Một số biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở các doanh nghiệp ngoài nhà nước thuộc liên đoàn lao động quận hồng bàng, thành phố hải phòng - Pdf 44

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Quá trình đổi mới đang đặt ra những yêu cầu cấp thiết, đòi hỏi phải không
ngừng hoàn thiện và tăng cường sức mạnh của hệ thống chính trị nước ta. Điều này
đòi hỏi các đoàn thể chính trị - xã hội, trong đó có tổ chức công đoàn, không ngừng
đổi mới tổ chức hoạt động, nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò của mình, góp phần
cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước.
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội
nhập quốc tế, Việt Nam tham gia nhiều hiệp định với các nước trên thê giới, giai cấp
công nhân Việt Nam đang có sự chuyển biến quan trọng, phát triển nhanh về số
lượng, đa dạng về cơ cấu và có sự phân hóa về trình độ, mức sống cũng như môi
trường, điều kiện làm việc. Tuy nhiên trong tình hình mới: với yêu cầu đòi hỏi của
sự nghiệp cách mạng, của tổ chức công đoàn; sự phát triển năng động, đa dạng các
loại hình doanh nghiệp, tính phức tạp của cơ chế thị trường, thì hiện tượng: Trình
độ, năng lực của một bộ phận cán bộ, nhất là cán bộ công đoàn không chuyên trách
ở cơ sở các doanh nghiệp có trình độ năng lực còn nhiều mặt hạn chế chưa theo kịp
với cơ chế quản lý kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở các doanh nghiệp trực thuộc Liên đoàn Lao
động quận Hồng Bàng, thành phố Hải phòng bên cạnh sự nhiệt tình và kinh
nghiệm hoạt động, vẫn còn nhiều hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, phương pháp
hoạt động công đoàn, công tác vận động quần chúng, hạn chế về hiểu biết chính
sách pháp luật. Vì vậy, việc nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở các doanh nghiệp ngoài nhà nước thuộc
Liên đoàn Lao động quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng là cần thiết, cấp bách
đối với Liên đoàn Lao động quận Hồng Bàng, góp phần thực hiện tốt các chính
sách pháp luật và đảm bảo hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ của đoàn viên, người
lao động tại các doanh nghiệp.
Do vậy, tác giả đã chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng đội
ngũ cán bộ công đoàn cơ sở các doanh nghiệp ngoài nhà nước thuộc Liên đoàn

công tác cán bộ, cán bộ công đoàn mang tính rất đặc thù riêng trong đó có cán bộ
công đoàn cơ sở các doanh nghiệp ngoài nhà nước, từ đó củng cố việc tuyên
truyền, phổ biến các quy định của pháp luật đến với đơn vị, cơ sở, doanh nghiệp,
người sử dụng lao động, người lao động, đoàn viên công đoàn được hiệu quả hơn.
Ý nghĩa thực tiễn:

2


Đánh giá thực trạng cán bộ CĐCS không chuyên trách thuộc Liên đoàn Lao
động quận Hồng Bàng để thấy được những khó khăn, bất cập, nguyên nhân ảnh
hưởng đến hoạt động công tác của cán bộ CĐCS các doanh nghiệp để đề xuất biện
pháp nâng cao chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ CĐCS trong các doanh
nghiệp trong thời gian tới.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận - kiến nghị, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Lý luận cơ bản về công đoàn, chất lượng cán bộ công đoàn cơ sở.
Chương 2: Thực trạng chất lượng đội ngũ cán bộ CĐCS và CĐCS các doanh nghiệp
ngoài nhà nước thuộc Liên đoàn Lao động quận Hồng Bàng giai đoạn 2011 - 2015.
Chương 3: Một số biện pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn
cơ sở các doanh nghiệp ngoài nhà nước thuộc Liên đoàn Lao động quận Hồng
Bàng.

3


CHƢƠNG 1
LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CÔNG ĐOÀN, CHẤT LƢỢNG
CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ
1.1. Những vấn đề chung về cán bộ công đoàn cơ sở

đoàn Việt Nam nói riêng.
Trong tác phẩm “Đường Kách mệnh”[5], Người viết: “Tổ chức Công hội
trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có tình cảm, hai là để nghiên cứu với
nhau, ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ, bốn là
để giữ gìn quyền lợi cho công nhân, năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế
giới”[5]. Có thể nói, trên bước đường đi tới chủ nghĩa Mác - Lênin và thành lập
các tổ chức cộng sản ở Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã quan tâm rất sớm
đến tổ chức quần chúng của giai cấp công nhân. Quá trình Người chuẩn bị về tư
tưởng và tổ chức cho sự thành lập một chính Đảng vô sản cũng là quá trình Người
xây dựng cơ sở lý luận và biện pháp tổ chức công đoàn cách mạng.
Năm 1925 đến 1928 nhiều Công hội bí mật đã hình thành do sự hoạt động
mạnh mẽ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đặc biệt từ năm 1928, khi kỳ
bộ Bắc kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên phát động phong trào Vô sản
hóa thì phong trào đấu tranh của công nhân Việt Nam ngày càng sôi nổi, thúc đẩy
sự phát triển của tổ chức Công hội lên một bước mới cả về hình thức lẫn nội dung
hoạt động[7].
Năm 1929 là thời điểm phong trào công nhân và hoạt động công hội ở nước
ta phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là ở miền Bắc các cuộc đấu tranh của công nhân nổ
ra liên tục ở nhiều xí nghiệp, có sự phối hợp chặt chẽ và thống nhất hành động giữa
các cuộc đấu tranh ở xí nghiệp này với xí nghiệp khác trong cùng một địa phương,
giữa địa phương này với địa phương khác. Sự phát triển của phong trào công nhân
và tổ chức Công đoàn đòi hỏi phải có một tổ chức Mác xít, một Đảng thực sự cách
mạng của giai cấp công nhân có khả năng tập hợp, lãnh đạo công nhân đấu tranh
giành độc lập, tự do. Tháng 3/1929 chi bộ cộng sản đầu tiên ra đời. Đông Dương
Cộng sản Đảng đã liên kết các Công hội Đỏ ở các cơ sở và giao cho đồng chí
Nguyễn Đức Cảnh - ủy viên Ban chấp hành lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng
triệu tập Đại hội thành lập Tổng Công hội Đỏ Bắc kỳ. Đại hội thành lập Tổng
Công hội miền Bắc Việt Nam diễn ra ngày 28/7/1929, sau Đại hội Tổng Công hội
Đỏ tiếp tục tuyên truyền, vận động, phát triển tổ chức vào các tỉnh miền Trung và
miền Nam. Lần đầu tiên giai cấp công nhân Việt Nam có một đoàn thể cách mạng

Điều 191 của Bộ luật lao động năm 2012 quy định quyền của cán bộ công
đoàn cơ sở trong quan hệ lao động
Gặp người sử dụng lao động để đối thoại, trao đổi, thương lượng về những
vấn đề lao động và sử dụng lao động.
Đến các nơi làm việc để gặp gỡ người lao động trong phạm vi trách nhiệm
mà mình đại diện.
Những nơi chưa thành lập tổ chức công đoàn cơ sở, cán bộ công đoàn cấp
trên trực tiếp cơ sở được thực hiện các quyền hạn quy định tại Điều này.
Điều 192 Bộ Luật lao động năm 2012 quy định trách nhiệm của người sử
dụng lao động đối với tổ chức công đoàn: Khi người lao động là cán bộ công đoàn
7


không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ công đoàn mà hết hạn hợp đồng lao động
thì được gia hạn hợp đồng lao động đã giao kết đến hết nhiệm kỳ; Khi người sử
dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, chuyển làm công việc
khác, kỷ luật sa thải đối với người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên
trách thì phải thỏa thuận bằng văn bản với Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc
Ban chấp hành cấp trên trực tiếp cơ sở.
Điều 193 bộ Luật lao động văn 2012 quy định bảo đảm điều kiện hoạt động
công đoàn tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức: Cán bộ công đoàn không chuyên
trách được sử dụng thời gian trong giờ làm việc để hoạt động công đoàn theo quy
định của Luật công đoàn và được người sử dụng lao động trả lương; Cán bộ công
đoàn chuyên trách tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức do công đoàn trả lương,
được người sử dụng lao động bảo đảm phúc lợi tập thể như người lao động làm
việc trong doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức theo thoả ước lao động tập thể hoặc quy
chế của người sử dụng lao động.
Luật Công đoàn Việt Nam năm 2012[3]. Trong đó xác định rõ cán bộ công
đoàn.
Theo Điều 5, Điều lệ Công đoàn Việt Nam: Cán bộ công đoàn là người đảm

Công đoàn cơ sở
Tổ trưởng
Công đoàn cơ sở
Tổ phó
Công đoàn cơ sở
( Nguồn: Văn phòng LĐLĐ quận Hồng Bàng)
Sơ đồ số 1.1: Cơ cấu cán bộ CĐCS

9


Phân loại và đặc điểm của cán bộ CĐCS [11]
Cán bộ công đoàn

Cán bộ công đoàn không chuyên

chuyên trách

trách

Giống nhau: Cán bộ công đoàn chuyên trách và không chuyên trách công đoàn
do tổ chức công đoàn ra quyết định công nhận (theo phân cấp đối với từng cấp
công đoàn)
Khác nhau:
Cán bộ công đoàn chuyên trách Cán bộ công đoàn không chuyên trách
hưởng lương từ ngân sách công không hưởng lương ngân sách công
đoàn.

đoàn.


Thứ hai: Cán bộ CĐCS chủ yếu là không chuyên trách cùng đồng thời vừa
làm nhiệm vụ chuyên môn của mình, vừa làm công tác công đoàn và phần lớn
trưởng thành từ phong trào quần chúng, hiểu biết quần chúng, gắn bó với lợi ích
của quần chúng, lấy việc vận động, thuyết phục làm phương pháp hoạt động chủ
yếu, nên hầu hết cán bộ CĐCS đều là những người nhiệt tình trong công tác, có
kinh nghiệm vận động, tổ chức hoạt động, có uy tín với CNVCLĐ.
Thứ ba: Cán bộ CĐCS là người đại diện bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng,
hợp pháp của CNVCLĐ trong doanh nghiệp, đơn vị. Đặc trưng này phân biệt cán
bộ CĐCS khác với cán bộ Đảng, Chính quyền và cán bộ quần chúng khác.

1.1.2. Vai trò, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ CĐCS trong quan
hệ lao động
Được quy định tại Điều 188 Bộ luật lao động sửa đổi năm 2012: Công đoàn
cơ sở thực hiện vai trò đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của
đoàn viên công đoàn, người lao động; tham gia, thương lượng, ký kết và giám sát
việc thực hiện thỏa ước lao động tập thể, thang lương, bảng lương, định mức lao
động, quy chế trả lương, quy chế thưởng, nội quy lao động, quy chế dân chủ ở
doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; tham gia, hỗ trợ giải quyết tranh chấp lao động;
đối thoại, hợp tác với người sử dụng lao động xây dựng quan hệ lao động hài hoà,
ổn định, tiến bộ tại doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức; Công đoàn cấp trên trực tiếp
cơ sở có trách nhiệm hỗ trợ công đoàn cơ sở thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
theo quy định tại khoản 1 Điều này; tuyên truyền giáo dục, nâng cao hiểu biết về
pháp luật về lao động, pháp luật về công đoàn cho người lao động; Ở những nơi
chưa thành lập tổ chức công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở thực
hiện trách nhiệm như quy định tại khoản 1 Điều này; Tổ chức công đoàn các cấp
tham gia với cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp và tổ chức đại diện người sử dụng
lao động để trao đổi, giải quyết các vấn đề về lao động[2].
11



bảo hiểm xã hội, bảo hiểm ý tế…
12


Tổ chức giúp đỡ CNLĐ phát triển kinh tế gia đình, giúp CNLĐ được vay vốn
từ ngân hàng để tăng gia sản xuất cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập cho gia đình.
Phải tham gia quản lý trong các đơn vị cơ sở
Tham gia quản lý là một trong những chức năng của tổ chức công đoàn.
Thực chất của tham gia quản lý là nhằm phát huy quyền làm chủ của người lao
động, bảo vệ lợi ích trước mắt, lợi ích lâu dài, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể của
người lao động. Tham gia quản lý gồm:
- Cán bộ công đoàn phối hợp với thủ trưởng đơn vị, giám đốc doanh nghiệp
tổ chức hội nghị người lao động, hội nghị người lao động theo quy định của pháp
luật và hướng dẫn của Chính phủ, Tổng LĐLĐ Việt Nam và Bộ lao động thương
binh và xã hội...; xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ tại
doanh nghiệp, được thể hiện bằng các quy đinh của pháp luật như: nội quy lao
động, thang bảng lương, quy chế trả lương, thương lượng ký kết thỏa ước lao động
tập thể, thực hiện quy chế dân chủ, đối thoại nơi làm làm việc, quy chế phối hợp
giữa giám đốc doanh nghiệp với Ban chấp hành công đoàn cơ sở…
- Tổ chức các phong trào thi đua lao động sản xuất trong công nhân, viên
chức, lao động: Giúp công nhân, viên chức, lao động phát huy sáng kiến, sáng tạo,
xây dựng các đề tài lao động sáng tạo. Vận động CNLĐ nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ, hoàn thành vượt mức nhiệm vụ được giao, đạt năng suất, chất
lượng tốt, đoàn kết giúp đỡ nhau trong sản xuất.
- Vận động công nhân lao động thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng,
lãng phí; đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh và
gia đình văn hóa, phong trào thi đua người tốt, việc tốt trong cơ quan, doanh
nghiệp…
- Tham gia xây dựng và giám sát thực hiện chế độ, chính sách pháp luật liên
quan đến người lao động.

cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hoặc giữa tổ chức công đoàn với đại diện của người
sử dụng lao động.
Phát triển đoàn viên và xây dựng công đoàn cơ sở vững mạnh.
Đấu tranh chống những biểu hiện vi phạm đường lối, chủ trương của Đảng,
chính sách, pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của công đoàn các cấp.
Thực hiện các nhiệm vụ khác do tổ chức công đoàn phân công.
Quyền hạn của cán bộ công đoàn:
Là người đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền, bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp, chính đáng của người lao động.
14


Được thực hiện các quyền của cán bộ công đoàn trong quan hệ lao động theo
quy định của pháp luật, công đoàn.
Tổ chức và lãnh đạo đình công theo quy định của pháp luật.
Được bảo đảm điều kiện hoạt động công đoàn tại cơ quan, tổ chức, doanh
nghiệp theo quy định của Luật Công đoàn. Được công đoàn bảo vệ, giúp đỡ, hỗ trợ
khi gặp khó khăn trong quá trình thực hiện nhiệm vụ do tổ chức công đoàn phân công.
Được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao nghiệp vụ công tác công đoàn.
Được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của Đảng, Nhà nước và tổ
chức Công đoàn.
Cán bộ công đoàn không chuyên trách khi có đủ điều kiện theo quy định và
có nguyện vọng được xem xét ưu tiên tuyển dụng làm cán bộ công đoàn chuyên
trách khi cơ quan tuyển dụng có nhu cầu.

1.1.3. Nhiệm vụ, quyền hạn của Cán bộ công đoàn cơ sở trong các doanh
nghiệp ngoài nhà nước [10]
Tuyên truyền, phổ biến, vận động người lao động thực hiện đường lối, chủ
trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ của tổ chức Công
đoàn và nội quy, quy chế của doanh nghiệp.

1.2.1.1.Quan điểm về tiêu chuẩn cán bộ công đoàn
Công tác cán bộ chính là việc xác định các tiêu chuẩn cho mỗi chức danh,
tuyển chọn cán bộ theo tiêu chuẩn, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bổ
nhiệm cán bộ. Từ khi ra đời đến nay Đảng ta luôn xem công tác cán bộ là một vấn
đề quan trọng, giữ vị trí quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta. Đảng
đã từng bước xây dựng một đội ngũ cán bộ có đủ sức thực hiện nhiệm vụ trong
từng giai đoạn Cách mạng. Thông qua đội ngũ cán bộ, Đảng lãnh đạo nhân dân ta
đánh thắng kẻ thù xâm lược giành lại độc lập tự do, thống nhất đất nước, tiến hành
xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh
luôn quan tâm đến công tác cán bộ, lựa chọn, đào tạo, rèn luyện đội ngũ cán bộ.
Người luôn cho rằng vấn đề cán bộ là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết
định đối với sự nghiệp cách mạng và đối với công cuộc xây dựng Đảng. Người
luôn dạy “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, bất cứ chính sách công tác gì nếu
có cán bộ tốt thì thành công”[5]. Ở mỗi bước phát triển của cách mạng căn cứ vào
yêu cầu, nhiệm vụ chính trị, Người đã ân cần chỉ ra phương hướng phấn đấu và rèn
luyện của cán bộ.
Một yêu cầu không thể thiếu được của người cán bộ là sự gắn bó mật thiết
với quần chúng, gần gũi với công nhân, tri thức, gần gũi với cấp dưới cơ sở, sâu sát
16


với công việc. Như vậy tiêu chuẩn lựa chọn, đề bạt cán bộ là một trong những khâu
quan trọng của công tác cán bộ, nắm vững và xác định đúng quan điểm này sẽ tạo
cho hệ thống chính trị một đội ngũ cán bộ có đầy đủ năng lực, phẩm chất, công tác
có hiệu quả.
Những tiêu chuẩn cụ thể của cán bộ theo tư tưởng Hồ Chí Minh là: Phải
trung thành với Tổ Quốc với cách mạng, chế độ XHCN; Có trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ giỏi; Phải có mối quan hệ mật thiết với mọi người xung quanh; Dám phụ
trách, dám quyết đoán, dám chịu trách nhiệm, nhất là những tình huống khó; Cần,

Có bản lĩnh chính trị vững vàng; nhiệt tình, tâm huyết với sự nghiệp xây
dựng tổ chức công đoàn; có uy tín và khả năng đoàn kết tập hợp được đông đảo
đoàn viên, CNVCLĐ; có tinh thần đấu tranh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp,
chính đáng của đoàn viên, CNVCLĐ.
Có năng lực, trình độ tham gia xây dựng và tổ chức thực hiện tốt các nghị
quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào các lĩnh vực hoạt động
công đoàn; có kiến thức về quản lý kinh tế, xã hội, pháp luật; có kỹ năng hoạt động
công đoàn và nghiệp vụ công tác công đoàn.
Có sức khỏe, đạo đức, lối sống lành mạnh, trung thực, giản dị, không cục bộ
bản vị, cơ hội; không lãng phí, tham nhũng và bao che cho tham nhũng, kiên quyết
chống tham nhũng và lãng phí.
Tiêu chuẩn cán bộ là những quy định đối với cán bộ về sức khỏe, phẩm chất
chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, khả năng
đoàn kết, tập hợp quần chúng, tác phong, lề lối làm việc. Tiêu chuẩn cán bộ là căn
cứ để hoạch định chính sách vĩ mô phục vụ cho việc xây dựng đội ngũ cán bộ công
chức nói chung và cán bộ công đoàn nói riêng. Tiêu chuẩn cũng là cơ sở để từng
người cán bộ phấn đấu tự rèn luyện để hoàn thiện bản thân.
Từ những tiêu chuẩn chung về cán bộ công đoàn, trên cơ sở đó cấp ủy Đảng
và các cấp công đoàn lựa chọn, quy hoạch, bồi dưỡng đào tạo nguồn cho cấp mình
theo từng nhiệm kỳ, tuyển chọn những cán bộ có đủ phẩm chất, trình độ, năng lực
xây dựng đội ngũ cán bộ CĐCS có đủ bản lĩnh chính trị, năng lực để thực hiện tốt
chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn.
1.2.1.3. Quan điểm đánh giá chất lượng cán bộ công đoàn cơ sở
Đánh giá chất lượng cán bộ có thể được xem là khâu quan trọng đầu tiên
trong công tác cán bộ. Đánh giá cán bộ đúng có ý nghĩa quyết định trong việc
tuyển chọn đào tạo, bố trí sử dụng có hiệu quả nguồn cán bộ. Đánh giá chất lượng
cán bộ công khai, minh bạch, khách quan, toàn diện và công tâm, lấy hiệu quả
hoàn thành nhiệm vụ công tác làm thước đo phẩm chất, năng lực của cán bộ. Đánh
18


Đảng, Nhà nước, kiên định với mục tiêu chính trị của Đảng đề ra, nắm vững đường
lối của Đảng trong quá trình vận dụng thực hiện các mục tiêu chính trị, kinh tế, xã
19


hội của đất nước. Có tư duy chính trị nhạy cảm, năng động, sáng tạo, nhiệt tình
ủng hộ và gương mẫu đi đầu trong sự nghiệp đổi mới của đất nước, tham gia có
hiệu quả các nhiệm vụ công tác, sản xuất, kinh doanh.
Chấp hành nghiêm kỷ luật lao động, gương mẫu chấp hành pháp luật của
Nhà nước, những quy định của tập thể, vận động cán bộ, đoàn viên chấp hành.
Nhiệt tình, tâm huyết với phong trào CNVCLĐ và hoạt động công đoàn, gắn
bó với tổ chức công đoàn và CNVCLĐ. Giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng,
gần gũi với công nhân lao động, đại diện, bảo vệ và là chỗ dựa cho công nhân viên
chức lao động.
- Về phẩm chất đạo đức:
Có đạo đức phẩm chất cách mạng, đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực,
kiên quyết bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ.
Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước công việc được giao.
Gương mẫu trong lao động sản xuất và công tác, trong sinh hoạt, có ý thức tổ chức
kỷ luật, luôn tạo sự đoàn kết, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chinh đáng của
CNVCLĐ.
Có đạo đức, lối sống lành mạnh, trung thực, có mối quan hệ mật thiết với
đoàn viên và công nhân viên chức lao động, không tham ô, lãng phí, có ý thức tiết
kiệm và bảo vệ tài sản của tập thể
Tiêu chí về trình độ chuyên môn:
Cán bộ CĐCS có trình độ chuyên môn từ cao đẳng trở lên.
Có trình độ hiểu biết, tích lũy kinh nghiệm thực tiễn, tổ chức thực hiện có
hiệu quả nhiệm vụ được giao. Biết phát huy năng lực sở trường công tác.
Có trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ, am hiểu về ngành, nghề, có
kiến thức am hiểu về kinh tế, kỹ thuật, pháp luật, các kiến thức về xã hội để vận

thuẫn phát sinh trong đơn vị, cổ vũ vận động đoàn viên nỗ lực thực hiện tốt nhiệm
vụ được giao.
Có tác phong làm việc theo quan điểm quần chúng, dân chủ, thực tế. Nghĩa
là đối với cán bộ công đoàn đòi hỏi phải biết biến ý chí của Đảng, Nhà nước, của
tổ chức công đoàn thành ý chí của đông đảo CNVCLĐ, hướng hoạt động của đông
đảo CNVCLĐ vào mục tiêu chương tình kế hoạch đã đề ra.
Có năng lực quản lý, tổ chức thực hiện, nắm bắt tình hình kinh tế - xã hội,
trên cơ sở đó có những đề xuất và giải quyết công việc đảm bảo đúng mục tiêu. Có
khả năng xây dựng chương trình, kế hoạch công tác, xây dựng nghị quyết của công
đoàn, tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết, chương trình công tác đạt kết quả tốt.
21


Xây dựng nội bộ đoàn kết, biết tổ chức và sử dụng người trong tổ chức để làm việc
có hiệu quả. Biết sử dụng triệt để thông tin hai chiều, nhiều chiều, lắng nghe ý kiến
của công nhân viên chức lao động, qua đó tạo sự tin tưởng lẫn nhau trong công
việc, nâng cao tinh thần trách nhiệm của CNVCLĐ, đem lại hiệu quả cao trong
hoạt động công đoàn.
Tổ chức thực hiện của cán bộ CĐCS phải dựa trên nguyên tắc tập thể lãnh
đạo, cá nhân phụ trách, năng lực đó biểu hiện qua phong cách quản lý, chỉ đạo, tổ
chức thực hiện.
Khi đánh giá cán bộ CĐCS cũng cần chú ý dựa vào việc: Lấy hiệu quả công
tác thực tế và sự tín nhiệm của CNVCLĐ, đoàn viên công đoàn làm thước đo chủ
yếu. Đây là tiêu chí về chất lượng và năng lực của cán bộ công đoàn thông qua
việc làm thực tế của cán bộ CĐCS.
Cán bộ công đoàn cũng cần có kiến thức nhất định về lý luận chính trị. Yêu
cầu trình độ lý luận của cán bộ CĐCS không chỉ đơn thuần là chứng chỉ, bằng cấp,
mà vấn đề cốt lõi là đòi hỏi cán bộ công đoàn phải có khả năng biến những vấn đề
được học thành nhận thức, hành động cụ thể, thiết thực trong công tác của mình.
Đó chính là khả năng vận dụng lý luận vào công việc hàng ngày, khả năng tổng

Tiêu chí sức khỏe đối với cán bộ không những là một tiêu chuẩn chung, phổ
thông cần thiết cho mọi nhóm cán bộ, mà tùy theo những hoạt động đặc thù của
từng loại cán bộ còn có những yêu cầu tiêu chuẩn riêng. Vì vậy, việc xây dựng chỉ
tiêu phản ánh tình trạng sức khỏe của cán bộ cần xuất phát từ yêu cầu cụ thể đối với
hoạt động có tính đặc thù của từng loại cán bộ. Yêu cầu sức khỏe không chỉ là một
quy định bắt buộc khi tuyển chọn cán bộ, mà là yêu cầu được duy trì trong suốt quá
trình công tác của người cán bộ. Cán bộ đảm bảo sức khỏe mới có thể thực hiện
công việc được liên tục. Vì vậy người lãnh đạo cần phải tạo không khí làm việc
thân thiện, cởi mở, nghiêm túc để phát huy tốt nhất tính sáng tạo của cán bộ. Đồng thời
hàng năm đơn vị cần tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho cán bộ, CNVCLĐ để qua đó
phát hiện những bệnh tật, nhất là bệnh nghề nghiệp để có biện pháp điều trị kịp thời.
Điều 152 Bộ luật lao động năm 2012 đã quy định về chăm sóc sức khỏe cho
người lao động[2]:
Người sử dụng lao động phải căn cứ vào tiêu chuẩn sức khỏe quy định cho
từng loại công việc để tuyển dụng và sắp xếp lao động.
Hàng năm, người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ cho
người lao động, kể cả người học nghề, tập nghề; lao động nữ phải được khám
chuyên khoa phụ sản, người làm công việc nặng nhọc, độc hại, người lao động là
người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi phải
được khám sức khỏe ít nhất 6 tháng một lần.
23


Tiêu chí đánh giá mức độ đảm nhận công việc của cán bộ công đoàn:
Đây là tiêu chí đánh giá năng lực thực tiễn của cán bộ công đoàn; phản ánh
mức độ hoàn thành nhiệm vụ và mức độ đảm nhận chức trách nhiệm vụ của cán bộ
công đoàn. Để đánh giá chất lượng cán bộ có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong
quản trị nhân lực của tổ chức. Việc đánh giá không có ý nghĩa là thẩm định kết quả
thực hiện công việc, công nhận thành tích của cán bộ đó mà có ý nghĩa đánh giá
kết quả hoạt động của tổ chức đó.

ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng, hành động của công nhân lao động, đoàn viên
công đoàn Việt Nam và đang đặt ra cho tổ chức công đoàn phải xây dựng đội ngũ
cán bộ CĐCS có khả năng tiếp cận được với khoa học công nghệ hiện đại.
Có thể cho rằng phong trào công nhân và công đoàn thế giới sẽ có tác động
tới chất lượng cán bộ CĐCS nước ta nói chung, trong đó có cán bộ CĐCS quận
Hồng Bàng nói riêng.
Cơ chế, chính sách của Đảng và Nhà nước, hệ thống quản lý của Tổng
LĐLĐ Việt Nam
Nâng cao chất lượng cán bộ công đoàn là một việc làm cần thiết để tạo điều
kiện thúc đẩy sự phát triển nguồn cán bộ. Muốn vậy, Đảng và Nhà nước cần có cơ
chế chính sách phù hợp. Cơ chế chính sách cán bộ của Đảng, Nhà nước là một
trong những nhân tố tác động mạnh nhất tới chất lượng cán bộ công đoàn nói
chung, cán bộ CĐCS nói riêng. Trong đó có những chính sách đảm bảo chế độ ưu
đãi về vật chất, tinh thần, chính sách thu hút cán bộ và chính sách bảo vệ cán bộ.
Nếu chính sách được thực hiện đồng bộ và bảo vệ được cán bộ CĐCS thì sẽ thu
hút được cán bộ CĐCS giỏi, tạo điều kiện cho cán bộ CĐCS yên tâm công tác,
thực hiện nhiệm vụ được giao, nhất là thực hiện chức năng bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp chính đáng của người lao động. Chính sách cán bộ phù hợp sẽ là động
lực mạnh mẽ, khuyến khích, động viên cán bộ CĐCS gắn bó với tổ chức, không
ngừng khắc phục mọi khó khăn, phấn đấu học tập, rèn luyện hoàn thành tốt chức
năng nhiệm vụ của tổ chức giao. Điều này cũng có nghĩa với việc nâng cao chất
lượng cán bộ CĐCS.
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã ban hành “Nghị quyết 4a/NQ TLĐ, ngày 04/3/2010 của Ban chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam
khóa X về tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
công đoàn giai đoạn 2010 - 2020”[13]. “Liên đoàn LĐLĐ Hải Phòng đã có
Chương trình số 382/CTr-LĐLĐ ngày 05/8/2014 về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ
công đoàn nhiệm kỳ 2013 - 2018”[19]. Công tác đào tạo, bồi dưỡng có vị trí hết

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status