Sử dụng lý luận văn học kết hợp đổi mới kiểm tra đánh giá nhằm rèn luyện kỹ năng làm văn nghị luận nâng cao chất lượng dạy học môn ngữ văn cho học sinh lớp 9 trường THCS quảng đông - Pdf 44

1


2


PHẦN THỨ NHẤT: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài :
Ở bất kỳ đất nước nào, những đổi mới mang tính cải cách trong giáo dục đều
bắt đầu từ việc xem xét điều chỉnh mục tiêu giáo dục với những kỳ vọng mới về
mẫu người học sinh có được sau quá trình giáo dục. Chính vì lý do trên, trong
những năm gần đây, cùng với việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa, Bộ Giáo
dục & Đào tạo đã triển khai nhiều hoạt động hỗ trợ giáo viên phổ thông đổi mới
phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá trong dạy học các môn học trong đó có
môn Ngữ văn. Những đổi mới này đã được xác định là trọng tâm của cuộc vận động
"Mỗi thầy cô giáo là tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo'' phong trào thi đua
“Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực'' đồng thời với việc thúc đẩy
nâng cao chất lượng mũi nhọn và chất lượng đại trà. Trước những yêu cầu của xã
hội, thời đại và sự phát triển của khoa học kỹ thuật, mục tiêu dạy học môn Ngữ văn
ngày nay không chỉ là cung cấp kiến thức kỹ năng nghe – nói - đọc - viết đơn thuần
mà qua đó phải góp phần cùng các môn học khác đào tạo ra những con người có
năng lực, hành động giải quyết những tình huống, vấn đề của đời sống xã hội.
Trong những năm qua , những thay đổi trong việc kiểm tra đánh giá học sinh đã góp
phần thúc đẩy được quá trình đổi mới phương pháp dạy học. Đánh giá học sinh là
công cụ quan trọng chủ yếu xây dựng năng lực nhận thức của người học để từ đó
điều chỉnh quá trình dạy và học, là động lực để đổi mới phương pháp dạy học, góp
phần cải thiện nâng cao chất lượng đào tạo con người theo mục tiêu giáo dục. Đánh
giá kết quả học tập của học sinh là quá trình thu thập, xử lý kịp thời, có hệ thống
thông tin về hiện trạng nguyên nhân chất lượng, hiệu quả giáo dục, căn cứ vào mục
tiêu dạy học làm cơ sở cho những chủ trương biện pháp giáo dục tiếp theo. Kiểm tra
đánh giá đồng hành và có mối quan hệ chặt chẽ với các thành tố của qúa trình dạy

đổi mới về nội dung - phương pháp dạy mà không đổi mới kiểm tra đánh giá thì
cũng vô nghĩa bởi không thẩm định được thực chất kiến thức học sinh và bản thân
học sinh cũng không phát huy được khả năng sáng tạo. Có một thời trước cải cách
giáo dục, đề thi và kiểm tra gần như hoàn toàn nghiêng về những câu hỏi có lệnh
dạng công thức của dạng đề nghị luận văn học. Cách kiểm tra đánh giá này dễ tạo ra
một dạng đường mòn cho văn mẫu xuất hiện, học sinh tìm đọc thuộc lòng để rồi sao
chép làm mất đi tính sáng tạo vốn rất cần thiết với người học sinh. Chính nhà văn
Nam Cao cũng đã có một tuyên ngôn nghệ thuật nổi tiếng “Văn chương không cần
những người thợ khéo tay” và tối kỵ nhất trong văn chương chính là việc “Thấy
người ta ăn khoai cũng vác mai đi đào”. Tôi được biết có rất nhiều thầy cô hiện nay
(kể cả các thầy cô dạy trường chuyên nổi tiếng của tỉnh) dạy học sinh theo dạng đọc
văn mẫu (mang thương hiệu của thầy cô đó) rồi bắt học sinh học thuộc bằng mọi
cách. Phương pháp dạy này có một hiệu quả “tích cực” (nghĩa là như mong muốn
của các thầy cô) nếu học sinh chịu học thuộc lòng - điểm sẽ khá cao nhưng cũng
chính các học sinh đó nếu cho dạng đề khác dạng đã học thì lúng túng không biết
làm thế nào. Thật không biết nên khóc hay cười khi một giáo viên ở trường A khi
chấm bài lại phát hiện ra đúng số học sinh học với cô giáo X tại trường B do các bài
đó giống nhau y đúc từ mở bài đến kết bài dù giáo viên coi thi rất ngặt nghèo. Cách
ra đề và dạy như thế đã tạo nên những nhân bản cừu Dolly vô hồn, không chính
kiến. Đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh theo chương trình cải
cách giáo dục đã có nhiều khác biệt so với trước như kiểu kiểm trắc nghiệm khách
quan và các bài kiểm tra thực hành vận dụng. Quá trình đổi mới này đã luyện cho
học sinh bớt đi tính thụ động, khuyến khích sự sáng tạo của học sinh bởi việc đổi
mới kiểm tra đánh giá hiện nay phải theo các tiêu chí: phạm vi kiến thức phải toàn
diện, số câu hỏi cần phải bao quát được phạm vi kiểm tra. Mức độ kiểm tra phải theo
chuẩn kiến thức và không nằm ngoài chương trình.
Đổi mới kiểm tra môn Ngữ văn THCS mà cụ thể là đổi mới kiểm tra đánh giá
khả năng làm bài văn nghị luận là kiểu văn bản quan trọng bậc nhất ở năm cuối cấp
THCS và toàn cấp THPT. Đây là kiểu loại văn bản được cho là cơ bản nhất sẽ đi theo
các em trong suốt quá trình học tập và làm việc sau này dù các em có ở môi trưòng làm

chương ngày càng bị xem nhẹ, học sinh chỉ học qua loa để đối phó tránh điểm liệt khi
thi tốt nghiệp THPT và đạt điểm số tối thiểu trong quá trình học. Thế nhưng có một
điều mà ai cũng nhận ra đó là người học văn tốt bao giờ cũng có những kỹ năng sống
vững vàng, có khả năng làm chủ tình huống, có độ nhanh nhạy nhất định trước những
biến động mang tính xã hội, có năng lực nhóm, năng lực lãnh đạo... Để nâng cao chất
lượng môn văn mà cụ thể để kiểm tra đánh giá đúng thực chất việc tạo lập văn bản
nghị luận góp phần nâng cao kỹ năng làm văn nghị luận cho học sinh thì việc đầu tiên
ta phải xem xét thực trạng của toàn bộ chương trình. Đó là kết hợp giữa lý luận văn
học trong dạy học và kiểm tra đánh giá khả năng làm bài văn nghị luận ở học sinh lớp
9 THCS.
1.1. Cơ sở lí luận: Kiến thức lý luận là những qui luật hình thành, phát sinh và
phát triển của văn học trong đời sống xã hội, là những đặc điểm cơ bản của hình tượng
văn học ... được các nhà lý luận tổng kết từ thành tựu của văn học nhân loại từ xưa đến
nay. Nắm được các kiến thức cơ bản của lý luận văn học là một cơ sở vững chắc để
5


cảm thụ các tác phẩm văn học và trên cơ sở đó người học văn có thể đạt được những
kết quả tốt trong quá trình học tập. Bên cạnh nắm chắc các kiến thức về tác giả, tác
phẩm, phương pháp làm bài văn nghị luận cả xã hội và văn học thì giáo viên cần
tích cực cho học sinh làm đề, vận dụng kiến thức lý luận để giải quyết phần lý
thuyết, hiểu sâu sắc hơn những luận điểm các em đã học.
Phần tập làm văn Nghị luận lớp 9 có tính tích hợp đồng tâm từ lớp 7 và lớp 8.
Lớp 7 : - Tìm hiểu chung về văn nghị luận.
- Các kiểu nghị luận: chứng minh, giải thích.
Lớp 8 : + Ôn tập, luyện tập về luận điểm.
+ Biểu cảm trong văn nghị luận.
+ Miêu tả và tự sự trong văn nghị luận.
Lớp 9: Nghị luận về vấn đề xã hội, Nghị luận về vấn đề văn học.
Yêu cầu chủ yếu của tập làm văn là củng cố tri thức và kỹ năng đã được học ở

1.2: Thực trạng:
6


Thực trạng chung: Những năm gần đây việc dạy và học ngữ văn đã và đang
thành điểm nóng ngày càng thu hút sự quan tâm của toàn xã hội. Dư luận và cả trên
thực tế cho thấy rằng học sinh hiện nay không thích học văn. trong trường THCS
vẫn tồn tại tình trạng một số học sinh học theo kiểu đối phó, lười đọc, lười suy nghĩ,
ngại viết và xem nhẹ kỹ năng diễn đạt. Có thể nói việc học sinh ngại học môn văn
có nhiều lý do trong đó lý do khá quan trọng là do tác động xã hội về việc lựa chọn
ngành nghề vì các ngành khối A, B có nhiều lựa chọn mang tính thời thượng hơn
hẳn các ngành học khối C, D. Như tôi được biết các trường THPT hiện nay số học
sinh theo học ban xã hội hiện nay rất ít. Cụ thể như trường THPT Hàm Rồng, TP
Thanh Hoá nhiều năm liền chỉ có 1 hoặc 2 lớp chuyên KHXH trên tổng số 12 lớp
và cũng chỉ có chục bộ hồ sơ thi vào các trường đại học chuyên ngành xã hội thi
khối C trên gần 600 bộ hồ sơ thi đại học năm học 2013 - 2014. Bên cạnh đó trong
thời đại mà công nghệ số phát triển văn hoá nghe nhìn hiện nay phát triển quá
nhanh lấn át hẳn văn hoá đọc – viết khiến học sinh và cả phụ huynh đều xem nhẹ
môn học này. Chất lượng dạy học phân môn tập làm văn của bộ môn ngữ văn thể
hiện ở chỗ học sinh nắm chắc các đặc trưng kiểu loại, kiến thức cơ bản về các tác
phẩm văn học; kiến thức xã hội đang là những vấn đề nóng hổi, những tư tưởng,
đạo đức, lối sống đáng quan tâm và kỹ năng làm bài để xác lập những tư tưởng,
quan niệm, đạo đức, lối sống, thái độ đúng đắn cho các em. Với môn ngữ văn để
đáp ứng những mục tiêu bộ môn, KTĐG cũng phải theo hướng phát huy tính tích
cực của học sinh nhằm phát triển trí thông minh, sáng tạo của học sinh; khuyến
khích vận dụng linh hoạt kiến thức, kỹ năng đã học vào những tình huống thực tế,
làm bộc lộ những cảm xúc, thái độ của học sinh trước những vấn đề được đặt ra
trọng cuộc sống. Đặc biệt với việc kiểm tra kết quả tạo lập kiểu văn bản nghị luận
theo hướng tích cực – tích hợp theo chuẩn kiến thức – kỹ năng nghĩa là theo những
tiêu chí có thể đánh giá cụ thể, đo đếm được, phù hợp với năng lực học tập Ngữ văn

điểm của bài víêt nhằm động viên khuyến khích hoặc nhắc nhở các em rút kinh
nghiệm cho những bài kiểm tra sau. Tôi được biết hầu hết tất cả các giáo viên dạy
Ngữ văn cấp THCS đều ngại dạy chương trrình lớp 7 vì đây là khối học vỡ lòng của
kiểu văn bản nghị luận, học sinh còn non trong nhận thức và lý lẽ, vốn sống quá ít
để có thể thực hành vào bài viết. Lên lớp 9 các em đã bắt đầu định hình về kiểu bài
nhưng thói quen học và làm bài hời hợt vẫn còn tồn tại trong một bộ phận không
nhỏ học sinh.
Về đổi mới phương pháp dạy văn, Bộ Giáo dục đã đưa ra một số phương pháp
đặc thù với việc đa dạng cấu trúc câu hỏi như phát hiện, giảng, bình trong văn bản
để các em có sự thẩm thấu và suy nghĩ về tác phẩm sâu sắc hơn trong quá trình tạo
lập kiểu văn bản nghị luận văn học. Bên cạnh đó, giáo viên cũng cần phải lưu ý
nhiều hơn trong việc đa dạng hoá, hấp dẫn hoá các buổi học lý thuyết về nghị luận
xã hội để học sinh có nhận thức sâu sắc, toàn diện và biện chứng hơn trước những
vấn đề thuộc phạm trù sự việc hiện tượng đời sống và tư tưởng đạo lý nhằm xác lập
chính quan điểm, đạo đức lối sống cho mình và những người xung quanh. Để đổi
mới kiểm tra đánh giá tập làm văn trước hết phải đôỉ mới cách dạy và ngay cả trong
cách chấm, phê và lời phê của giáo viên. Có không ít giáo viên chấm bài cho học
sinh theo kiểu nhìn tên nghi đỉêm sau khi đã chấm kỹ một vài bài đầu năm. Đối với
người dạy thì đây là một cách dạy phản giáo dục, thiếu nhân văn còn với người học
thì tạo cho các em một thói quen dạng mặc định rằng chẳng cần cố lắm cũng vẫn
được từng ấy điểm hoặc có cố thế chứ cố gắng nữa điểm cũng chỉ có thế để rồi cuối
cùng giờ học văn là giờ chán ngắt, bài kiểm tra là buổi thực hiện nghĩa vụ theo yêu
cầu tất nhiên và chất lượng học chắc chắn cũng vì thế mà đi xuống. Mặc dù đã có
nhiều cố gắng nhưng nhìn chung giáo viên vẫn còn tồn tại một số điểm hạn chế chủ
yếu do tư duy cũ đã ăn sâu bén rễ nên rất khó thay đổi hoặc thay đổi chậm. Ví dụ
như thói quen áp đặt, giáo viên ép học sinh hiểu cảm thụ tác phẩm văn chương, lý
giải vấn đề theo cách hiểu, cảm thụ và lý giải của giáo viên. Trong các bài kiểm tra,
nhất là phần tự luận, nếu
học sinh cảm nhận, phân tích theo ý cô thì bị phê phán, chê trách thành ra để lâu các
em sẽ hình thành thói quen học văn mẫu “cho nó lành ’’. Thêm vào đó giáo viên

học tập môn văn ở năm học trước cụ thể như sau:
Số liệu khảo sát chất lượng đầu năm học 2013-2014
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
TB trở lên
số SL % SL % SL % SL % SL % SL %

Lớp Sĩ

9A

30

1

3.3

6

9B

31

2

6.4


2. Những giải pháp:
Từ góc nhìn thực tiễn của giáo dục hiện đại chúng ta thấy rất rõ năng lực tiếp
thu của học sinh không đơn thuần đồng nhất với trình độ học lực mà là một phẩm
chất có tính tổng hợp nhiều yếu tố: nó là kiến thức, là tâm hồn, là lối sống. Có đánh
giá đúng năng lực học sinh, năng lực chung cũng như năng lực từng cá thể GV mới
có thể đề xuất được những yêu cầu vừa sức. Muốn như vậy việc kiểm tra đánh giá
phải mang một tầm mới vượt qua cái lối mòn hiện nay.
Vậy làm thế nào để khắc phục những khó khăn trên? Suốt 18 năm trăn trở,
tìm tòi tôi đã tìm ra một số giải pháp về dạy Tập làm văn theo phương pháp đi từ
góc độ Lý luận văn học kết hợp với kiểm tra đánh giá theo dạng cuốn chiếu bởi
tôi quan niệm LLVH giống như nền móng của một ngôi nhà, không thể xây dựng
9


mà không có nền móng. Vậy để học sinh có thể hiểu bản chất của kiến thức không
gì bằng việc đi từ ôn tập – kiểm tra - ôn tập nâng cao cấp độ để rồi thành quả cuối
cùng chính là tạo lập một văn bản đúng đặc trưng. Theo quan điểm cá nhân, tôi chủ
trương dạy học sinh theo phương pháp hướng dẫn chứ không chọn phương pháp
“Cầm tay viết chữ”. Tôi cho rằng cho các em một chiếc cần câu tốt hơn nhiều so với
cho các em một nồi cá. Sau thời gian dạy theo phương pháp này, điều tra kết quả
học sinh sau các kỳ thi tuyển sinh tôi nhận thấy rất hiệu quả. Trừ những em thực sự
bị thiểu năng trí tuệ thì số còn lại các em có tâm lý thi cử rất tốt vì đủ tự tin và kết
quả ở những em trí tuệ bình thường đạt điểm trung bình trở lên là 100% trong đó số
học sinh đạt điểm khá giỏi đạt tới 45%. Có một kết quả mà tôi vô cùng phấn khởi đó là các em hoàn toàn tự tin khi bước vào các kỳ thi mà không nghĩ tới sự hỗ trợ
của tài liệu. Và sau đây là những giải pháp cụ thể:
2.1 Những giải pháp chung:
2.1.1 : Cho học sinh nắm được thời gian và kết cấu chương trình.
Học sinh được học văn nghị luận ở lớp 7 là 15 tiết và 11 tiết ở lớp 9. Nội dung
của các bài học chỉ rõ đặc trưng của bài văn nghị luận là nêu ý kiến, trình bày lý lẽ,
ba yếu tố của văn nghị luận là luận điểm, luận cứ và lập luận. Chương trình chú

sinh được nâng cao hơn. Cách xây dựng chương trình đảm bảo tính hợp lý, vừa có
sức khái quát, vừa phong phú đa dạng phù hợp với nguyên tắc vừa sức cho học
sinh. Các tiết Tập làm văn nghị luận theo trình tự: Xây dựng bài qua thực hành, thực
hành nhận biết và thực hành tạo lập văn bản. Sách giáo khoa chú trọng cả lý thuyết
và thực hành. Phần tìm hiểu có nhiều câu hỏi tình huống, phần luyện tập có phần
10


đọc thêm với mục đích cung cấp kiến thức bổ trợ. Đúc kết kiến thức có phần ghi
nhớ. Sách tham khảo cơ bản nhất là sách giáo viên, được biên soạn sát với sách giáo
khoa. Sách có phần lưu ý và phần hướng dẫn cụ thể về phương pháp rất thuận lợi
cho việc giáo viên tham khảo. Sách tham khảo cho học sinh khá phong phú gồm:
các loại sách văn mẫu. Các sách này có giá trị nhưng cũng có phần phức tạp vì có
nhiều cách trình bày mang tính cá nhân.
2.1.3.Về phía giáo viên :
Các thầy cô giáo đã thực hiện nghiêm túc quy định, nề nếp về chuyên môn,
giảng dạy nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao. Đặc biệt những người có tâm
huyết với nghề nghiệp đã tìm tòi phương pháp mới để truyền đạt kiến thức cho học
sinh có hiệu quả. Đặc biệt tất cả các giáo viên đã được tập huấn thay sách, đã áp
dụng phương pháp dạy mới vào chương trình.Tuy nhiên vẫn còn có hiện tượng do
không đủ thời gian nên chưa giúp học sinh nắm vững kiến thức nghị luận và vận
dụng kiến thức.Việc giáo viên chấm bài và trả bài cho học sinh chưa chi tiết, khoa
học. Các tiết học văn bản và Tiếng Việt chưa có sự tác động thích đáng cho Tập
làm văn. Quá trình dự giờ, thao giảng để rút kinh nghiệm đối với tiết Tập làm văn
còn hạn chế. Bởi vì phần lớn giáo viên có tâm lý chung là ngại dạy và dự giờ giảng
dạy tiết Tập làm văn.
2.1.4 Về phía học sinh :
Rất ít học sinh say mê học văn. Số học sinh giỏi văn thực sự rất hiếm. Học
sinh không biết phương pháp học do không tìm hiểu và vận dụng lý thuyết để làm
văn.Thậm chí có những em không sử dụng đến sách giáo khoa. Học sinh cũng

tượng, khó hiểu đối với học sinh. Trong một tiết học, phần luyện tập quá ít thời
gian. Hơn nữa giáo viên không nhắc lại kiến thức để củng cố cho học sinh. Việc ra
đề kiểm tra nhiều khi cũng chưa đúng mức, thường là yêu cầu quá cao, hoặc vấn đề
quá quen thuộc Việc chấm bài cũng có thiếu sót, thường là giáo viên chỉ cho học
sinh mức điểm trung bình. Có những bài chỉ chấm điểm mà không có một lời phê
nào. Một tiết trả bài làm văn chưa được đầu tư cao.Vì thế học sinh không có nhiều
cơ hội rút kinh nghiệm.
2.1.7 Cách học của học sinh:
Phần lớn học sinh chưa có thói quen chuẩn bị bài trước khi lên lớp. Các sự
kiện, hiện tượng văn học được cung cấp ở lớp, học sinh chưa chịu khó tìm hiểu
thêm để mở rộng kiến thức. Đối với môn Tập làm văn, học sinh học tập một cách
máy móc.Trước một đề bài, các em ít khi nghiên cứu đề, chỉ đọc loáng thoáng và
cứ thế học sinh phóng bút viết tràng giang đại hải, không chốt lại ở một điểm nào.
Nhiều bài làm văn chưa đạt yêu cầu do chưa biết cách viện dẫn, dẫn chứng nghèo
nàn, thiếu chính xác và không theo trình tự. Trong nghị luận văn học thì chưa có sự
phân biệt về thể loại. Các em thiếu năng lực phân tích cần thiết, chưa thấy được cái
hay, cái đẹp có thật trong văn chương do không chú ý trong giờ đọc hiểu văn bản.
Vì vậy khi làm văn phân tích chỉ là sự suy diễn một cách nôm na.
Còn nghị xã hội các em làm bài đại khái chung chung. Khi làm bài, học sinh
chưa có ý thức sắp xếp các luận cứ, luận điểm theo một trình tự nhất định. Đa số
bài làm văn thấp điểm còn do chưa biết cách chuyển đoạn chuyển ý. Và không làm
theo trình tự hướng dẫn các bước: Tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý .
2.2.Những giải pháp cụ thể :
2.2.1 - Kiểm tra lý thuyết dưới hình thức tự luận ngắn:
Chương trình ngữ văn 9 mỗi học kì có 6 điểm kiểm tra thường xuyên, biên
chế theo mô hình 1-2-3. Cụ thể là: kiểm tra miệng đọc hiểu văn bản (1), tiếng Việt
với hình thức trắc nghiệm (2), tập làm văn với hình thức tự luận 15 phút (3).
Vídụ: Đề kiểm tra tự luận 15'- Chú trọng tái hiện kiến thức lí thuyết phần lý luận
văn học
Câu 1: Đặc điểm chức năng của văn bản nghị luận?

học sinh tất cả các lớp đều rất khả quan, các em rất hứng thú học.
VD:
Đề 1: Có người nói: “Hạnh phúc nhất là người cho chứ không phải người nhận”.
Em nghĩ như thế nào về ý kiến này?
Đề 2: Suy nghĩ của em về bạo lực học đường trong thời điểm hiện tại?
Đề 3: Giữa một vùng sỏi đá khô cằn, có những loài cây vẫn mọc lên và nở những
chùm hoa thật đẹp.
Viết một văn bản nghị luận không quá 400 từ nêu suy nghĩ của em được gợi
lên từ hiện tượng trên.
Với dạng đề nghị luận văn học: đa dạng hoá đề từ phân tích nhân vật đến
phân tích có so sánh theo hệ thống nhân vật cùng chủ đề; phân tích tác phẩm với
các thao tác so sánh tác phẩm này với tác phẩm khác cùng đề tài; từ nghệ thuật đến
đánh giá thành công về tư tưởng; từ các dạng đề có nhận định yêu cầu chứng minh
tính đúng đắn của nhận định đến phân tích, bình giá một chi tiết đặc sắc trong tác
phẩm.
VD-Đề kiểm tra tự luận 45':
Đề 1: Từ đặc trưng của hai kiểu nghị luận sau, em hãy lập dàn ý đại cương cho 2 đề
kiểm tra:
1. Vẻ đẹp của bài thơ Sang thu của nhà thơ Hữu Thỉnh
2. Phẩm chất và số phận người phụ nữ Việt nam thời phong kiến trong truyện
Người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ
Nghị luận về tác phẩm truyện(đoạn trích)
-Trình bày nhận xét, đánh giá về nhân vật,
sự kiện ,chủ đề và nghệ thuật của một tác
phẩm cụ thể.

Nghị luận về một đoạn thơ (bài thơ)
-Trình bày nhận xét, đánh giá về nội
dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn
thơ ấy.

thể hiện rõ nhất khi ngồi trước bài văn của học sinh với cây bút đỏ trên tay.
* Trả bài: Thường được tiến hành theo trình tự:
- Chép đề .
- Tìm hiểu đề.
- Hướng dẫn học sinh xây dựng dàn ý (Đáp án)
- Nhận xét ưu khuyết điểm trong bài làm của học sinh.
- Phân tích và sửa chữa lỗi về bố cục, chính tả, ngữ pháp, cách trình bày luận
điểm.
Đây là khâu có vai trò quan trọng trong việc khắc sâu lý thuyết và kỹ năng
thực hành.
15


Giáo viên cần chú ý những lỗi phải sửa và phân phối thời gian cho các loại
lỗi.
- Trả bài và cho học sinh đọc các bài làm khá để biểu dương khích lệ.
Tuy thời gian một tiết trả bài là rất ngắn, nhưng giáo viên không nên quên sử
dụng biện pháp hỏi-đáp để học sinh chú ý tập trung hơn.
2.2.7 Cách học của học sinh :
Học sinh phải nắm vững lí thuyết văn nghị luận để thực hành viết bài tốt. Bên
cạnh đó học sinh phải có vốn kiến thức đầy đủ và chính xác. Bao gồm kiến thức
sách vở và kiến thức đời sống xã hội.
Kiến thức sách vở là bao gồm kiến thức về văn học, đạo đức và các môn khoa
học khác. Kiến thức về đời sống chính là vốn sống, vốn hiểu biết thực tế.
Muốn có hai lĩnh vực kiến thức đó học sinh phải tích cực, tự giác học tập.
Phải rèn luyện kỹ năng thực hành Tiếng Việt, nhằm mục đích để viết câu, dùng từ,
dựng đoạn cho chuẩn mực.
Học sinh phải vận dụng mọi thao tác của trí tuệ như: Phân tích, tổng hợp, liên
tưởng, so sánh, đối chiếu.Thao tác này dẫn người đọc đi từ ý này đến ý khác một
cách lôgíc.


khẳng định một ý kiến, làm sáng tỏ một vấn đề. Nhưng để viết được một bài văn
nghị luận hay thì cần phải suy nghĩ nhiều, tập viết nhiều theo hướng dẫn của giáo
viên.
Tóm lại muốn giỏi văn nghị luận, học sinh phải thực sự yêu thích môn văn.
Phải tha thiết yêu cuộc sống, yêu cái đẹp; phải biết vui buồn trước cuộc sống của
con người. Toán học là trụ cột của khoa học tự nhiên, văn học là trụ cột của khoa
học xã hội. Một khi đã học tốt toán, văn thì các môn khác chắc chắn sẽ học tốt.
Người học có quyết tâm và trải qua khổ luyện thì hiệu quả sẽ cao.
3. Kết quả đạt được:
Trong những năm qua nhờ sử dụng các giải pháp như trên tôi đã thu được kết
quả bước đầu như sau:
Lớ
p

Số liệu khảo sát chất lượng giữa học kì II năm học 2014-2015
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
TB trở lên
SL
SL
SL
SL
SL
%
%
%


3

9.6

12 38.7 15 48.5

1

3.2

0

0

30

96.8

- Học sinh giỏi các cấp hàng năm đều đạt theo chỉ tiêu đăng kí ở đầu năm học.
- Quan trọng hơn cả là học sinh nắm vững phương pháp làm văn nghị luận, các
em biết cách trình bày nhận xét, đánh giá về một vấn đề xã hội theo một phương
thức lập luận có sức thuyết phục.Và các em cũng đã biết cảm thụ tác phẩm văn
chương, cảm nhận được giá trị nội dung tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm.
Sáng kiến này đã được báo cáo trước tổ chuyên môn và được chị em trong tổ
thực hiện đạt kết quả tốt.
Phần thứ ba: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ
1. Kết luận :
Nâng cao chất lượng dạy và học nói chung, Tập làm văn nghị luận nói riêng
đang là mối quan tâm của nhiều người. Làm sao để học sinh học tốt văn nghị luận

Học sinh tiến đến một bước cao hơn là tự xây dựng cho mình một bút pháp,
một phong cách riêng. Giáo viên phải hướng dẫn học sinh học Tập làm văn kết
hợp với văn bản và Tiếng Việt. Kiến thức trong sách giáo khoa là cơ sở, nó được cô
đọng trong phần ghi nhớ. Học sinh cần phải được bồi bổ thêm bằng kiến thức đời
sống và kiến thức tiếp nhận được qua tích luỹ. Học sinh khi viết văn phải có cảm
giác về câu văn chuẩn và hay.
Bên cạnh đó,sự đổi mới phương pháp còn đòi hỏi người giáo viên phải có trách
nhiệm, có tâm huyết để làm cho giờ dạy ngày càng hấp dẫn thu hút học sinh và để
cho mỗi giờ kiểm tra là mỗi lần các em được thể hiện hết mình năng lực bản thân .
2. Đề xuất kiến nghị : Để rút kinh nghiệm và nâng cao phương pháp giảng
dạy, Tổ chuyên môn cũng cần thường xuyên dự giờ, thao giảng các tiết Tập làm
văn nghị luận.Các nhà trường nên xây dựng một ngân hàng đề kiểm tra có sự đóng
góp của anh chị em để tiện cho việc đồng bộ giữa các lớp trong tổ bộ môn.
Không có một kinh nghiệm nào là duy nhất có thể chung cho mọi người.
Không có một phép lạ dễ dàng nào để đi đến sự thành công. Tất cả các giáo viên
Ngữ văn đều đã và đang dạy học một cách say sưa, kiên trì. Với những suy nghĩ
trong đề tài này, người viết muốn trao đổi cùng đồng nghiệp để nhằm học hỏi và
nâng cao trình độ chuyên môn của mình. Vì vậy kính mong các cấp chỉ đạo và đồng
nghiệp vui lòng đóng góp ý kiến để kinh nghiệm được hoàn thiện hơn.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU

Thanh Hóa, ngày 16 tháng 4

TRƯỞNG

năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là
sáng kiến kinh nghiệm của mình
viết, không sao chép nội dung
18


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status