Một số biện pháp chỉ đạo hoạt động nghiên cứu khoa học và tham gia cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học đạt hiệu quả cao tại trường THCS tam lư huyện quan sơn - Pdf 44

MỤC LỤC
NỘI DUNG

Trang
MỤC LỤC
1
1. MỞ ĐẦU
2
1.1. Lí do chọn đề tài
2
1.2. Mục đích nghiên cứu
3
1.3. Đối tượng nghiên cứu
3
1.4. Phương pháp nghiên cứu
3
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
4
2.1. Cơ sở lí luận:
4
2.2. Thực trạng các biện pháp chỉ đạo NCKH và tham gia Cuộc thi
5
KHKT dành cho học sinh trung học tại các trường trên địa bàn
huyện Quan Sơn.
2.3. Một số biện pháp chỉ đạo hoạt động NCKH và tham gia Cuộc
6
thi KHKT dành cho học sinh trung học tại trường THCS Tam Lư
huyện Quan Sơn:
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo
15
dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường.

thi sáng tạo khoa học kỹ thuật các cấp dành cho học sinh trung học nhằm khyến
khích học sinh trung học sáng tạo kỹ thuật, công nghệ và vận dụng kiến thức của
các môn học vào giải quyết những vấn đề thực tiễn. Đồng thời, qua đó góp phần
đổi mới hình thức tổ chức dạy học; đổi mới hình thức và phương pháp đánh giá
kết quả học tập; phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh; thúc đẩy giáo viên
tự bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ; nâng cao chất lượng dạy
học trong các cơ sở giáo dục trung học. Những sản phẩm, hay dự án có triển vọng
áp dụng vào thực tế sẽ được các cơ sở nghiên cứu khoa học bảo trợ tạo cơ hội để
học sinh trung học giới thiệu kết quả nghiên cứu KHKT của mình; tăng cường
trao đổi, giao lưu văn hóa, giáo dục giữa các địa phương và hội nhập quốc tế.
Hiện nay chúng ta đang sống trong thế kỉ của nền kinh tế tri thức với sự
phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, hơn bao giờ hết khoa học kỹ thuật và
công nghệ biểu hiện như là nguồn lực cơ bản nhất, như là “chìa khóa” của sự phát
triển kinh tế xã hội. Kế thừa tư tưởng đúng đắn của Hồ Chí Minh về vai trò của
khoa học kỹ thuật và lấy đó làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng chiến lược
phát triển khoa học và công nghệ trong thời kỳ mới, tại Đại hội lần thứ IX Đảng ta
tiếp tục khẳng định: “Cùng với giáo dục và đào tạo, phát triển khoa học và công
nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước”. Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ sẽ tiếp
thêm sức mạnh, chắp cánh cho đất nước ta trên con đường phát triển, vươn lên
''sánh vai với các cường quốc năm châu'' như ước nguyện của Người.
Trên thực tế, nghiên cứu khoa học vẫn còn là một hoạt động khá mới mẻ và
khó với học sinh các trường trung học cả nước nói chung và trên địa bàn các
huyện miền núi, vùng sâu vùng xa như huyện Quan Sơn nói riêng. Hầu hết các em
đều rất bỡ ngỡ, nhưng khi nhà trường triển khai, tổ chức các hoạt động rộng khắp
trên phạm vi toàn trường thì hầu hết học sinh rất tự tin, chủ động khám phá tìm
tòi. Bởi theo tôi, khi các em thi học sinh giỏi các môn văn hoá là học sinh làm
theo ý tưởng của người khác, không có tương tác, còn nghiên cứu khoa học hay
tham gia Cuộc thi khoa học kỹ thuật thì ý tưởng là của các em, vận dụng kiến thức
để thực hiện ý tưởng cũng là do các em. Các em được tương tác, được thực hiện

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn, bao gồm: Phương pháp quan sát;
Phương pháp trao đổi, phỏng vấn giáo viên bộ môn; Phương pháp điều tra;
Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
- Phương pháp phân tích, xử lý tài liệu.
- Phương pháp thống kê toán.

2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1. Cơ sở lí luận:
2.1.1. Một số khái niệm có liên quan:
- Nghiên cứu khoa học (NCKH): Là quá trình nhận thức khoa học, là hoạt
động trí tuệ đặc thù bằng những phương pháp nghiên cứu nhất định để tìm ra một
cách chính xác và có mục đích những điều mà con người chưa biết đến hoặc biết


chưa đầy đủ, tức là tạo ra sản phẩm mới dưới dạng tri thức mới về nhận thức hoặc
phương pháp.
- Sáng chế: Là một giải pháp kỹ thuật mới về nguyên lý kỹ thuật, tính sáng
tạo và áp dụng được. Sáng chế có khả năng áp dụng nên có ý nghĩa thương mại,
được cấp bằng sáng chế độc quyền (patent), có thể mua bán bằng sáng chế, cấp
giấy phép sử dụng (licence) v à được bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
- Khoa học kỹ thuật (KHKT):
+ Khoa học là hệ thống các kiến thức về các quy luật của tự nhiên, xã hội và
tư duy dựa trên những phương pháp được xác định để thu nhận kiến thức.
+ Kỹ thuật: thông thường được hiểu là toàn bộ các thiết bị, phương tiện,
máy móc và công cụ vật chất nằm trong tư liệu sản xuất để quản lý, khai thác, bảo
quản và chế tạo các sản phẩm dùng cho sản xuất và thỏa mãn các nhu cầu của đời
sống xã hội.
2.1.2. Cuộc thi khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học:
- Là cuộc thi do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức trên phạm vi toàn quốc,

- Công văn số 259/PGD&ĐT ngày 04/8/2015 của Phòng Giáo dục và Đào tạo
huyện Quan Sơn hướng dẫn triển khai hoạt động NCKH dành cho học sinh trung
học năm học 2015 -2016.
2.2. Thực trạng các biện pháp chỉ đạo NCKH và tham gia Cuộc thi
KHKT dành cho học sinh trung học tại các trường trên địa bàn huyện Quan
Sơn.
2.2.1. Thực trạng chung:
Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế thi NCKH và tổ chức Cuộc thi
KHKT cho học sinh trung học ngay từ năm học 2012-2013, tuy nhiên vì nhiều lí
do khác nhau đến những năm gần đây, đặc biệt là năm học 2015-2016 ngành Giáo
dục và Đào tạo huyện Quan Sơn mới phát động phong trào NCKH và tổ chức
Cuộc thi KHKT cấp huyện, tuyển chọn dự án tham gia cấp tỉnh. Việc nghiên cứu
khoa học kỹ thuật của học sinh trung học từ trước tới năm 2012 đã có nhưng mới
dừng lại ở các ý tưởng sáng tạo, về cơ bản vẫn là trên lý thuyết. Các trường trung
học trên địa bàn huyện Quan Sơn hầu như chưa được tiếp cận với hoạt động
nghiên cứu khoa học này. Tháng 10 năm 2015 phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức
vòng chung kết cuộc thi cấp huyện, số lượng và chất lượng các đề tài tham dự
Cuộc thi nhiều và chất lượng, đã đáp ứng được nhu cầu cần có một sân chơi khoa
học lý thú, hấp dẫn, đồng thời có tác động tích cực đến phong trào NCKH trong
các nhà trường. Kỹ năng học tập, làm việc nhóm, lập luận, trình bày…của học
sinh được cải thiện, góp phần thúc đẩy việc thay đổi phương pháp dạy học theo
hướng tích cực hiện nay; tạo sân chơi mới lý thú, bổ ích, hấp dẫn; bồi dưỡng cho
học sinh kể cả giáo viên kỹ năng phương pháp NCKH; hỗ trợ tích cực cho hoạt
động chuyên môn trong nhà trường, giúp học sinh biết vận dụng kiến thức trong
sách vở vào giải quyết các vấn đề thực tiễn cuộc sống, làm quen sớm với NCKH.
Cuộc thi còn góp phần đưa giáo dục hội nhập tốt hơn và giúp chúng ta nhận rõ
hơn điểm yếu của học sinh từ đó có hướng bồi dưỡng, hỗ trợ; là cơ hội huy động
sự quan tâm, tham gia mạnh mẽ từ các tổ chức xã hội, các cơ sở NCKH, các
doanh nghiệp… đối với các trường phổ thông.
Dù mới là những bước đi ban đầu với vô vàn những khó khăn nhưng hoạt

NCKH; các trường chưa có chiến lược cho việc hình thành và phát triển phong
trào NCKH của học sinh.
Việc “nhóm lửa” - phát huy khả năng khám phá, tư duy độc lập, sáng tạo và
NCKH ở học sinh phổ thông còn nhiều hạn chế, rào cản. Số lượng, chất lượng các
đề tài chưa phát huy tiềm năng trí tuệ, sáng tạo của học sinh, một số học sinh chưa
hứng thú với NCKH, thậm chí một số ít em được phỏng vấn vẫn còn chưa biết đến
sân chơi khoa học bổ ích này tạo ra là cho mình (cho rằng sân chơi này là của đội
học sinh giỏi và của giáo viên). Học sinh vẫn còn gặp khó khăn trong xác định ý
tưởng, lựa chọn đề tài và thời gian giành cho NCKH. Chính vì vậy, hàm lượng
khoa học chưa cao, chưa đáp ứng với những vấn đề xã hội quan tâm.
Ngoài ra, một số giáo viên còn hạn chế về kỹ năng, phương pháp NCKH từ
đó dẫn đến tâm lý ngại hướng dẫn NCKH cho học sinh, thiếu niềm tin vào công
tác NCKH của các em; Thiếu các cơ chế, chính sách tạo động lực và nguồn tài
chính hỗ trợ cho hoạt động NCKH của học sinh; Cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các
trường chưa đáp ứng cho hoạt động NCKH; Tâm lý một số phụ huynh không
muốn cho con em mình tham gia hoạt động NCKH vì e sợ sẽ ảnh hưởng đến kết
quả học tập nên thiếu sự ủng hộ và động viên khuyến khích.
2.3. Một số biện pháp chỉ đạo hoạt động NCKH và tham gia Cuộc thi
KHKT dành cho học sinh trung học tại trường THCS Tam Lư huyện Quan
Sơn:
2.3.1. Chỉ đạo tổ chức tuyên truyền nâng cao nhận thức:
Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán bộ giáo viên, phụ huynh, học sinh,
các tổ chức chính trị, doanh nghiệp trên địa bàn xã về mục đích, ý nghĩa, kế hoạch
của hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung và Cuộc thi khoa học kỹ thuật dành
cho học sinh trung học nói riêng bằng nhiều hình thức sinh động phong phú.
Sau khi đã lựa chọn nội dung kế hoạch, mục đích, ý nghĩa của NCKH và
Cuộc thi KHKT thì việc sử dụng các hình thức và biện pháp một cách linh hoạt là
yếu tố quan trọng góp phần tạo nên hiệu quả thiết thực trong công tác tuyên
truyền.
Cá nhân tôi đã chỉ đạo lựa chọn các hình thức tuyên truyền cụ thể sau:

Dự trù, phân bố kinh phí cho công tác NCKH và Cuộc thi KHKT với tư cách
một hoạt động thường niên, song song với hoạt động bồi dưỡng học sinh giỏi các
môn văn hoá. Bởi hoạt động NCKH và Cuộc thi KHKT có nhu cầu kinh phí lớn,
nếu lãnh đạo nhà trường thiếu sự chỉ đạo ưu tiên kinh phí, hoặc chưa huy động hết
các nguồn lực tài chính nhằm mục đích chú trọng hoạt động NCKH và Cuộc thi
KHKT chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn, chí ít sẽ bị động, lúng túng.
2.3.3. Thành lập Ban chỉ đạo và Hội đồng khoa học trường theo hướng
dẫn để xây dựng kế hoạch, triển khai đầy đủ các hoạt động NCKH và tổ chức
Cuộc thi KHKT:
Thành phần Ban chỉ đạo, Hội đồng khoa học cấp trường do hiệu trưởng nhà
trường ra quyết định thành lập, bao gồm 01 lãnh đạo nhà trường, giáo viên có
chuyên môn thuộc lĩnh vực của dự án nghiên cứu theo kinh nghiệm của tôi có thể
mời thêm một số nhà khoa học, chuyên gia có sẵn trên địa bàn khi cần thiết (ví dụ
có thể mời thêm cán bộ Nông trường, Kiểm lâm… đối với dự án liên quan đến bảo
tồn hệ sinh thái rừng).
Ví dụ:


- Đề tài “Máy cắt nứa vầu đa năng” của em học sinh Vi Quốc Việt đạt giải
Ba cấp tỉnh, nhà trường đã mời ông chủ xưởng cơ khí Xuân Phương đóng trên địa
bàn bản Hậu xã Tam Lư tham gia Hội đồng khoa học cùng nhà trường.
- Đề tài “Phương pháp ươm cây vầu kiểu mới đem lại hiệu quả kinh tế
cao” của em Hà Phạm Tố Uyên, mời ông Vi Văn Tăm- nguyên kỹ sư Lâm trường
Na Mèo về hưu.
Sự vào cuộc, chung tay, sẵn sàng tham gia các hoạt động NCKH và Cuộc thi
KHKT của các đội ngũ chuyên gia, những người am hiểu về các lĩnh vực liên
quan đề tài dự án của học sinh đã giúp cho việc triển khai rất hiệu quả, ít có sự sai
lầm, thiếu sót, lãng phí kinh phí trong quá trình đầu tư dự án của nhà trường.
Hội đồng khoa học cấp trường có trách nhiệm thẩm định và
cấp phép triển khai dự án nghiên cứu khoa học. Chỉ những dự án nghiên cứu

hướng dẫn nghiên cứu thứ 2, thứ 3... hoặc là cố vấn khoa học cho dự án khi cần
thiết.


Với chủ chương triển khai hoạt động NCKH bền vững, nên Hội đồng khoa
học nhà trường cần sử dụng tối đa đội ngũ giáo viên của nhà trường để hướng dẫn
học sinh NCKH. Chọn giáo viên nhiệt tình, có nhiều kinh nghiệm và có năng lực
chuyên môn về lĩnh vực liên quan đến dự án của học sinh, đặc biệt là những giáo
viên say mê NCKH, đã hướng dẫn học sinh NCKH đạt giải, đã tham gia nghiên
cứu khoa học (có đề tài nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng, tham gia các đề
tài nghiên cứu khác, giáo viên là Thạc sĩ, Tiến sĩ...) hay những giáo viên có tích
cực, say mê trong tìm tòi, cải tiến kĩ thuật, công nghệ.
Từ thực tế chỉ đạo của trường THCS Tam Lư thời gian qua, theo chúng tôi
các nhà trường có thể khai thác thêm nguồn lực KHKT từ cha mẹ, anh, chị của
học sinh để có được các nhà khoa học, chuyên gia hướng dẫn học sinh nghiên cứu.
Trong giai đoạn đầu triển khai NCKH ở trường trung học, theo cá nhân tôi nhiều
đơn vị còn chưa có kinh nghiệm, nhân lực KHKT của nhà trường còn hạn chế,
trong điều kiện như vậy thì việc mời nhà khoa học, chuyên gia khoa học bên ngoài
nhà trường để hướng dẫn khoa học là cần thiết và đảm bảo cho việc NCKH bài
bản, đúng phương pháp và có chiều sâu. Việc mời nhà khoa học hướng dẫn
NCKH cho học sinh cũng là một cơ hội tốt để cán bộ, giáo viên của nhà trường
học hỏi, trao đổi kinh nghiệm nâng cao trình độ NCKH đề dần dần có thể tự
hướng dẫn học sinh của mình.
Ví dụ:
- Đề tài “Thùng lọc nước cho người dân vùng lũ” của em Hà Mạnh Quang
thuộc lĩnh vực Công nghệ sinh học, nhà trường đã phân công thầy giáo Lê Văn
Cường (CĐSP Hóa Sinh) hướng dẫn.
- Đề tài “Máy cắt nứa vầu đa năng” của em học sinh Vi Quốc Việt thuộc lĩnh
vực Kỹ thuật điện và cơ khí nhà trường phân công thầy giáo Đào Khả Trường
(ĐHSP Vật lí) hướng dẫn.

- Tổ chức Cuộc thi thuyết minh “Ý tưởng khoa học” cho học
sinh trong trường; với điều kiện của một trường chuẩn quốc gia
có phòng Truyền thống rộng rãi chúng tôi đã kết hợp bố trí sắp
xếp có đủ không gian để tổ chức Tuần lễ triển lãm ý tưởng. Các
trường chưa có phòng Truyền thống riêng biệt có thể tổ chức tại
các góc tuyên truyền trên sân trường.
- Mở chuyên mục và diễn đàn về NCKH-KT trên trang Web của
nhà trường hoặc tham gia diễn đàn về NCKH-KT trên Internet.
- Giáo viên trao đổi với học sinh về những vấn đề thời sự,
khoa học, những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn và khuyến khích
các em suy nghĩ, trao đổi, đặt câu hỏi về những tình huống, sự
kiện diễn ra trong thực tế cuộc sống để tìm hiểu, xác định vấn đề
cần tìm tòi, khám phá.
- Giáo viên trao đổi trong tổ bộ môn về các ý tưởng nghiên
cứu, những đề xuất cải tiến.
- Tổ chức cho học sinh tham quan, đi thực địa, dã ngoại, quan
sát thực tế.
Ví dụ: Để học sinh có những ý tưởng và dự án liên quan quá
trình cải tiến các máy chế biến lâm sản trên địa bàn xã Tam Lư,
nhà trường đã tạo điều kiện, phối hợp với các xưởng chế biến tại
các bản gần gũi trên địa bàn giúp các em có những tiếp xúc trực
tiếp, tìm hiểu nguyên lí cấu tạo của hệ thống các máy móc:
xưởng chế biến tăm, mành (bản Hậu, bản Piềng Khóe); xưởng chế
biến đũa (bản Hát, bản Muống); xưởng chế biến gỗ dân dụng, gỗ
cốt pha (bản Sại); xưởng cơ khí Phương Xuân (bản Hậu)…
- Hướng dẫn học sinh tìm hiểu các bài báo trên báo Đội, công
trình khoa học, trao đổi với nhà khoa học, chuyên gia, các cơ sở
sản xuất trên địa bàn (Trạm kiểm lâm, Nông trường Na Mèo,
Trung tâm y tế dự phòng, Bệnh viện Đa khoa, Trạm khuyến
nông…) để tìm ra những vấn đề cần nghiên cứu, cải tiến.

tiếp theo nhà trường chỉ đạo các tổ chuyên môn phân theo lĩnh vực tương ứng góp
ý và Hội đồng khoa học duyệt đề cương các dự án nhằm đảm bảo đúng tiến độ,
điều chỉnh, xử lí các vấn đề phát sinh (nếu có). Hội đồng khoa học trong quá trình
duyệt đề cương đã chú ý những vấn đề cụ thể sau:
- Về tính khoa học, tính khả thi của đề tài.
- Qua việc đánh giá chính xác tính khả thi của đề tài, hội đồng khoa học
sẽ quyết định chọn những đề tài nào đưa vào thực hiện.
- Từ đó nhà trường có thể chủ động trong việc bố trí kinh phí và các
điều kiện khác để học sinh tiếp tục thực hiện các bước tiếp theo của đề tài.
Qua thực tế việc chỉ đạo duyệt đề cương cho các dự án của nhà trường,
chúng tôi nhận thấy hoạt động này sẽ giúp các em hạn chế thấp nhất được các sai
lầm vốn có cuả NCKH, một số lớn các đề tài “chệch hướng”, hoặc mới chỉ dừng
lại từ những ý tưởng và nguyện vọng, đôi khi có thể là ý tưởng khá lớn nhưng các
em chưa có đủ thời gian, kiến thức và các điều kiện cần thiết để thực hiện ý tưởng
của mình. Nếu các em tiếp tục nghiên cứu kết quả chưa thật rõ và đôi khi kết luận
còn mang tính chủ quan.
2.3.9. Chỉ đạo triển khai dự án theo kế hoạch:


Sau khi đã có ý tưởng nghiên cứu và có người hướng dẫn nghiên cứu, giáo
viên hướng dẫn nghiên cứu hướng dẫn học sinh lập kế hoạch triển khai dự án
nghiên cứu khoa học.
Trước tiên, cần làm rõ ràng ý tưởng nghiên cứu và xác định những mục tiêu
chính, những nội dung chính của dự án nghiên cứu. Sau khi đã có ý tưởng rõ ràng
về dự án nghiên cứu việc tiếp theo là lập kế hoạch thực hiện bao các phần việc
chính, nhằm quản lí tốt quỹ thời gian cũng như kiểm soát được tiến độ thực hiện
một cách khoa học. Kế hoạch có vai trò như sợi chỉ dẫn đường, có tính linh động
và dễ dàng điều chỉnh chứ không phải là bất di bất dịch.
Những phần việc chính của dự án bao gồm: Tìm hiểu thực trạng, viết đề
cương nghiên cứu, triển khai dự án, viết báo cáo và trình bày bảo vệ kết quả

kiểm tra liên tục để điều chỉnh hướng nghiên cứu khi cần thiết. Cần lưu ý sâu sát
các khâu như:


- Hướng dẫn chọn mẫu, viết phiếu điều tra, lấy phiếu điều tra, ghi chép số
liệu, ghi kết quả thực nghiệm...
- Giúp liên hệ phòng thí nghiệm, theo dõi và giúp đỡ trong quá trình thực
nghiệm, đảm bảo an toàn khi thực hiện các thí nghiệm;
- Hướng dẫn thí sinh thu thập đầy đủ các số liệu, tài liệu;
- Hướng dẫn học sinh viết báo cáo đề tài, viết tóm tắt, chuẩn bị gian trưng
bày (bắt buộc theo qui định), chuẩn bị bài trình bày, tác phong trình bày, trả lời
phỏng vấn (tập luyện cho học sinh)...
- Yêu cầu học sinh cần lưu ý đến từng chi tiết nhỏ, thể hiện tư duy của học
sinh, nghiêm túc, cần cù, tỉ mỉ.
- Luôn hướng đến kiểm thử giả thuyết đã đặt ra và kết quả, số liệu nghiên
cứu phải trung thực. Kết luận phải được rút ra một các thuyết phục và trả lời cho
giả thuyết nghiên cứu;
- Hướng dẫn học sinh tìm kiếm tài liệu và chia sẻ với những người khác để
làm giàu kiến thức; khuyến khích học sinh khám phá, tự tin và tích cực trong
nghiên cứu.
Trong quá trình hướng dẫn các dự án khoa học, kỹ thuật, cá nhân tôi đã liên
hệ với các cơ quan như Trung tâm y học dân tộc, Y tế dự phòng, Nông trường Na
Mèo để xin được hỗ trợ, tư vấn về kỹ thuật, về các thông số khoa học liên
quan đến dự án của các em.
2.3.10. Tổ chức chỉ đạo viết báo cáo khoa học:
Yêu cầu học sinh viết báo cáo khoa học là một việc khó, bởi các em chưa
được làm quen. Tuy nhiên cần kiên trì hướng dẫn các em yêu cầu cần có của một
báo cáo, đó là sự rõ ràng và súc tích, dễ đọc, ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề;
dễ hiểu, rành mạch. Chúng tôi đã xây dựng bố cục, yêu cầu học sinh trình bày
theo mẫu với các phần theo thứ tự sau:

nêu rõ và chứng minh.
Kết luận hợp lý và được chứng minh, có mối liên quan chặt chẽ giữa các giả
thuyết và kết luận.
Đặc thù tâm lí học sinh miền núi và vùng dân tộc như trường THCS Tam Lư
hay rụt rè, ngại giao tiếp, việc biểu đạt ngôn ngữ chưa phong phú, thiếu tính biểu
cảm nên nhà trường đã tổ chức cho học sinh báo cáo thử để điều chỉnh, tập dượt
dần khả năng trình bày thuyết minh trước hội đồng hoa học các cấp. Thuyết minh
là phần quan trọng, thể hiện hiểu biết và năng lực nghiên cứu của học sinh thực
hiện dự án. Năm học 2015-2016 học sinh nhà trường có dự án “Cải tiến máy thái
sắn” là dự án của một nhóm học sinh, Hội đồng khoa học nhà trường đã định
hướng cho các em cần có sự phối hợp giữa các thành viên khi thuyết minh. Nhằm
đảm bảo sự hài hòa, kích thích sự hứng thú, tạo điều kiện cho tất cả các em đều
được góp phần mình trong quá trình thuyết minh.
2.3.11. Trưng bày dự án (poster)
- Xác định tầm quan trọng: Gian trưng bày là một bộ phận không thể
thiếu của một đề tài dự thi, khâu quyết định cuối cùng sự thành công của dự án.
- Gian trưng bày phải làm nổi bật được nội dung chính của đề tài, giúp
cho người xem nắm bắt đề tài nhanh nhất.
- Gian trưng bày phải được sắp xếp ngăn nắp, hợp lí, thể hiện tính khoa
học và tính thẩm mỹ.
Những dự án nhận được sự được đồng ý cho tham dự cuộc thi của ban tổ
chức phải chuẩn bị cho việc trưng bày dự án tại cuộc thi. Ban tổ chức sẽ cung cấp
cho mỗi dự án một gian trưng bày tại khu vực trưng bày dự án của cuộc thi. Khi
chuẩn bị gian trưngbày cần chú ý:
- Tìm hiểu quy định về trưng bày của cuộc thi: thời gian, địa điểm, kích
thước, những vật được phép và không được phép... Việc trưng bày dự án trong
gian trưng bày phải tuân thủ quy định an toàn của cuộc thi KHKT quốc gia.
- Gian trưng bày phải làm nổi bật được nội dung chính của đề tài để giám
khảo, người xem nắm bắt đề tài nhanh nhất. Hầu hết giám khảo nhìn vào gian
trưng bày trước khi phỏng vấn.

Poster không nên quá nhiều chữ mà cần được sơ đồ hóa (Phụ lục 2)
2.3.12. Tổ chức thi cấp trường
Thời gian tổ chức thi cấp trường trong khoảng tháng 10, 11 hàng năm khi đã
chuẩn bị đầy đủ điều kiện:
- Hoàn thành hồ sơ dự án gồm:
+ Sản phẩm hoặc mô hình hoàn thiện
+ Báo cáo khoa học.
+ Báo cáo tóm tắt khoảng 250 từ.
+ Bản trình chiếu Power Point (trình bày khoảng 7 phút).
- Các đề tài dự toán kinh phí gửi lên lãnh đạo nhà trường .
- Đề xuất về việc sử dụng cơ sở vật chất (phòng trưng bày).
- Cơ cấu giải, mức độ thưởng .
- Nhà trường duyệt điều kiện, kinh phí .
- Thành lập Ban tổ chức, Ban giám khảo Cuộc thi.
- Chọn dự án thi cấp tỉnh; Tổng kết, trao giải, rút kinh nghiệm.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với
bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
2.4.1. Kết quả thực hiện:


a. Kết quả tích cực:
Năm học 2015-2016 trường THCS Tam Lư đã tổ chức tương đối thành công
các hoạt động NCKH và tham gia Cuộc thi KHKT các cấp. Trong tổng số 12 dự
án dự thi cấp trường có 2 dự án lọt vòng chung kết cuộc thi cấp huyện đạt giải
Nhì, Khuyến khích;1 dự án tham dự vòng chung kết cấp tỉnh đạt giải Ba duy nhất
của huyện Quan Sơn (Phụ lục 3)
Phần lớn các đề tài có nội dung và phương pháp nghiên cứu phù hợp, thực
hiện tiến trình nghiên cứu, ghi chép nhật trình và trình bày báo cáo khoa học theo
đúng yêu cầu của một công trình khoa học. Đa số các dự án có tính sáng tạo ở
mức độ khác nhau. Nhiều đề tài tiếp cận những vấn đề lớn có tính khái quát hoặc

3.1. Kết luận:
Hoạt động NCKH và Cuộc thi KHKT thực sự đã giúp cho các em học sinh
khả năng, hiểu biết mà những năng lực này được hình thành, tích lũy dần qua
nghiên cứu, học hỏi. Hoạt động NCKH và Cuộc thi KHKT còn góp phần triển


khai thực hiện chủ trương tăng cường thí nghiệm, thực hành; chủ trương dạy học
phân hóa theo năng lực học sinh góp phần nâng cao chất lượng, đóng góp cơ sở
thực tiễn, cơ sở lý luận cho việc triển khai đổi mới đồng bộ hình thức tổ chức dạy
học.
Trong tiến trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo hiện nay thì đổi
mới giáo dục phổ thông đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu của hoạt động
NCKH, là sân chơi bổ ích giúp các em áp dụng những kiến thức đã học vào cuộc
sống, học đi đôi với hành; tiếp cận, làm quen với phương pháp, kỹ năng NCKH,
tạo đà cho các bậc học tiếp theo; tạo sự tự tin, tìm tòi và sáng tạo; rèn luyện cách
làm việc tự lực, làm việc nhóm, tính tích cực, chủ động, hứng thú trong học tập và
sinh hoạt. Từ đó phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu cho học sinh ở một số môn
học có liên quan, phát hiện các tài năng để bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.
NCKH trong nhà trường là một trong những nội dung cần được đẩy mạnh,
nhằm thực hiện mục tiêu đổi mới căn bản toàn diện nền giáo dục. Để phát huy
những lợi ích trên, hoạt động NCKH phải được chú trọng ngay trong độ tuổi học
trò, có như vậy mới có cơ sở xây dựng và phát triển được đội ngũ nhân lực chất
lượng cao cho xã hội.
3.2. Kiến nghị:
3.2.1. Với Phòng Giáo dục và Đào tạo:
- Đẩy mạnh công tác tuyền truyền: Tổ chức truyền thông rộng rãi về mục
đích, ý nghĩa, nội dung, kế hoạch các cuộc thi, hội thi đến các đơn vị chức năng,
cán bộ, giáo viên, học sinh, phụ huynh học sinh và cộng đồng xã hội, từ đó nâng
cao nhận thức cho các đơn vị, cá nhân, xã hội và chất lượng giáo dục đào tạo;
- Nâng cao năng lực nghiên cứu cho học sinh và giáo viên: Tổ chức các


Quan Sơn, ngày 20 tháng 4 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.

Nguyễn Ngọc Huynh


Phụ lục 1.

DANH SÁCH DỰ ÁN, TẬP THỂ VÀ CÁ NHÂN ĐẠT GIẢI TẠI CUỘC THI KHOA HỌC KỸ THUẬT DÀNH CHO HỌC
SINH TRUNG HỌC CẤP HUYỆN LẦN THỨ NHẤT NĂM HỌC 2015 – 2016

(Kèm theo Quyết định số: 205 /QĐ- PGD&ĐT ngày 11 tháng 12 năm 2015 của Trưởng Phòng GD&ĐT)

TT

1

Tên dự án

Sử dụng vật liệu dễ tìm kiếm để chế tạo công tắc
tự động bật, tắt đèn điện khi đóng, mở cửa phòng
dùng cho nhà vệ sinh học sinh của trường THCS DTNT Quan Sơn nhằm tiết kiệm điện
Triết suất tinh dầu từ cành và lá quế quy mô hộ
gia đình

2


09/06/2001

9A

12/07/2001

9

Họ tên giáo
viên hướng
dẫn

Xếp
giải

THCS - DTNT Quan
Sơn

Mai Quang
Huy

Nhì

TH&THCS Thị trấn Quan
Sơn

Phạm Hoài
Nam

Nhì


4

Thiết bị lọc nước sông, suối thành nước trong,
sạch dùng trong sinh hoạt cho khu vực nông thôn,
miền núi huyện Quan Sơn

Kỹ thuật
môi trường

1

Phạm Tuấn
Minh

12/01/2001

9B

PTDT bán trú THCS
Na Mèo

5

Tự làm bẫy chuột treo tường từ ng nước PVC
110 để bắt chuột từ trên cao xuống

Kỹ thuật cơ
khí



8B

PTDT Bán Trú THCS
Tam Thanh

Nguyễn
Tuấn Lâm

KK

THCS Tam Lư

Đào Khả
Trường
Nguyễn
Văn
Dương

Nhì
Nhì


7

Bình nước nóng sử dụng năng lượng mặt trời

KH môi
trường


Huyên

Thùng rác hai ngăn

KH môi
trường

2

Lê Xuân Tú

12/01/2001

9

9

Tự điều chế nước Javel để khử trùng, t y sạch nhà
vệ sinh, sử l bể phốt ở trường THCS - DTNT
Quan Sơn

Hóa học

1

Lê Hoàng
Kiên

20/10/2001


11

Cải tiến công tắc điện VINAKIP 2 cực thành
công tắc 3 cực để phục vụ học thực hành lắp
mạch điện cầu thang môn Công nghệ 8, 9 tại
trường THCS - DTNT Quan Sơn

Kỹ thuật cơ
khí

1

Hà Văn Tựng

18/03/2001

9A

THCS - DTNT Quan
Sơn

Mai Qu
Huy

Máy hút bụi mini

Kỹ thuật
điện - cơ
khí


Nguyễn Văn
Lâm

PTDT BT THCS Sơn
Điện

Phạm
Quang
Cảnh

12

13

01/10/2002

05/06/2001

Giải Khuyến khích (KK)
Danh sách trên gồm: 13 dự án, 16 học sinh và 13 giáo viên hướng dẫn

8

9


Phụ lục 2


Phụ lục 3


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status