I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Trong những năm gần dây, chúng ta nghe nói rất nhiều về môi trường . Vì
sao con người lại quan tâm đến môi trường nhiều như vậy và nguyên nhân do
đâu? Như chúng ta biết, sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại và sự gia
tăng dân số quá nhanh kéo theo sự gia tăng tiêu thụ nhiên liệu hoá thạch và phá
rừng của con người ngày càng lớn. Làm cho nhiệt độ bề mặt Trái Đất tăng lên,
gây ra nhiều hậu quả xấu như: Làm tan băng và dâng cao mực nước biển, gây
ngập úng các vùng sản xuất lương thực trù phú, thành phố ven biển, các đảo
thấp. Khí hậu Trái Đất biến đổi, làm xáo động điều kiện sống và các hoạt động
sản xuất nông , lâm, thuỷ sản bị ảnh hưởng. Bên cạnh đó sự hiểu biết về môi
trường không đầy đủ khiến cho mối quan hệ trở nên “mâu thuẫn”. Từ những
nhận thức đó đã dấn đến một loạt các sự cố về môi trường ( Hiệu ứng nhà kính,
lỗ thủng tầng ô zôn, trái đất nóng lên, ô nhiễm môi trường ...). Trước tình hình
đó đã đặt ra cho toàn nhân loại một thảm họa: Từ chức năng của môi trường
,vai trò của môi trường tác động đến sự phát triển của loài người .
Ở Việt Nam chương trình giáo dục môi trường cũng được quan tâm trên
diện rộng. Đặc biệt là trong chương trình giáo dục phổ thông ở các cấp, bậc
học. Với trách nhiệm là một giáo viên bản thân tôi luôn băn khoăn và nhận thức
sâu sắc về việc giáo dục môi trường cho học sinh.
Với kinh nghiệm trên 15 năm công tác , tôi đã nhận thấy ý thức bảo vệ môi
trường của đa số học sinh chưa cao. Các em học sinh cho rằng : Bảo vệ môi
trường là trách nhiệm của chính quyền hoặc của người lớn.Từ đó đã làm hạn chế
đến quá trình phát triển kinh tế nước nhà, gây ra tác hại cho sức khỏe cộng đồng.
Vì vậy vấn đề tìm ra những biện pháp để bảo vệ môi trường ở địa phương, đất
nước và toàn cầu đang cần được quan tâm. Chính vì thế tôi đã chọn : “ Một số
biện pháp giáo dục môi trường tạo hứng thú học tập cho học sinh THCS thông
qua môn Địa lí ." Với thông điệp ''Hãy bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi
trường sống của chúng ta .
2. Mục đích nghiên cứu.
Thông qua tìm hiểu, nghiên cứu thực trạng bảo vệ môi trường của học sinh
trong đất. Môi trường đất là nơi trú ngụ của con người và hầu hết các sinh vật
cạn, là nền móng cho các công trình xây dựng dân dụng, công nghiệp và văn hóa
của con người. Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng tài
nguyên đất vào hoạt động sản xuất nông nghiệp để đảm bảo nguồn cung cấp
lương thực thực phẩm cho con người. Nhưng với nhịp độ gia tăng dân số và tốc
độ phát triển công nghiệp và hoạt động đô thị hoá như hiện nay thì diện tích đất
canh tác ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng bị suy thoái, diện tích
đất bình quân đầu người giảm. Riêng chỉ với ở Việt Nam, thực tế suy thoái tài
nguyên đất là rất đáng lo ngại và nghiêm trọng.
2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
a, Thực trạng GDMT ở trường THCS Thị Trấn:
Trong trường THCS Thị Trấn vấn đề BVMT đã được lên kế hoạch bài dạy
hết sức nghiêm túc và đã được nghiên cứu để tích hợp vào chương trình dạy
học nhưng với mức độ còn hạn chế. GDMT đã được tích hợp vào chương
trình giảng dạy các môn có nhiều khả năng tích hợp, trong đó môn Địa lí
được coi là phù hợp nhất.
3
Tuy nhiên chương trình GDMT ở trường THCS nói riêng và các cấp bập
học khác nói chung chưa thống nhất. Các phương pháp GDMT còn nặng về
cung cấp kiến thức hơn là hình thành thái độ xúc cảm, hành vi quan tâm đến
môi trường , vì môi trường cho học sinh.
Với đặc thù là một ngôi trường đóng trên địa bàn có mặt bằng dân trí cao
nhưng ý thức về môi trường của các em còn hạn chế. Chẳng hạn như
“ Không vào rừng chặt phá bừa bãi những cây gỗ lớn” là đã BVMT, nhưng
bên cạnh đó còn có rất nhiều vấn đề gần gũi như bảo vệ khuôn viên trường
học,vệ sinh lớp học ,đường làng ngõ xóm, trồng nhiều cây xanh,bảo vệ môi
trường ,không vứt rác bừa bãi. .. Thực trạng đốt rừng tự nhiên lấy đất trồng
hoa màu mà không đi đôi với công tác bảo vệ rừng và trồng rừng .
nước là vấn đề đáng lo ngại hơn ô nhiễm đất.
Nước bị ô nhiễm là xảy ra chủ yếu ở các khu vực nước ngọt và các vùng
ven biển, vùng biển khép kín. Do lượng muối khoáng và hàm lượng các chất
4
hữu cơ quá dư thừa làm cho các quần thể sinh vật trong nước không thể đồng
hoá được. Kết quả làm cho hàm lượng ôxy trong nước giảm đột ngột, các khí
độc tăng lên, tăng độ đục của nước, gây suy thoái thủy vực. Ở các đại dương là
nguyên nhân chính gây ô nhiễm đó là các sự cố tràn dầu.
Ô nhiễm nước có nguyên nhân từ các loại nước, hóa chất, chất thải từ các
nhà máy công nghiệp được thải ra lưu vực các con sông mà chưa qua xử lí đúng
mức; các loại phân bón hoá học và thuốc trừ sâu dư thừa trên đồng ruộng ngấm
vào nguồn nước ngầm và nước ao hồ; nước thải sinh hoạt được thải ra từ các
khu dân cư ven sông gây ô nhiễm trầm trọng,ảnh hưởng đến sức khỏe của người
dân, sinh vật trong khu vực. Các loại chất độc hại đó lại bị đưa ra biển xa hơn
nữa là nguyên nhân xảy ra hiện tượng "thủy triều đỏ", gây ô nhiễm nặng nề và
làm chết ngạt các sinh vật sống ở môi trường nước
- Ô nhiễm môi trường không khí: Sự biến đổi quan trọng trong thành phần
không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây mùi khó chịu, giảm thị lực
khí nhìn xa do bụi.
Hiện nay, ô nhiễm khí quyển là vấn đề thời sự nóng bỏng của cả thế giới chứ
không phải riêng của một quốc gia nào. Môi trường khí quyển đang có nhiều
biến đổi rõ rệt và có ảnh hưởng xấu đến con người và các sinh vật. Ô nhiễm khí
đến từ con người lẫn tự nhiên. Hàng năm con người khai thác và sử dụng hàng
tỉ tấn than đá, dầu mỏ, khí đốt. Đồng thời cũng thải vào môi trường một khối
lượng lớn các chất thải khác nhau như: chất thải sinh hoạt, chất thải từ các nhà
máy và xí nghiệp làm cho hàm lượng các loại khí độc hại tăng lên nhanh chóng.
5
tập. Từ đó giáo dục cho các em ý thức , trách nhiệm và hành vi BVMT.
Trong các giờ học trên lớp, để làm được nhiệm vụ GDMT thông qua tiết học
bài học, GV có thể thực hiện nhiều phương pháp, tuỳ thuộc vào đặc trưng của
mỗi tiết, mỗi bài, mỗi phần mà GV có thể lựa chọn phương pháp phù hợp, đem
lại hiệu quả giáo dục cao nhất. Trong phạm vi chuyên đề này chỉ giới thiệu một
số phương pháp cơ bản với tính chất gợi ý, còn trong quá trình giảng dạy tuỳ
theo trình độ và nghệ thuật của mỗi người GV, tuỳ theo đối tượng học sinh có
thể sử dụng nhiều hình thức và phương pháp khác miễn sao đạt được mục đích
mình đề ra.
VD1: Bài 32: Các mùa khí hậu và thời tiết ở nước ta ( Địa lí lớp 8)
Khi dạy, GV có thể đặt ra các câu hỏi để HS có thể liên hệ với thực tế MT như:
1- Khí hậu nước ta đã mang lại cho ĐP em những thuận lợi và khó khăn gì?
2- Làm thế nào để phát huy những thuận lợi, khắc phục những khó khăn đó?
VD2: Bài 33: Đặc điểm sông ngòi Việt Nam
Khi dạy phân tích đặc điểm chung sông ngòi nước ta, GV cũng có thể đặt một
số câu hỏi để GDMT như:
1- Đặc điểm của sông ngòi nước ta đã tạo cho nước ta những thuận lợi và khó
khăn gì trong hoạt động và phát triển kinh tế?
2- Để khắc phục những khó khăn do sông ngòi đem lại thì biện pháp tích cực
7
và tối ưu nhất là gì?
Hoặc : Khi dạy phần khai thác kinh tế và bảo vệ sự trong sạch của các dòng
sông, GV đặt một số câu hỏi như sau:
1- Có những nguyên nhân nào làm cho nước sông bị ô nhiễm? Liên hệ ở địa
phương em.
2- Để nước sông không bị ô nhiễm chúng ta phải làm gì?
VD3: Bài 2: Dân số và gia tăng dân số ( Địa lí lớp 9)
Khi dạy phần này GV cũng dễ dàng đặt một số câu hỏi liên hệ đến vấn đề
giảm sút nhanh chóng, để cho HS thấy rõ nguyên nhân và những hậu quả, GV
có thể sử dụng một sơ đồ vẽ: “chuỗi các mối quan hệ nhân quả” của việc mất
rừng, kèm theo một số câu hỏi gợi mở để khai thác kiến thức như sau:
1- Những nguyên nhân làm cho diện tích rừng nước ta giảm sút nhanh chóng?
2- Khi mất rừng sẽ dẫn đến những hậu quả gì?
3- Chúng ta phải làm gì để bảo vệ rừng? Hãy liên hệ với địa phương em.
8
HS sẽ dựa vào sơ đồ, dựa vào 3 câu hỏi gợi mở để phân tích, tổng hợp và rút ra
được những kiến thức chính ở trong sơ đồ.
Chiến tranh huỷ
diệt
Khai thác quá
mức phục hồi
Hàm lượng CO2 tăng
Khí hậu xấu đi
Con người mất nơi
nghỉ ngơi giải trí
sức khoẻ kém
Quản lí bảo vệ kém
MẤT RỪNG
Quá trình xói mòn rửa
trôi tăng
nếu biết cách khai thác, bảo vệ( Tài nguyên rừng, tài nguyên đất ...). Còn tài
không có khả năng phục hồi ( Tài nguyên khoáng sản năng lượng, khoáng sản
kim loại là những loại tài nguyên không thể phục hồi được .Vậy chúng ta cần
phải làm gì để bảo vệ tài nguyên khoáng sản của chúng ta .
Với nội dung bài học này nguyên nhân chính nào làm cho tài nguyên của
chúng ta bị cạn kiệt .Nguyên nhân chính là do dân số quá đông .Khi dân số đông
đòi hỏi nhu cầu con người ngày càng nhiều
Vậy chúng ta sẽ phải làm gì để nguồn tài nguyên của chúng ta không bị kạn
kiệt . Chúng ta cần phải thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình
- Phương pháp thảo luận:
Đây là quá trình trao đổi ý kiến về một chủ đề giữa giáo viên và học sinh với
nhau. Để thực hiện phương pháp này thành công giáo viên hơn ai hết cần chủ
động tiến hành theo 4 bước sau:
Bước 1: Chọn nội dung, chọn bài để thảo luận, thông thường nội dung
không quá khó nhưng lại là vấn đề đang được nhiều người quan tâm.
Bước 2: Giao việc về nhà cho mỗi nhóm hoc sinh.
Bước 3: Tiến hành thảo luận.
Các nhóm làm việc theo sự phân công về nhà, bầu nhóm trưởng thư kí và đi
đến thảo luận báo cáo kết quả.
Bước 4: Tổng kết thảo luận.
Phần này giáo viên giám sát hướng dẫn trên ý kiến các nhóm đã trình bày.
VD: Trong bài 10 “ Dân số và sức ép dân số tới tài nguyên môi trường ở đới
nóng”- Địa lí 7. Đây là một nội dung không thực sự khó lắm nhưng liên quan
trực tiếp tình hình trên địa bàn. Do đó chọn phương pháp thảo luận là phù hợp,
khi giao việc nên phân nhóm theo tổ dân cư hoặc xóm với công việc: Tìm hiểu
trong tổ( hoặc xóm) có bao nhiêu hộ gia đình ? Bao nhiêu hộ sinh 1 đến 2 con,
bao nhiêu hộ sinh từ 3 con trở lên? Để làm việc này với giáo viên tới văn phòng
thống kê lưu trữ của xã lấy số liệu liên quan “ Số dân của xã trong thời gian gần
đây, tỉ lệ kết hôn dưới độ tuổi (Tảo hôn), tỉ lệ sinh con vượt kế hoạch ...”
Từ những thảo luận trên các em có thể rút ra những hậu quả việc không thực
ít ô
nhiễm
Công việc
mới
Cần nguồn năng
lượng mới
Hình thành công
nghiệp khác
Cần nguồn năng
lượng mới
Không có hoạt
động công nghiệp
Không khai thác dầu
Công ti dầu phá sản
Đói
nghèo
Thất nghiệp
Các vấn đề xã hội
xảy ra
Thảo luận giữa các nhóm đi đến kết luận: Môi trường sống có nhiều đối
tượng: Vô cơ, hữu cơ.Các đối tượng đang bị đe dọa dưới tác động của con
người.
Trên đây là tập hợp 7 phương pháp Giaó dục môi trường mà bản thân tôi
nhận thấy có khả năng thực hiện được trong chương trình địa lí lớp 7 và đem lại
kết quả cao ở địa bàn đang công tác. Ngoài ra còn có một số phương pháp khác
mà các quí bạn đọc có thể tham khảo thêm: Phương pháp gạn lọc giá trị, phương
pháp động não, phương pháp giao việc về nhà, phương pháp nghiên cứu tình
huống, phương pháp đóng vai.
d, Giải pháp 4: Lựa chọn hình thức tổ chức dạy học GDMT:
- Hoạt động ngoại khóa: Đây là một hình thức mang tính chất tự nguyện của học
sinh dưới sự hướng dẫn của giáo viên, để mở rộng bổ sung kiến thức Giáo dục
môi trường đã được dạy trong nội khóa. bao gồm các hoạt động sau:
+ Báo cáo ngoại khóa về môi trường.
+ Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu môi trường địa phương đất nước
+ Tổ chức nghiên cứu môi trường địa phương.
+ Tổ chức tham quan môi trường.
+Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường ở nhà trường
và địa phương.
+ Tổ chức các câu lạc bộ môi trường.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
14
Giáo dục môi trường qua môn địa lí là một điều kiện hết sức thuận lợi so
với phân môn khác bởi nó mang yếu tố tự nhiên và gần gũi với con người thực
tế hơn . Với môn Địa Lí tôi đã vận dụng vào học sinh và cũng đã áp dụng từ
năm 2015 – 2016. Trong năm học 2016 – 2017 tôi cũng tiếp tục triển khai ở
phạm vi rộng hơn.
- Bài kiểm tra thứ nhất: Bằng câu hỏi trắc nghiệm sau tiết học
ý thức tăng 22,4% đặc biệt là số học sinh đã biết vận dụng, tăng lên 16,0 %.
Những kết quả trên tuy chỉ mới bước đầu trong quá trình thực hiện việc gắn kết
Giáo dục môi trường trong việc dạy và học tập địa lí cũng như trong quá trình
theo dõi thực nghiệm của bản thân tại địa phương nhưng. Với tôi nhận thấy đây
là một kết quả đáng mừng trong quá trình giáo dục môi trường vào trong dạy
học môn Địa Lý ở THCS nói chung và Trường THCS Thị Trấn nói riêng .
III. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
15
1.Kết luận.
Sau một thời gian tìm hiểu và vận dụng : “ Một số biện pháp giáo dục môi
trường tạo hứng thú học tập cho học sinh THCS thông qua môn Địa lý ."
Giáo viên đã giúp học sinh mở rộng hiểu biết về môi trường địa phương, đất
nước, toàn cầu; Phát triển khả năng tiềm ẩn trong học sinh ( Vẽ, viết, sáng
tác...); Rèn luyện kỹ năng nghiên cứu ( Tìm tòi, thu thập, phân tích ....) ; Mở
rộng tầm nhìn về môi trường tự nhiên, xã hội.Giáo dục lòng yêu thiên nhiên.
Bên cạnh đấy tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường ở
nhà trường và địa phương. Từ đó giúp học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng đã
học vào thực tế và tổ chức các câu lạc bộ môi trường thông qua đó gây hứng thú
học tập cho học sinh.
Từ đó giúp học sinh thân thiện với môi trường, có ý thức về môi trường và
bảo vệ môi trường. Từ ý thức đến hành vi, từ ý thức đến trách nhiệm. Các em
phải thể hiện được bằng việc làm cụ thể đơn giản như dọn vệ sinh sạch sẽ trong
lớp học, ngoài hành lang, trên sân trường. Các em có thói quen không vứt rác
bừa bãi, không bẻ cây, hái hoa trong sân trường. Khi ra xã hội các em có ý thức
giữ gìn vệ sinh nơi công cộng, lớn lên các em trở thành những người lao động
có ích cho xã hội, có kỉ luật lao động, biết quan tâm đến môi trường, giữ gìn và
bảo vệ môi trường tốt đẹp. Và trong tương lai không xa đất nước Việt Nam sẽ
mong sự đóng góp chân thành của đồng nghiệp để đề tài hoàn thiện và áp
dụng vào giảng dạy thực tế nhằm giáo dục môi trường tạo hứng thú học tập
cho học sinh trong học tập môn địa lý THCS.
Tôi xin chân thành cám ơn!
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,
không sao chép nội dung của người khác.
Nông Cống, ngày 25 tháng 4 năm 2017
Người viết sáng kiến
Nguyễn Thị Hồng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
17
TT
1
2
3
4
5
6
7
Tên tài liệu
Dân số môi
trường tài nguyên
Tư liệu dạy học
Nguyễn Dực – Phan Huy
Xu – Nguyễn Hữu Danh
Nhà xuất bản giáo dục –
2015
Nhà xuất bản giáo dục –
2015
Nhà xuất bản giáo dục –
2015
Một số tài liệu
khác có liên quan
18