TRƯỜNG THPT TRƯỜNG XUÂN
Bộ môn: Tiếng Anh
Giáo viên: Lê Xuân Hồ
BÀI THAM LUẬN VỀ ðỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC VÀ
KIỂM TRA ðÁNH GIÁ
ðỀ TÀI: THÔNG QUA ðỀ KIỂM TRA ðỂ PHÁT HUY Ý NGHĨA CỦA VIỆC
HỌC GIỜ HỌC SPEAKING CỦA MÔN TIẾNG ANH.
I. MỘT SỐ VẤN ðỀ VỀ THỰC TRẠNG VIỆC HỌC VÀ KIỂM TRA KĨ NĂNG
SPEAKING CỦA HỌC SINH PHỔ THÔNG:
1.1 Tình hình kiểm tra kĩ năng Speaking:
Một kì thi hoặc kiểm tra kĩ năng Speaking toàn diện, ñúng nghĩa theo các hệ thống
kiểm tra quốc tế như TOEFL, IELTS hay TOEIC ñều ñược tổ chức ở hình thức thi vấn ñáp
(Oral test). Do nhiều khó khăn trong khâu quản lý (ñiều kiện cớ sở vật chất cũng như trang
thiết bị, phòng ốc, số lượng HS, ñội ngũ giáo viên phục vụ cho việc kiểm tra, thời gian ñầu
tư cho giảng dạy ñối với bộ môn…) nên hầu hết các trường trong cả nước ñều bỏ qua khâu
kiểm tra kĩ năng nói theo ñúng yêu cầu thật sự của khâu tổ chức cũng như nội dung cần
kiểm tra ñối với kĩ năng này. Ngay cả kì thi TN THPT của bộ giáo dục cũng chưa kiểm tra
kĩ năng này một cách toàn diện ñược. Các nội dung kiểm tra kĩ năng nói trong các ñề thi chủ
yếu tập trung vào các dạng ñối thoại cơ bản có thể chuyển sang dạng ñọc\viết trả lời trắc
nghiệm nên khả năng kiểm tra kĩ năng này cũng rất hạn chế. Nhiều nội dung, chủ ñiểm
Speaking không dễ ñưa ra dạng câu hỏi trắc nghiệm khách quan (bốn lựa chọn) theo cấu
trúc dạng ñề này.
1.2 Thực trạng chung về việc học Speaking:
Do một số nguyên nhân nhất ñịnh nên việc rèn luyện kĩ năng speaking chưa thật sự
ñược chú trọng.
+ Nhiều HS vốn từ căn bản quá hạn chế, không ñọc ñược tiếng Anh, không nắm ñược cách
ðối với tất cả các chủ ñiểm Speaking trong chương trình giảng dạy, chúng ta cần cố
gắng tích cực chuyển thể các nội dung chính sang dạng trắc nghiệm khách quan trong ñề
kiểm tra sao cho vừa ñảm bảo tính khoa học vừa ñảm bảo tinh thần ñộng viên các em rèn
luyện kĩ năng này. Có những chủ ñề tương ñối dễ ra ñề trắc nghiệm, bên cạnh ñó cũng có
các chủ ñề tương ñối khó.
+ Nhiều chủ ñề Speaking dễ chế biến thành dạng ñề trắc nghiệm chủ yếu tập trung ở các chủ
ñiểm chào hỏi thông dụng hàng ngày, hỏi ñường, khoảng cách, hỏi về nghề nghiệp, về mô tả
hình dáng bề ngoài, tính cách, lời cảm ơn, chúc mừng … phân bố rãi rác ở các chủ ñiểm
speaking trong các chương trình tiếng Anh 6, 7, 8, 9, 10.
Ví dụ:
_What does your mother do? _She is a nurse.”
_ What does she look like? _ She is small and has long black hair.
_ How far is it from your house to the post office? _It’s about 4 km.
_ Thank you very much, Nga. _ You are welcome.
+ ðối với các ñoạn hội thoại hoặc ñối thoại dài ví dụ như tình huống sử dụng dịch vụ nào ñó
trong cuộc sống hàng ngày chúng ta có thể lấy một phần nội dung rèn luyện ñể ra ñề trắc
nghiệm.
Ví dụ: (tiếng Anh 11)
_ How much is it/the charge? (How much does it cost?) _ (It is ) 5000 dong.
_ Thank you very much. _ You are welcome.
+ ðối với các chủ ñiểm khó như thể hiện ý kiến, nhận xét, quan ñiểm về những vấn ñề gì ñó
chúng ta có thể kết hợp vài chủ ñiểm vào một câu trắc nghiệm.
Ví dụ: (tiếng Anh 11)
Mary: “_____________”
Lan: I think it’s great. It’s good place and environment to practise English and improve
our language skills.
A. What do you think of the English Speaking Club?
B. What should we do to help disadvantaged students?
C. What are you doing here, Lan?
D. Do you feel like speaking English to foreigners, Lan?
Ví dụ:
Bài tập Speaking của UNIT 4: SCHOOL EDUCATION SYSTEM
Match the questions to the corresponding answers
Questions Answers
1.
How long
does primary education
in Việt Nam
last
?
2. When will students sit for their
GCSE Exam?
3. How many terms are there in an
academic year in Britain?
4. How far is it from your house to
school?
5. How long does it take you to get to
school?
6. How do you get to school?
7. How does Peter go to school?
8. How often do you go to the library?
A_ 3 terms.
I_ On foot. I walk to school every
morning.
J_ By bus. He takes a bus to
school.
K_ I’m fine. Thanks Trong phần Speaking trên của SGK lớp 12, chưng trình chỉ cho các em rèn luyện hỏi
ñáp một số câu hỏi nhất ñịnh tập trung vào các WH question-words như HOW LONG,
WHEN, HOW MANY terms… Tuy nhiên chúng ta cần hướng dẫn các em ôn tập thêm
những từ câu hỏi WH khác có mức ñộ xuất hiện khá thường xuyên trong các ñề thi như
HOW FAR, HOW OFTEN, HOW… nhằm ñảm bảo tính vừa ña dạng vừa có hệ thống.
III. KẾT LUẬN:
Việc giảng dạy kĩ năng speaking cho ñối tượng HS phần nhiều không có vốn từ vựng
căn bản và không quen luyện nói là việc cực kì khó khăn. Tuỳ tình hình và khả năng của ñối
tượng học sinh mà ta có yêu cầu phù hợp ở kĩ năng này. Nếu khả năng các em không thể nói
ñảm bảo ñược theo yêu cầu thì nên cho các em tập nói những câu ngắn, cấu trúc ñơn giản.
Tuy nhiên, những cấu trúc các em thực hành ít nhiều cũng cần tập trung vào những chức
năng ngôn ngữ hay mà các em thường gặp trong giao tiếp có gắn với chủ ñiểm các em ñang
học ñể giúp các em làm tốt hơn các bài tập có liên quan ñến kĩ năng này.