I. Mở đầu
1. Lý do chän ®Ò tµi:
Trong sự nghiệp đổi mới đất nước, nền giáo dục quốc dân cần phải có
những đổi mới phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế - xã hội. Nghị quyết Trung
ương đảng lần thứ XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo đã chỉ rõ:
“Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo
dục Việt Nam theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội
nhập quốc tế, trong đó đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo
viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt. Tập trung nâng cao chất lượng giáo dục,
đào tạo, coi trọng giáo dục đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành,
khả năng lập nghiệp.
Hoá học là bộ môn khoa học tự nhiên mà học sinh được tiếp cận muộn
nhất - đến lớp 8 học sinh mới bắt đầu làm quen với môn học này. Môn hoá học
cung cấp cho học sinh một hệ thống kiến thức phổ thông, cơ bản và thiết thực
đầu tiên về hoá học, rèn cho học sinh óc tư duy sáng tạo và khả năng trực quan
nhanh nhạy. Vì vậy giáo viên bộ môn hoá học cần hình thành ở các em một kỹ
năng cơ bản, thói quen học tập và làm việc khoa học làm nền tảng để các em
phát triển khả năng nhận thức và năng lực hành động. Hình thành cho các em
những phẩm chất cần thiết như cẩn thận, kiên trì, trung thực, tỉ mỉ, chính xác,
yêu thích khoa học.
Trong môn hóa học có rất nhiều nội dung kiến thức cần phải chiếm lĩnh. Vì
mới bắt đầu làm quen với môn hoá học, nên có không ít học sinh gặp khó khăn khi
học tập bộ môn này, nhất là khi tự mình lập nhanh và đúng các phương trình hoá
học - mặc dù được giáo viên hướng dẫn khá rõ khi học bài “lập phương trình hóa
học”. Trong hóa học, phương trình hóa học là một nội dung kiến thức rất quan
trọng, do đó việc lập đúng phương trình hóa học lại càng quan trọng hơn. Vì lập
đúng phương trình hóa học thì các em mới giải đúng các bài toán hoá học (bài toán
tính theo phương trình hóa học). Qua thực tế giảng dạy tôi thấy học sinh rất lúng
túng khi đi tìm hệ số thích hợp đặt trước các công thức, do đó việc lập phương trình
hoá học là một nội dung khó đối với học sinh. Thực tế học sinh đã học lập phương
trình hóa học từ lớp 8 nhưng lên lớp 9 nhiều em vẫn còn lập sai.
2
GV : Lê Thị Minh – Trường THCS Minh Khai TP Thanh Hóa .Tỉnh Thanh
Hóa.
II.
NỘI DUNG :
1. Cơ sở lý luận
Cùng với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học nói chung, định hướng
đổi mới phương pháp dạy học hóa học cũng được coi trọng theo hướng quan tâm
và tạo mọi điều kiện để học sinh trở thành chủ thể hoạt động sáng tạo trong hoạt
động học giúp học sinh tự chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng về hóa học băng nhiều biện
pháp khác nhau như:
- Khai thác đặc thù dạy – học bộ môn để tạo ra các hình thức hoạt động đa dạng
và phong phú.
- Đổi mới hoạt động học của học sinh và tăng thời gian hoạt động cho học sinh
trong giờ học.
- Tăng mức độ hoạt động nhận thức, hoạt động trí lực, tính chủ động sáng tạo
của học sinh như thường xuyên sử dụng tổng hợp các phương pháp dạy học
phức hợp để kích thích học sinh tìm tòi chiếm lĩnh tri thức về hóa học.
2. Thực trạng vấn đề.
Học sinh được học về phương trình hóa học từ chương 2 của chương trình hóa
học lớp 8, chỉ với 2 tiết dạy – học trên lớp với mục tiêu đảm bảo nội dung kiến
thức, kĩ năng, thái độ học tập của học sinh nên thời gian luyện tập ít, nhiều học sinh
chưa nắm rõ, hiểu sâu về cách lập phương trình hóa học đặc biệt là đối tượng học
sinh trung bình - yếu. Hơn nữa sách giáo khoa cũng chỉ đề cập được một phương
pháp lập phương trình hóa học bằng cách chọn hệ số thích hợp mà chưa có thời
gian phân tích sâu, kĩ để học sinh hiểu được bản chất của vấn đề. Ngay cả học sinh
các hệ số không chính xác. Đa số các em còn lúng túng không biết phải bắt đầu cân
bằng từ nguyên tố hóa học nào trước , nguyên tố hóa học nào sau.
Cũng qua điều tra, trò chuyện với nhiều học sinh và các giáo viên đang giảng
dạy bộ môn Hoá học khác, tôi đã biết được một số nguyên nhân dẫn đến việc học
sinh không cân bằng được phương trình hoá học là:
- Do học sinh không chú ý vào tiết học: Đa số những học sinh này thuộc loại
những học sinh học trung bình - yếu - kém.
- Do học sinh chưa quyết tâm: Việc học môn hóa học thời lượng 2 tiết/tuần
chủ yếu học lý thuyết, thời gian dành cho luyện tập và vận dụng kiến thức kĩ năng
để giải quyết bài tập và yêu cầu bộ môn ít.
Xuất phát từ những nguyên nhân nêu trên, để góp phần nâng cao chất lượng
dạy và học bộ môn hoá học, trước hết phải có những biện pháp tích cực giúp cho
học sinh lập đúng các phương trình hoá học. Muốn vậy, trong quá trình giảng dạy
giáo viên cần phải hướng dẫn cho học sinh nắm vững ba bước lập phương trình hoá
học, cụ thể:
- Bước 1: Viết sơ đồ của phản ứng, gồm công thức hóa học của các chất phản
ứng và sản phẩm. Mũi tên trong sơ đồ phản ứng có dạng
.
- Bước 2: Cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố: tìm hệ số thích hợp đặt
trước các công thức hóa học các chất sao cho số nguyên tử của mỗi nguyên tố ở hai
vế đều bằng nhau. Đây là bước quan trọng nhất khi lập phương trình hóa học.
- Bước 3: Viết phương trình hoá học: thay mũi tên
bằng mũi tên
.
Lưu ý học sinh: Mấy điều cần ghi nhớ khi lập phương trình hoá học:
- Viết sơ đồ phản ứng: Phải xác định đúng chất tham gia và sản phẩm, không
được viết thiếu công thức hóa học của các chất, không được viết sai công thức hoá
to
P2O5
Bước 2: Cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố:
- Cả P và O đều có số nguyên tử không bằng nhau.
- Bắt đầu từ nguyên tố O có nhiều nguyên tử hơn. Trước hết phải làm chẵn số
nguyên tử O tức là đặt hệ số 2 trước công thức P2O5.
o
P + O2 t
2P2O5
- Tiếp đó đặt hệ số 5 trước O2 và 4 trước P. Như vậy cả hai bên đều có 10O và 4P.
4P + 5O2
to 2P O
2 5
Bước 3: Viết phương trình hoá học:
o
4P + 5O2 t 2P2O5
Ví dụ 2: Cân bằng phương trình hoá học sau.
5
GV : Lê Thị Minh – Trường THCS Minh Khai TP Thanh Hóa .Tỉnh Thanh
Hóa.
Al + CuCl2 ---> AlCl3 + Cu
Bước 1: Viết sơ đồ của phản ứng:
Al + CuCl2 ---> AlCl3 + Cu
Bước 2: Cân bằng số nguyên tử của mỗi nguyên tố
- Đặt hệ số 3 trước H2 và 2 trước Al. Kiểm tra lại số nguyên tử ở hai bên đã
bằng nhau.
2Al + 3H2SO4
Al2(SO4)3 + 3H2
Bước 3: Viết phương trình hoá học:
2Al + 3H2SO4 → Al2(SO4)3 + 3H2
Nhận xét:
- Vận dụng phương pháp này học sinh dễ dàng lập nhanh và đúng với đa số
các phương trình hoá học. Do đó có thể áp dụng cho nhiều đối tượng học sinh.
6
GV : Lê Thị Minh – Trường THCS Minh Khai TP Thanh Hóa .Tỉnh Thanh
Hóa.
- Tuy nhiên, phương pháp này rất khó áp dụng đối với những phương trình
phức tạp.
Phương pháp thứ hai: Lập phương trình hoá học bằng phương pháp phân
số.
Nguyên tắc chung: Để lập phương trình hoá học theo phương pháp này ta
cần thực hiện theo ba bước sau:
Bước 1: Chọn các hệ số là số nguyên hay phân số đặt trước các công thức
hoá học sao cho số nguyên tử của các nguyên tố ở hai vế bằng nhau.
Bước 2: Quy đồng mẫu số rồi khử mẫu.
Bước 3: Viết phương trình hoá học.
Ví dụ 1: Lập phương trình của phản ứng hoá học có sơ đồ sau:
P + O2
Ví dụ 2: Lập phương trình của phản ứng hoá học có sơ đồ sau:
Al2O3 đpnc
Al + O2
Bước 1: Chọn các hệ số
- Ở phương trình này ta thấy ở vế phải có 1 nguyên tử Al và 2 nguyên tử O,
còn ở vế trái có 2 nguyên tử Al và 3 nguyên tử O.
- Chọn hệ số 2 đặt vào trước Al và
3
vào trước O2 để cân bằng số nguyên tử
2
của các nguyên tố.
7
GV : Lê Thị Minh – Trường THCS Minh Khai TP Thanh Hóa .Tỉnh Thanh
Hóa.
Al2O3
đpnc
2Al +
3
O2
2
3
đặt trước O2 để cân bằng số nguyên tử của các nguyên tố.
2
KClO3
to
KCl
+
3
O2
2
Bước 2: Quy đồng số rồi khử mẫu
Mẫu số chung là 2, sau đó khử mẫu ta được (nhân tất cả các hệ số với 2):
2KClO3
2KCl
+
3O2
2KCl
+
Ví dụ 1: Lập phương trình của phản ứng hoá học có sơ đồ sau:
o
Al + O2 t
Al2O3
Bước 1: Xác định bội số chung nhỏ nhất của các chỉ số từng nguyên tố
- Nguyên tố O có số nguyên tử nhiều và không bằng nhau ở 2 vế.
- Ta chọn nguyên tố oxi để cân bằng trước: Bội số chung nhỏ nhất của hai chỉ
số 2 và 3 là 6.
Bước 2: Lấy bội số chung nhỏ nhất lần lượt chia các chỉ số từng nguyên tố
- Ta lấy 6 : 3 = 2 => đặt hệ số 2 trước công thức Al2O3.
- Ta lấy 6 : 2 = 3 => đặt hệ số 3 trước công thức O2 ta được:
o
Al + 3O2 t 2Al2O3
- Bên vế phải (trong Al2O3) số nguyên tử Al là 4, tiếp theo ta đặt hệ số 4
trước Al (bên vế trái), ta được:
4Al + 3O2
to
2Al2O3
Bước 3: Viết phương trình hoá học:
o
4Al + 3O2 t 2Al2O3
Ví dụ 2: Lập phương trình của phản ứng hoá học có sơ đồ sau:
o
Al + Cl2 t AlCl3
Bước 1: Xác định bội số chung nhỏ nhất của các chỉ số từng nguyên tố
- Nguyên tố Cl có số nguyên tử nhiều và không bằng nhau ở 2 vế.
- Ta chọn nguyên tố Cl để cân bằng trước: Bội số chung nhỏ nhất của hai chỉ
Bước 1: Xác định bội số chung nhỏ nhất của các chỉ số từng nguyên tố
- Nguyên tố O có số nguyên tử nhiều và không bằng nhau ở 2 vế.
- Ta chọn nguyên tố oxi để cân bằng trước: Bội số chung nhỏ nhất của hai chỉ
số 3 và 2 là 6.
Bước 2: Lấy bội số chung nhỏ nhất lần lượt chia các chỉ số từng nguyên tố
- Ta lấy 6 : 3 = 2 => đặt hệ số 2 trước công thức KClO3.
- Ta lấy 6 : 2 = 3 => đặt hệ số 3 trước công thức O2 ta được:
2KClO3
to
Bước 3: Viết phương trình hoá học.
to
2KClO3
2KCl
+
3O2
2KCl
+
3O2
Nhận xét:
- Phương pháp này áp dụng hiệu quả với những phương trình hoá học đơn
+ bH2O
cH3PO4
Bước 2:
- Lập hệ phương trình đại số (số nguyên tử của mỗi nguyên tố ở 2 vế bằng
nhau):
P:
2a = c
(1)
O:
5a + b = 4c
(2)
H:
2b = 3c
(3)
- Giải hệ phương trình:
• Cách 1: Giả sử c = 1 từ (1) => a =
1
Fe2O3
+
SO2
Bước 1: Đặt hệ số a, b, c, d trước các chất trong phản ứng:
aFeS2
+
bO2
--->
cFe2O3
+
dSO2
Bước 2: Lập hệ phương trình đại số (số nguyên tử của mỗi nguyên tố 2 ở vế
bằng nhau):
Fe:
a = 2c
(1)
+ 2. 2 => b =
11
4
Nhân tất cả các nghiệm với 4 (khử mẫu), ta được a = 4; b = 11; c = 2; d = 8.
• Cách 2: Chọn d = 1; từ (2) => a =
Từ (1) => c =
1
;
4
1
.
2
Từ (3) => 2b = 3.
1
4
+ 2. 1 => b =
11
8
Nhân tất cả các nghiệm với 8 (khử mẫu), ta được a = 4; b = 7; c = 2; d = 8.
• Cách 3: Chọn c = 1: từ (1) => a = 2
Từ (2) => d = 4;
Lập hệ phương trình đại số (số nguyên tử của mỗi nguyên tố 2 ở vế bằng
nhau):
K:
a = d
(1)
Mn: a = c
(2)
O:
4a = f
(3)
H:
b = 2f
(4)
Cl:
b = 2c + d + 2e
(5)
12
1
;
8
Từ (1) => d = ;
1
8
Từ (2) => c =
1
;
8
Từ (5) => e =
5
16
Nhân tất cả các nghiệm với 16 (khử mẫu), ta được a =2; b =16; c = 2;
d = 2; e = 5; f = 8.
• Cách 3: Chọn c = 1; từ (2) => a = 1;
Từ (1) => d = 1;
Từ (3) => f = 4;
Từ (4) => b = 8;
1
4
Từ (1) => d =
1
4
Từ (5) => e =
5
8
13
GV : Lê Thị Minh – Trường THCS Minh Khai TP Thanh Hóa .Tỉnh Thanh
Hóa.
Nhân tất cả các nghiệm với 8 (khử mẫu), ta được: a = 2; b = 16; c = 2; d = 2;
e = 5; f = 8.
- Cả 5 cách giải đều cho kết quả a = 2; b = 16; c = 2; d = 2; e = 5; f = 8.
Lưu ý:
- Không chọn e = 1 để giải hệ phương trình này, vì làm như vậy việc giải
hệ phương trình sẽ rất phức tạp
- Nên chọn hoặc a =1 hoặc d = 1 hoặc c = 1 để việc giải hệ phương trình
được đơn giản hơn.
Bước 3: Viết phương trình hoá học:
2KMnO4 + 16HCl → 2MnCl2 + 2KCl + 5Cl2 + 8H2O
Nhận xét:
Ưu điểm của phương pháp này là với bất kì phương trình hoá học nào, đặc
TB
Yếu -Kém
Học
sinh
SL
TL(%)
SL
TL(%)
SL
TL(%)
SL
TL(%)
8A
46
4
8,7
0
Nhìn qua bảng thống kê số liệu năm học, ta thấy số lượng, tỉ lệ học sinh ở
lớp 8B vận dụng các phương pháp lập phương trình hoá học theo hướng nghiên cứu
của đề tài luôn cao hơn lớp 8A không áp dụng phương pháp nghiên cứu của đề tài.
Kết quả này vững chắc và được củng cố qua từng năm học nên có thể vận dụng đại
trà ở những năm học tiếp theo và sẽ góp phần thực hiện tốt mục tiêu nâng cao chất
lượng giảng dạy bộ môn hóa học ở trường trung học cơ sở Minh Khai nói riêng.
III.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
15
GV : Lê Thị Minh – Trường THCS Minh Khai TP Thanh Hóa .Tỉnh Thanh
Hóa.
1. Kết luận :
Trên đây là một số phương pháp giúp học sinh cân bằng nhanh, chính xác và
phù hợp với trình độ nhận thức chung của các em lớp 8-9 mà tôi đã áp dụng vào
giảng dạy cho các em và đã thu được kết quả nhất định. Mỗi phương pháp tôi cố
gắng nêu lên những phản ứng đơn giản đến phức tạp và hay gặp.
Tuy vậy đề tài chỉ giới thiệu một số phương pháp lập phương trình hoá học
điển hình mà học sinh thường gặp phải trong quá trình học bộ môn hoá học ở cấp
trung học cơ sở. Ngoài ra, lên cấp trung học phổ thông và các cấp học cao hơn các
em còn gặp nhiều phương pháp lập phương trình hoá học nhanh và chính xác khác
nữa, trong đó có các phương pháp cân bằng như “electron” hoặc “ion- eclectron”,
… Tuy nhiên với trình độ của học sinh lớp 8-9 chưa thể cân bằng được theo các
Giáo viên cần phải có sự quan tâm phù hợp, đặc biệt cho từng đối tượng
học sinh như đối tượng học sinh khá – giỏi, đối tượng học sinh trung bình – yếu để
giúp các em học tập bộ môn Hoá học được tốt hơn, phù hợp với trình độ nhận thức
của các em và đảm bảo mục tiêu đại trà, phổ cập của kiến thức bộ môn cũng như
tính phân hóa đối tượng học sinh.
Ủy ban nhân dân phường và các cấp chính quyền địa phương cần trang bị
cho nhà trường các phòng chức năng để trường THCS Minh Khai sớm được dạy học một ca, có các phòng chức năng cần thiết tối thiểu phục vụ cho hoạt động dạy –
học đạt kết quả cao nhất và hướng tới trường đạt chuẩn quốc gia theo lộ trình.
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA BGH
Thanh Hóa, ngày 16 tháng 3 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình
viết , không sao chép nội dung của người
khác
Giáo viên thực hiện
Lê Thị Minh
17
GV : Lê Thị Minh – Trường THCS Minh Khai TP Thanh Hóa .Tỉnh Thanh
Hóa.
MỤC LỤC
Trang 1 : Mở đầu
Trang 2: Nội dung
Trang 15 : Kết luận , kiến nghị .