi, dạy bài 30: “ Hoàn thành giải phóng miền Nam thống nhất
đất nước
( 1973-1975)”– Lịch sử 9. Để học sinh nắm được ý nghĩa lịch sử của cuộc
kháng chiến chống Mĩ cứu nước, giáo viên có thể sử dụng đoạn thơ trong bài
Trận thắng cuối cùng của nhà thơ Lê Đức Thọ viết ngay tại sân bay Tân Sơn
Nhất vào ngày 2/5/1975:

STT
1
2
3
4
5

Tên ca khúc
Mười chín tháng tám
Sông Lô
Hò kéo pháo
Chiến thắng Điện Biên
Câu hò bên bờ Hiền Lương

Tên tác giả
Nhạc và lời : Xuân Oanh
Nhạc và lời : Văn Cao
Nhạc và lời : Hoàng Vân
Nhạc và lời : Đỗ Nhuận
Nhạc : Hoàng Hiệp
Lời:Hoàng

Hoàng

Lớp
9
9
9
9
9


Trưng Nữ vương
Hoa Trưng Nữ vương
Phất Cờ Nương Tử
Hai Bà Trương
Bóng Cờ Lau
Đinh Bộ Lĩnh
Người anh hùng cờ lau

Thẩm Oánh
Uy Thi Ca
Công Minh
Khuyết Danh
Hoàng Quý
Lê Văn Chiêu
Trương Quang Lục

6
6
6
6
7
7
7
14


8
9
10

7
7
7
7
7
7

17
18

xuân
Theo cha đến ải Nam Quan
Hùng Thiêng Yên Thế

Ngô Tiến Thịnh
Bùi Hoàng Yến

7
8

4.2.5. Một vài ví dụ minh họa về sử dụng âm nhạc trong dạy học lịch sử trong
THCS
Ví dụ 1: Sử dụng ca khúc “Mười chín tháng Tám”, nhạc và lời : Xuân Oanh để
dạy mục II: Giành chính quyền ở Hà Nội trong bài 23: Tổng khởi nghĩa tháng
Tám năm 1945 và sự thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Mục đích:
Giúp học sinh thấy được không khí giành chính quyền ở Hà Nội trong
cách mạng tháng tám năm 1945, khắc sâu sự kiện ngày 19 tháng 8 giành chính
quyền ở Hà Nội, cách mạng tháng Tám thành công, đồng thời cho học sinh
thấy được không khí cách mạng trong cả nước.

- Khi bước vào mục I: Tình hình nước ta sau hiệp định Giơ- ne- vơ 1954 về
Đông Dương.
- Giáo viên cho học sinh nghe ca khúc “Câu hò bên bờ Hiền Lương”.
- Sau khi học sinh nghe xong giáo viên đặt câu hỏi: Qua ca khúc, em hãy cho
biết tình hình nước ta sau hiệp định Giơ- ne- vơ như thế nào? Học sinh dễ dàng
nhận thấy sau hiệp định Giơ- ne- vơ nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai miền
Nam- Bắc.
- Giáo viên cho học sinh nghe lại bài hát một lần nữa và đặt câu hỏi: Thông
điệp bài hát cho chúng ta thấy điều gì? Học sinh bày tỏ cảm nghĩ của mình.
Cuối cùng giáo viên chốt lại: Bài hát cho chúng ta thấy sự quyết tâm thống nhất
đất nước của dân tộc.

16


Kết quả: Sau khi sử dụng ca khúc “Câu hò bên bờ Hiền Lương” trong
dạy học mục I: Tình hình nước ta sau hiệp định Giơ- ne- vơ 1954 về Đông
Dương, học sinh dễ dàng hình dung được bối cảnh nước ta sau hiệp định Giơne- vơ. Nhớ được địa danh sông Hiền Lương( Bến Hải), làm giới tuyến quân sự
tạm thời chia cắt hai miền đất nước. Đồng thời qua ca khúc, học sinh thấy được
một niềm tin vững chắc và sự quyết tâm thống nhất hai miền Nam- Bắc trước
âm mưu chia cắt nước ta của kẻ thù.
4.2.6. Phương pháp sử dụng tài liệu văn học trong dạy học lịch sử:
Theo Trịnh Tùng trong cuốn Phương pháp dạy học lịch sử (trang 164.
NXB Giáo Dục 1999). Để sử dụng tài liệu văn học trong giờ dạy lịch sử, có thể
tiến hành theo cách sau:
Thứ nhất: Đưa vào bài giảng một đoạn thơ, đoạn văn ngắn nhằm minh
hoạ những sự kiện đang học làm cho nội dung bài học được phong phú và giờ
học thêm sinh động.
Thứ hai: Dùng một đoạn trích để cụ thể hoá sự kiện, nêu ra một kết luận
khái quát giúp học sinh hiểu sâu sắc hơn một thời kì, một sự kiện lịch sử.

động, hấp dẫn lôi cuốn học sinh. Giúp học sinh có cái nhìn đa chiều đối với
một sự kiện, một nhân vật, một hiện tượng lịch sử. Dễ dàng đưa kiến thức sử
đến với học sinh. Tuy vậy, theo tôi việc sử dụng tài liệu Ngữ văn trong giờ học
sử phải đảm bảo các yêu cầu sau:
Thứ nhất: Tài liệu Ngữ văn đó phải đảm bảo cả giá trị giáo dưỡng, giáo
dục và giá trị văn học.
Thứ hai: Tài liệu ấy phải là một bức tranh sinh động về những sự kiện,
nhân vật lịch sử đang học phải phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh.
Thứ ba: Đối với giáo viên:
- Trước khi sử dụng, cần có sự lựa chọn kĩ càng, phải loại bỏ những yếu
tố không phù hợp. Đặc biệt đối với tài liệu VHDG như thần thoại, cổ tích, ca
dao, dân ca.... giáo viên cần loại bỏ những yếu tố thần bí hoang đường giữ lại
những điểm cơ bản, khoa học phục vụ bài giảng.
- Khi sử dụng giáo viên chỉ đưa vào những nội dung phù hợp, tránh
việc lạm dụng đưa vào quá nhiều, làm loãng nội dung bài học lịch sử. Biến
giờ học sử thành giờ giới thiệu các tác phẩm văn học, ảnh hưởng tới sự tập
trung nhận thức của học sinh vào những vấn đề đang học. Đồng thời, giáo
18


viên cần sử dụng ngữ điệu phù hợp với tài liệu văn học, với nội dung sự kiện
lịch sử cần minh hoạ phải đưa vào bài giảng một cách hợp lí, lôgíc.... làm
được điều đó thì tính thuyết phục, hấp dẫn sẽ tăng lên rất nhiều.
Nói tóm lại, việc sử dụng tài liệu Ngữ văn trong giờ học sử là một trong
những cách thức để giáo viên đưa tài liệu tham khảo vào trong giờ dạy sử.
Thực hiện theo sơ đồ dạy học của Đairi, qua đó hoàn thành mục tiêu bài học, kế
hoạch dạy học và nâng cao chất lượng bộ môn trong trường phổ thông.
5. Kết quả đạt được
Sau thời gian nghiên cứu và thực hiện với đối tượng học sinh các khối
lớp 6,7,8,9 tại trường tôi đang dạy với cách thức sau:


chiều sâu.

Công tác giáo dục tư
tưởng

- Mức độ chậm.
- Chủ yếu học thuộc
lòng, ghi nhớ các sự

Học sinh có tình cảm,

kiện.
- Học sinh có thái độ

thái độ đúng đắn đối với

đúng đắn đối với sự

sự kiện, nhân vật.

kiện, nhân vật.

Qua quá trình thực hiện, kết quả đáng mừng là số học sinh có hứng thú
học tập bộ môn tăng, số chất lượng dạy học bộ môn tăng. Nhiều em đã tích cực
tham gia ôn tập và dự thi HSG môn sử cấp trường, huyện đạt kết quả cao (Năm

19



học do kiến thức khô khan và quá dài, một phần vì lượng kiến thức các môn
học hiện nay quá nặng, điều đặc biệt là các em dành thời gian nhiều thời gian
cho môn học Văn và Toán thi vào THPT.
Phụ huynh không muốn con em mình dành nhiều thời gian cho môn Lịch
sử, không muốn con em mình đầu tư nhiều thời gian cho môn Lịch sử, ví dụ
khi con em họ được chọn vào đội tuyển Lịch sử họ không vui, thất vọng, tìm
cách xin cho con mình sang đội tuyển khác.
21


Những giáo viên thực sự tâm huyết với bộ môn Lịch sử ngày càng ít.
Kết quả điểm thi, điểm kiểm tra của học sinh qua các kì thi chưa cao, còn
có nhiều điểm không.
Dạy học cần bám sát chuẩn kiến thức kĩ năng bộ môn.
Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập phù hợp, chú trọng phân hóa đối
tượng học sinh.
Chuẩn bị tài liệu tham khảo, đồ dùng, thiết bị dạy học đầy đủ.
Chú trọng đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá.
Thiết kế, xây dựng cấu trúc bài học hợp lí. Kết hợp kiến thức liên môn
trong dạy học Lịch sử đặc biệt là Ngữ văn và Âm nhạc.
Với việc kết hợp các phương pháp trên tôi thấy thu được kết quả nhất
định: Tạo ra được hứng thú, phát huy được tính tích cực của học sinh trong việc
học tập môn Lịch sử. Điểm số qua các bài kiểm tra được nâng lên. Chất lượng
đại trà được cải thiện rõ rệt. Năm học 2013-2014 đội tuyển học sinh giỏi do tôi
phụ trách tham gia thi học sinh giỏi cấp thị xã môn Lịch sử có hai em đi thi đều
được vào đội tuyển, trong đó có một em được giải ba và đứng thứ 4 trên 19
trường.
2. Khuyến nghị:
2.1. Với nhà trường
Kiểm tra lại năng lực của giáo viên dạy môn Lịch sử để có kế hoạch bồi


Trang
2
3-4

1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến:
2.Điều kiện, thời gian, đối tượng áp dụng sáng kiến
3. Nội dung sáng kiến
4. Khẳng định giá trị, kết quả đạt được của sáng kiến
5. Đề xuất kiến nghị để thực hiện áp dụng hoặc mở rộng
sáng kiến
24


MÔ TẢ SÁNG KIẾN

5

1. Hoàn cảnh nảy sinh sáng kiến

6

2. Thực trạng của vấn đề

6

3. Các giải pháp và biện pháp thực hiện

6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status