LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Biện pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà
nước đối với hoạt động du lịch tại huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng” là
công trình nghiên cứu thực sự do cá nhân thực hiện với sự hướng dẫn khoa học của
PGS, TS Nguyễn Hồng Vân - Trưởng khoa Kinh tế - Trường Đại học Hàng hải
Việt Nam.
Các số liệu, dữ liệu, thông tin được trình bày trong luận văn này là trung
thực, phản ánh đúng thực tiễn địa phương.
Tôi xin chịu trách nhiệm về kết quả nghiên cứu của mình.
Ngày 10 tháng 9 năm 2015
Tác giả
Lê Hồng Minh
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này tôi đã nhận được rất nhiều sự động viên,
giúp đỡ của các thầy, các nhà khoa học, nhà quản lý, các cá nhân để đề tài của tôi
được hoàn thiện.
Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới Viện đào tạo sau đại học của Trường
Đại học Hàng hải Việt Nam; các Thầy, Cô Chủ nhiệm lớp, các Thầy, Cô tham gia
giảng dạy lớp Cao học Quản lý Kinh tế (2013 - 2015) đã quan tâm, tạo điều kiện
và cung cấp những kiến thức rất hữu ích giúp tôi thực hiện nghiên cứu này.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô giáo PGS, TS Nguyễn Hồng Vân Trưởng khoa Kinh tế, Trường Đại học Hàng hải Việt Nam - Người trực tiếp hướng
dẫn khoa học hết sức tận tình, chu đáo đã giúp đỡ em trong quá trình lựa chọn,
nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm, tạo điều kiện của các đồng chí lãnh đạo
Huyện uỷ, Uỷ ban Nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng cùng các đồng
chí, đồng nghiệp và gia đình đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và
1.4.1. Môi trường pháp lý cho hoạt động du lịch ............................................14
1.4.2. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch..................................15
1.4.3. Tổ chức và quản lý công tác xúc tiến du lịch; hợp tác liên ngành, liên
vùng và quốc tế về du lịch ...........................................................................16
1.4.4. Tổ chức và quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân
lực du lịch ....................................................................................................18
1.4.5. Công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm
pháp luật về du lịch ......................................................................................19
1.5. Kinh nghiệm thực tiễn về quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ở một
số địa phương...............................................................................................20
iii
1.5.1. Kinh nghiệm của Quảng Ninh .............................................................20
1.5.2. Kinh nghiệm của Đồ Sơn ....................................................................21
1.5.3. Bài học kinh nghiệm huyện Cát Hải có thể nghiên cứu vận dụng trong
công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch ......................................22
Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động du
lịch tại huyện Cát Hải ...................................................................................25
2.1. Khái quát tình hình hoạt động du lịch tại huyện Cát Hải giai đoạn 20102014 ............................................................................................................25
2.1.1. Điều kiện, tiềm năng và thế mạnh của huyện Cát Hải tác động đến hoạt
động du lịch .................................................................................................25
2.1.2. Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch tại huyện Cát Hải giai đoạn 20102014 ............................................................................................................31
2.2. Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch tại
huyện Cát Hải giai đoạn 2010-2014 ..............................................................37
2.2.1. Đánh giá môi trường pháp lý cho sự phát triển của hoạt động du lịch ....37
2.2.2. Đánh giá thực trạng công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển du
lịch ..............................................................................................................44
2.2.3. Đánh giá công tác tổ chức và quản lý công tác xúc tiến du lịch; hợp tác
liên ngành, liên vùng và quốc tế về du lịch. ...................................................46
3.2.6. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động du lịch trên địa
bàn huyện ....................................................................................................80
Kết luận và kiến nghị....................................................................................83
Danh mục tài liệu tham khảo.........................................................................86
v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Giải thích
QLNN
Quản lý nhà nước
HĐDL
Hoạt động du lịch
KT - XH
Kinh tế - xã hội
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
CNH - HĐH
Xã hội chủ nghĩa
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số
bảng
Tên bảng
Trang
2.1
Hoạt động du lịch Cát Hải qua các năm
33
2.2
Phân đoạn các thị trường khách quốc tế tính đến tháng 8/2014
34
2.3
Cơ cấu khách nội địa giai đoạn 2010 – 2014
Cơ cấu kinh tế của huyện Cát Hải từ năm 2010 đến năm 2014
29
2.3
Số lượt khách du lịch giai đoạn 2010-2014
34
2.4
Tổ chức quản lý du lịch huyện Cát Hải
40
2.5
Doanh thu du lịch huyện Cát Hải giai đoạn 2010 - 2014
54
vii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước gần 30 năm qua và sau 10 năm thực
hiện Chiến lược phát triển du lịch giai đoạn 2001-2010, ngành du lịch đã có nhiều
thường xuyên, từng bước hoàn thiện. Do đó, du lịch thời gian qua đã có nhiều đóng
góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) của huyện.
Tuy nhiên, kết quả hoạt động du lịch đạt được chưa tương xứng vớ i tiềm
năng và lợi thế của huyện; QLNN đối với hoạt động này ở huyện Cát Hải còn
những hạn chế nhất định. Theo báo cáo tổng kết năm 2012 của Huyện ủy Cát Hải
“...công tác quản lý không theo kịp tốc độ phát triển; công tác quảng bá xúc tiến
thu hút khách còn nhiều bất cập, chưa quảng bá được hình ảnh một cách rộng
khắp để thu hút du khách, đặc biệt là khách quốc tế. Sản phẩm du lịch hầu hết khá
đơn điệu, trùng lắp; chất lượng các dịch vụ còn yếu, các điểm và tuyến du lịch đa
số chỉ mới được đầu tư mức nhỏ lẻ trên cơ sở khai thác các địa danh du lịch sẵn
có..doanh thu từ du lịch - dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế”[1, tr.9].
Để phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm tỷ trọng ngày
càng cao trong cơ cấu GDP, góp phần động lực phát triển KT-XH cho thành phố
nói chung, huyện đảo nói riêng, nâng cao lợi thế, phấn đấu thu hút lượng khách đạt
2 triệu lượt người vào năm 2020, công tác QLNN đối với HĐDL tại huyện Cát Hải
cần được đổi mới một cách toàn diện, để vừa đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH
của huyện, vừa góp phần tạo ra sự phát triển nhanh và bền vững của ngành du lịch
huyện đảo Cát Hải trong thời gian tới.
Chính vì những lý do trên, tôi đã chọn đề tài: “Biện pháp hoàn thiện công
tác quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch tại huyện Cát Hải, thành phố
Hải Phòng” cho luận văn thạc sỹ của mình nhằm góp phần giải quyết vấn đề thực
tiễn đặt ra.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng công tác
QLNN đối với HĐDL tại huyện Cát Hải, đề xuất được phương hướng và giải pháp
hoàn thiện QLNN đối với HĐDL tại đây, nhằm thúc đẩy ngành du lịch của huyện
2
3
huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Đồng thời, đề tài có sự kế thừa, tham khảo,
chọn lọc kết quả nghiên cứu của một số công trình khoa học có liên quan.
5. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
- Luận văn góp phầ n làm rõ thêm cơ sở lý luâ ̣n và thực tiễn về
công tác
QLNN đối với HĐDL; kinh nghiệm QLNN về du lịch của một số địa phương trong
nước. Trên cơ sở đó, đề ra những vấn đề nghiên cứu để hoàn thiện QLNN về du
lịch.
- Kế t quả nghiên cứu của luâ ̣n văn có thể sử dụng làm tài liê ̣u tham khảo cho
công tác xây dựng, thực hiện các kế hoạch nhằm nâng cao hiệu quả công tác
QLNN đối với HĐDL của huyện Cát Hải. Đồng thời, luận văn cũng cung cấp
những luận chứng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn có tính khoa học cho các đồng
chí làm công tác QLNN đối với HĐDL, các nhà lãnh đạo, quản lí cấp huyện, lãnh
đạo Huyện uỷ Cát Hải, Thành uỷ Hải Phòng tham khảo trong quá trình chỉ đạo,
tham mưu, triển khai, tổ chức thực hiện các vấn đề liên quan tới công tác QLNN
đối với HĐDL trong tình hình hiện nay.
6. Nội dung nghiên cứu
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài luận văn
có 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động du
lịch.
Chương 2: Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động
du lịch tại huyện Cát Hải.
Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác quản lý nhà nước đối với
hoạt động du lịch tại huyện Cát Hải.
- Du lịch là một hiện tượng kinh tế xã hội.
- Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của
5
các cá nhân hoặc tập thể nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của họ.
- Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằm
phục vụ cho các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác của cá nhân
hoặc tập thể khi họ ở ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ.
- Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều đồng
thời có một số mục đích nhất định, trong đó có mục đích hoà bình.
1.1.1.2. Khái niệm hoạt động du lịch
Trước đây, người ta chỉ quan niệm hoạt động du lịch là một hoạt động mang
tính chất văn hóa nhằm thỏa mãn nhu cầu giải trí và những nhu cầu hiểu biết của
con người, hoạt động du lịch không được coi là hoạt động kinh tế, không mang
tính chất kinh doanh và ít được đầu tư phát triển. Ngày nay, khi du lịch được nhiều
quốc gia trên thế giới xem là một ngành kinh tế quan trọng thì quan niệm về hoạt
động du lịch được hiểu một cách đầy đủ hơn.
Theo Luật Du lịch của Việt Nam (14/6/2005): "Hoạt động du lịch là hoạt
động của khách du lịch, tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch, cộng đồng dân cư và
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến du lịch" [38, tr.2].
Với cách tiếp cận này, hoạt động du lịch được nhìn nhận ở ba khía cạnh:
Thứ nhất, “hoạt động của khách du lịch” nghĩa là việc di chuyển và lưu trú tạm
thời của người đi du lịch đến một nơi ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ để
tham quan, nghỉ dưỡng, chữa bệnh, tìm hiểu lịch sử, văn hóa, nghệ thuật... Thứ hai,
“tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch”, tức là những người hoạt động tổ chức lưu
trú, phục vụ ăn uống, hướng dẫn tham quan, vận chuyển đưa đón du khách, kinh
doanh các hàng hóa, dịch vụ khác... nhằm mục tiêu lợi nhuận. Thứ ba, “cộng đồng
dân cư và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan”, tức là cơ quan nhà nước và các
trí, du lịch còn là một hình thức nghỉ dưỡng tích cực, nhằm tái tạo lại sức lao động
của con người.
Ba là, hoạt động cung ứng và tiêu dùng các sản phẩm du lịch xảy ra trong
cùng một thời gian và không gian.
Khác với các hàng hoá thông thường có quá trình sản xuất và tiêu dùng diễn
ra ở từng thời gian và địa điểm khác nhau, việc tiêu dùng các dịch vụ và một số
hàng hóa (sản phẩm, thức ăn, đồ uống...) xảy ra cùng một thời gian và địa điểm với
việc sản xuất ra chúng. Trong du lịch, người cung ứng không phải vận chuyển dịch
7
vụ và hàng hóa đến cho khách hàng, mà ngược lại, tự khách du lịch phải đi đến nơi
có dịch vụ, hàng hóa. Chính vì vậy, vai trò của việc thông tin, xúc tiến quảng bá du
lịch là hết sức quan trọng, đồng thời việc quản lý thị trường du lịch cũng cần có
những đặc thù riêng [31, tr.25].
Bốn là, đất nước và cá nhân, tổ chức thực hiện hoạt động du lịch được
hưởng những lợi ích thiết thực về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội..
Ngày nay trên thế giới, du lịch đang phát triển với tốc độ nhanh, trở thành
một hiện tượng phổ biến trong đời sống KT - XH của các quốc gia. Du lịch không
chỉ đem lại lợi ích thiết thực về kinh tế mà còn mang lại cả lợi ích về chính trị, văn
hóa, xã hội...Tuy nhiên, sự chi phối mạnh nhất đối với ngành du lịch vẫn là lợi ích
kinh tế. Vì vậy, nhiều nước đã đưa du lịch phát triển với tốc độ cao và trở thành
ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân. Hoạt động du lịch ngoài việc
thỏa mãn các nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch còn phải đảm bảo mang lại
lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cho quốc gia và cá nhân, tổ chức thực hiện
hoạt động du lịch.
Năm là, hoạt động du lịch chỉ phát triển trong môi trường hòa bình và ổn
định.
Hoạt động du lịch là lĩnh vực rất nhạy cảm với những vấn đề chính trị, xã
Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể
quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý. Việc tác động theo
cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau ,các lĩnh vực khác nhau
cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu.
1.2.2. Khái niệm quản lý nhà nước
Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy
chuyên thực hiện các chức năng quản lý nhằm duy trì trật tự xã hội và đem lại lợi
ích chung cho toàn xã hội. Nhà nước là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng của
xã hội, là sản phẩm của chế độ kinh tế nhất định. Tuy nhiên, nhà nước cũng tác
động mạnh mẽ đến cơ sở kinh tế, đến những điều kiện và quá trình phát triển của
sản xuất xã hội cũng như đến các hiện tượng xã hội khác. Do đó quản lý nhà nước
là một lĩnh vực công tác hết sức quan trọng, có tác động rất lớn đối với sự ổn định,
phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.
“Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực
9
Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy
trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những
chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ
tổ quốc xã hội chủ nghĩa” [26, tr.407]. Như vậy, Quản lý nhà nước bao gồm toàn
bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc
chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối
tượng quản lý cần thiết của Nhà nước. Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và
trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song có thể các tổ chức
chính trị - xã hội, đoàn thể và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước uỷ
quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật.
1.2.3. Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch
Hoạt động du lịch rất đa dạng và luôn đòi hỏi sự quản lý của Nhà nước để
trong nền kinh tế thị trường.
Xuất phát từ đặc trưng của nền kinh tế thị trường là tính phức tạp, năng động
và nhạy cảm. Vì vậy, HĐDL đòi hỏi phải có một chủ thể có tiềm lực về mọi mặt để
đứng ra tổ chức và điều hành, chủ thể ấy không ai khác chính là Nhà nước - vừa là
người quản lý, vừa là người tổ chức HĐDL. Nhà nước có vai trò rất lớn trong việc
tạo lập một môi trường thuận lợi, lành mạnh, rõ ràng, bình đẳng nhưng chặt chẽ
nhằm đảm bảo sự công bằng, quyền lợi chính đáng cho các chủ thể và khách thể
tham gia hoạt động du lịch.
Hai là, Nhà nước sử dụng nhiều công cụ khác nhau để tổ chức và quản lý
hoạt động du lịch.
Sự phát triển của du lịch đòi hỏi phải có những điều kiện nhất định, công tác
QLNN hoạt động du lịch có nhiệm vụ quan trọng là tạo ra và bảo đảm các điều
kiện đó. Trong nền kinh tế thị trường, HĐDL diễn ra hết sức phức tạp với sự đa
dạng về chủ thể, về hình thức tổ chức và quy mô hoạt động.... Do đó, để hoàn thành
sứ mệnh của mình, Nhà nước phải đề ra pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch,
kế hoạch,... và sử dụng các công cụ này để tổ chức và quản lý HĐDL.
Ba là, quản lý nhà nước đối với hoạt động du lịch đòi hỏi phải có một bộ
máy nhà nước mạnh, có hiệu lực, hiệu quả và một đội ngũ cán bộ quản lý nhà
nước có trình độ, năng lực thật sự.
Trong quá trình HĐDL thì bên cạnh những mặt tích cực còn có thể xuất hiện
11
những tiêu cực gây thiệt hại cho KT-XH, cho chính các chủ thể tham gia. Nhà
nước trên cơ sở nắm bắt những quy luật vận động khách quan của nền kinh tế, định
hướng cho HĐDL phát triển theo hướng tích cực, hạn chế tiêu cực để nhanh chóng
đạt được các mục tiêu đã đề ra. Để thực hiện tốt điều này thì tổ chức bộ máy và đội
ngũ cán bộ QLNN phải được tổ chức thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả từ Trung
ương đến địa phương.
khác. Để du lịch phát triển tốt, Nhà nước cần ban hành những quy định, quy chế
nhằm điều hòa lợi ích cũng như đảm bảo sự hỗ trợ phát triển giữa du lịch với các
ngành, lĩnh vực có liên quan. Nhà nước bằng việc tạo lập các cơ quan và hệ thống
tổ chức quản lý về du lịch, sử dụng bộ máy này để giải quyết hàng loạt các vấn đề
mang tính vĩ mô mà từng tập thể, cá nhân riêng biệt không đủ khả năng giải quyết.
Đồng thời sử dụng sức mạnh của bộ máy này để thực hiện những vấn đề thuộc về
quản lý nhà nước, nhằm đưa chính sách phù hợp về du lịch vào thực tiễn, biến quy
hoạch, kế hoạch thành hiện thực, tạo điều kiện cho du lịch phát triển. Đồng thời,
hình thành cơ chế phối hợp hữu hiệu giữa cơ quan QLNN về HĐDL với các cấp
trong hệ thống tổ chức quản lý du lịch từ trung ương đến địa phương.
Trong lĩnh vực du lịch quốc tế, chức năng này được thể hiện ở sự phối hợp
giữa các quốc gia có quan hệ song phương hoặc trong cùng một khối kinh tế,
thương mại du lịch trong nỗ lực nhằm đa dạng hóa đa phương thức quan hệ hợp tác
quốc tế trong du lịch, đạt tới các mục tiêu và đảm bảo thực hiện các cam kết đã ký
kết [48, tr.12].
Thứ ba, vai trò điều tiết các hoạt động du lịch và can thiệp thị trường:
Vai trò QLNN đối với HĐDL không nằm ngoài mục đích hỗ trợ và tạo điều
kiện cho du lịch phát triển nhanh và bền vững. Theo đó, Nhà nước sử dụng các
biện pháp can thiệp vào HĐDL nhằm tạo ra môi trường du lịch lành mạnh, phân bổ
nguồn lực một cách tối ưu, điều tiết các hoạt động du lịch cho phù hợp và thúc đẩy
phát triển KT-XH hài hòa với giá trị văn hóa truyền thống của một quốc gia, địa
phương. Để thực hiện điều đó, một mặt, Nhà nước hướng dẫn, kích thích các chủ
thể hoạt động theo định hướng đã vạch ra; mặt khác, Nhà nước can thiệp, điều tiết
thị trường khi cần thiết để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Trong HĐDL ở nước ta
hiện nay, một trong những vấn đề gây trở ngại lớn cho quá trình phát triển ngành là
13
cạnh tranh chưa bình đẳng, thiếu lành mạnh. Do vậy, Nhà nước phải có vai trò điều
dịch vụ du lịch, những dịch vụ nào được phép kinh doanh, quy định hệ thống tiêu
chuẩn chất lượng như: xếp hạng đối với khách sạn, tiêu chuẩn của khu du lịch,
tuyến du lịch, điểm du lịch quốc gia và địa phương, các văn bản quy phạm pháp
luật về khen thưởng và xử lý vi phạm quy định về du lịch, các văn bản liên quan
khác. Bên cạnh việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về du lịch nhà nước
cũng quan tâm đến việc chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện cho các cơ sở kinh
doanh du lịch.
b) Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các chính sách phát triển du lịch
Một trong những nội dung quan trọng của QLNN trong lĩnh vực du lịch là
thông qua sử dụng các chính sách để đạt được mục tiêu mà Nhà nước đã đề ra. Còn
đối với các doanh nghiệp thì các chính sách du lịch có vai trò định hướng cho sự
phát triển cũng như giúp họ trong việc lựa chọn các quyết định kinh doanh hợp lý
nhất. Do vậy hiệu quả của công tác QLNN về HĐDL thể hiện thông qua việc Nhà
nước quan tâm đến việc xây dựng, hoàn thiện các chính sách du lịch, đảm bảo sự
thống nhất, hấp dẫn, và tính khả thi cao nhằm đẩy mạnh sự phát triển của hoạt
động du lịch. Để làm được điều này thì hệ thống chính sách cần được ban hành cụ
thể, chi tiết tiêu chuẩn, điều kiện đối với các lĩnh vực trong hoạt động du lịch:
Phương tiện giao thông ở cả hai loại hình công cộng và tư nhân, lưu trú, ăn uống,
vui chơi giải trí, mua sắm…và nhiều lĩnh vực khác như: chính sách ưu đãi đầu tư,
hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng, miễn giảm tiền thuê đất, chính sách hỗ trợ phát
triển nguồn nhân lực du lịch… Bên cạnh đó, chính quyền các cấp cần thực hiện cải
cách hành chính ở địa phương theo hướng chuyên nghiệp và hiệu quả; thực hiện
mô hình một cửa trong đăng ký đầu tư, đăng ký kinh doanh...
1.4.2. Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch
Xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch là một trong những vấn đề
rất quan trọng đối với các cơ quan QLNN có thẩm quyền trong định hướng phát
triển du lịch, đồng thời cũng là một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả của
công tác QLNN đối với HĐDL.
tr.6]. Hơn lúc nào hết công tác xúc tiến du lịch càng trở lên rất quan trọng và cần
thiết. Hiệu quả của công tác quản lý Nhà nước về xúc tiến du lịch thể hiện qua
những nội dung sau:
16
Tuyên truyền, giới thiệu rộng rãi về đất nước, con người Việt Nam, danh
lam thắng cảnh, di tích lịch sử, di tích cách mạng, di sản văn hoá, công trình lao
động sáng tạo của con người, bản sắc văn hoá dân tộc cho nhân dân trong nước và
cộng đồng quốc tế. Nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, tạo môi trường du lịch
văn minh, lành mạnh, an toàn, phát huy truyền thống mến khách của dân tộc.
Huy động được các nguồn lực để đầu tư phát triển các đô thị du lịch, khu,
điểm du lịch đa dạng, độc đáo, có chất lượng cao, mang đậm sắc thái văn hoá dân
tộc trong cả nước, từng vùng và từng địa phương; phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở
vật chất kỹ thuật du lịch, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng các dịch vụ du lịch.
Thường xuyên nghiên cứu thị trường, xây dựng sản phẩm du lịch phù hợp
với thị hiếu khách du lịch; tuyên truyền, giới thiệu sản phẩm du lịch. Chú trọng
phát triển nguồn khách du lịch; tham gia các tổ chức du lịch quốc tế và khu vực;
hợp tác quốc tế trong phát triển nguồn nhân lực du lịch và hợp tác quốc tế trong
trao đổi chuyên gia, thông tin, kinh nghiệm phát triển du lịch; xây dựng và thực
hiện các dự án phát triển du lịch.
Đồng thời, nâng cao tính liên kết là một tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác
QLNN đối với HĐDL và cũng là điều kiện tất yếu để phát triển bền vững ngành du
lịch trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, bao gồm tính liên ngành, liên vùng và
quốc tế. Sự liên kết chặt chẽ hơn giữa các doanh nghiệp du lịch, liên kết giữa các
doanh nghiệp và cơ quan QLNN sẽ tạo nên một môi trường, cơ chế kinh doanh
thuận lợi, công bằng. Để đạt được điều này, một mặt, các cơ quan QLNN về du
lịch ở Trung ương và địa phương phải thống nhất và luôn giữ mối quan hệ chặt chẽ
với nhau trong việc tổ chức thực hiện pháp luật về du lịch; thực hiện nguyên tắc và
- Hai là, định hướng cơ cấu đào tạo hợp lý cho các nghề kinh doanh trong
du lịch: Nội dung này xuất phát từ đặc điểm của lao động trong ngành du lịch có
nhiều khác biệt so với các ngành nghề khác, mà cơ cấu đội ngũ lao động theo trình
độ đào tạo và các cấp trong hệ thống giáo dục và đào tạo lao động cho kinh doanh
du lịch cần phải được xác định rõ để đảm bảo tính hiệu quả kinh tế - xã hội của
hoạt động này. Việc xác định được cơ cấu đào tạo phù hợp sẽ tránh được sự mất
cân bằng cung cầu lao động trên thị trường, không gây lãng phí nguồn lực xã hội.
- Ba là, thống nhất chuẩn hóa, giám sát việc xây dựng chương trình đào tạo:
Việc quản lý tốt các cơ sở đào tạo xây dựng chương trình đào tạo hợp lý, phù hợp
18