MỤC LỤC
Đề Mục
Mục lục
I. MỞ ĐẦU
Trang
1
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục đích nghiên cứu
3. Đối tượng nghiên cứu
4. Phương pháp nghiên cứu
II. NỘI DUNG
1. Cơ sở lý luận
2. Thực trạng vấn đề
2.1. Thuận lợi
2.2. Khó khăn
3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
3.1. Giải pháp thứ nhất
3.2. Giải pháp thứ hai
3.3. Giải pháp thứ ba
3.4. Giải pháp thứ tư
3.5. Giải pháp thứ năm
3.6. Giải pháp thứ sáu
3.7. Giải pháp thứ bảy
4. Kết quả đạt được
III. KẾT LUẬN KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
2. Kiến nghị, đề xuất
Tài liệu tham khảo
thôn có chiều hướng ngày càng gia tăng. Điều đó khiến ta không khỏi băn
khoăn, trăn trở và đặt ra hàng loạt câu hỏi. Nguyên nhân nào làm cho tỉ lệ học
1
sinh bỏ học cao như vậy? Chúng ta đã có nhiều biện pháp nhằm giảm tỉ lệ học
sinh bỏ học nhưng tình trạng này vẫn còn ở mức độ cao. Liệu những biện pháp
đó có hiệu quả không ? Có còn biện pháp nào giúp ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng
học sinh bỏ học hiệu quả hơn không?
Với tư cách là một giáo viên giảng dạy ở vùng miền núi đặc biệt khó
khăn, đại đa số các em xuất thân từ gia đình dân tộc thiểu số, hoàn cảnh thiếu
thốn. Bản thân tôi nhiều năm làm công tác chủ nhiệm nên tôi muốn chia sẻ với
các đồng nghiệp “Một số biện pháp nhằm huy động học sinh bỏ học ra lớp và
duy trì sĩ số tại lớp 6B tại trường THCS Tén Tằn- Mường Lát”. Đó cũng là lí
do tôi chọn đề tài này để nghiên cứu.
Dẫu biết rằng đã có nhiều đề tài của các đồng nghiệp đây đó trên cả nước
viết về vấn đề này, nhưng thiết nghĩ mỗi địa phương, mỗi vùng đều có những nét
đặc trưng riêng, không phải SKKN nào cũng được áp dụng ở mọi nơi trên đất
nước ta, mà để áp dụng được thì phải phù hợp với tình hình cụ thể.
Vì vậy khi làm đề tài này tôi đã cố gắng không lặp lại những gì mà mọi
người đã viết, chỉ sử dụng những kinh nghiệm mà bản thân đã học hỏi và tự rút
ra trong thực tiễn.
Tôi rất mong các đồng nghiệp hãy xem đây là một tư liệu để tham khảo,
học hỏi và áp dụng thực tiễn.
2. Mục đích nghiên cứu
Trong đề tài này tôi sẽ đi sâu, phân tích, tìm hiểu những nguyên nhân dẫn
đến tình trạng học sinh bỏ học, qua đó tìm ra một số giải pháp nhằm giảm thiểu
tình trạng học sinh bỏ học trong thời gian đến.
3. Đối tượng nghiên cứu
ngừng phát triển và đòi hỏi phải có kiến thức và năng lực làm việc, mà bản năng
sinh tồn buộc con người phải tồn tại bằng mọi cách.
Có phải chăng các em sẽ đi vào con đường phạm pháp, điều đó cũng có
nghĩa xã hội phải chịu thêm áp lực về các tệ nạn mà các em sẽ gây ra. Đây chính
là vấn đề nhức nhối và lo âu của xã hội nói chung và ngành giáo dục nói riêng.
2. Thực trạng của vấn đề
2.1.Thuận lợi.
Đội ngũ giáo viên có trình độ, yêu nghề, nhiều giáo viên có thời gian công
tác lâu năm nên có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy và giáo dục.
Sự quan tâm giúp đỡ của các cấp lãnh đạo ở địa phương, các ban ngành,
đoàn thể, cá nhân trong và ngoài nhà trường.
Đa số các em đều ngoan ngoãn, chăm chỉ học tập, lễ phép với thầy cô và
có chí vượt khó trong học tập.
2.2. Khó khăn.
Mường Lát là một huyện vùng cao biên giới nằm ở tận cùng phía Tây Bắc
của tỉnh Thanh Hóa. Cách trung tâm thành phố khoảng 246km, với 110km
đường biên giới giáp nước bạn Lào. Diện tích tự nhiên khoảng 80.865ha, 100%
diện tích là đồi núi, địa hình chia cắt đi lại khó khăn.
Là một huyện mới được chia tách ra từ huyện Quan Hóa cũ vào 3/1997
(Thực hiện theo Nghị định 72/CP). Cho đến nay đã có 8 xã và 1 thị trấn, tổng
dân số đến thời điểm hiện nay là trên 3,4 vạn người, chủ yếu là các dân tộc thiểu
số như: Hmôngz, Thái, Dao, Khơ mú, Mường, và một bộ phận thiểu số người
Kinh. Trong đó chiếm số lượng đông nhất là dân tộc Thái (46%) và dân tộc
HMôngz.
3
Tén Tằn là một xã biên giới nằm ở phía Tây huyện Mường Lát, có 22km
đường biên giới với 09 cột mốc, có cửa khẩu giáp với cụm Sốp Hào huyện Sốp
những mặt tiêu cực đến nhận thức của bà con nơi đây, khi nhận thức chưa tốt thì
điều đó càng tai hại. (01 Học sinh lớp 6 của chúng tôi thuộc bản này bỏ học vì
một lý do rất ngớ ngẩn – xa quá không có xe máy không đi học được(mặc dù
nhà trường đã tìm chỗ ở trọ cho). Rồi có học sinh không có điện thoại quay
phim chụp ảnh được cũng không đi học…)
Từ nhà đến trường không chỉ xa mà còn nguy hiểm
Trong ảnh: Học sinh bản Đoàn Kết đi qua cầu treo
Từ thực tế đó, nhận thức của bà con về việc học của con em mình chưa
được như mong muốn chung của toàn xã, toàn huyện. Việc các em nghỉ học 1
tuần/1 tháng đã là chuyện… bình thường.
5
Đời sống của nhân dân (Đặc biệt là bản Đoàn kết)
Còn nhiều khó khăn
Nhiều học sinh của chúng tôi vẫn phải lao động
để phụ giúp gia đình kiếm sống
Trước khi thực hiện và áp dụng đề tài này, tình hình học sinh lớp 6B bỏ
học học kỳ I năm học 2015 - 2016 như sau:
Bỏ học
Vận đông ra lớp
Học Kỳ
Sĩ số
Học kỳ I
40
4 (2 nữ)
hiểu các em qua hồ sơ, học lực của cấp dưới, đồng thời qua bạn bè trong bản,
các anh chị học lớp trên để tìm hiểu hoàn cảnh của các em.
Nhiều học sinh có hoàn cảnh vô cùng éo le, vất vả Một tỷ lệ khá cao trong
số bỏ học là gia đình mà cha mẹ không hòa thuận, nhiều em bỏ nhà để khỏi nghe
cha mẹ cãi nhau rồi bỏ học luôn, có em hoặc chỉ ở với mẹ, hoặc chỉ ở với bố, với
ông bà nội, ngoại. Việc lo cho con vì thế mà được sao hay vậy. Gia đình (phụ
huynh) là tác động đến nhận thức rất quan trọng đối với học sinh.
Nhiều học sinh vì hoàn cảnh gia đình nên thường xuyên vắng học
Tăng gia lao động để giúp đỡ bố mẹ
7
Về khía cạnh xã hội: Ngay tại địa phương, một số phong trào mang tính
xã hội cao chưa phản ứng kịp thời tình hình này, chưa bổ sung tiêu chí cụ thể
cho nội dung hoạt động hạn chế học sinh bỏ học. Các đoàn thể chưa quan tâm
nhiều đến việc con em của đoàn viên, hội viên bỏ học. Ra khỏi nhà, khỏi trường
là bao nhiêu thứ cám dỗ mà các em chưa đủ bản lĩnh để tránh xa cái xấu. Bên
cạnh đó, phải kể đến tác động mặt trái của cơ chế thị trường: Một số kiếm tiền
bằng mọi giá, bất kể hậu qủa của việc mình làm đến đâu, kể cả dụ dỗ học sinh
chơi trò điện tử, tham gia các trò chơi đỏ đen, các tệ nạn.
Học sinh trường THCS Tén Tằn ra quân hưởng ứng tháng hành động quốc gia
Phòng chống HIV/AIDS năm 2015.
Vì vậy việc tìm hiểu học sinh để từ đó nhìn ra và đoán trước được nguy
cơ các em bỏ học là việc làm rất cần thiết.
3.2. Giải pháp thứ hai : “Chúng ta là một gia đình, lớp học chúng ta là
ngôi nhà”.
Tôi dành thời gian phân tích cho học sinh hiểu khẩu hiệu ấy như sau:
trường chúng tôi, thường rất bỡ ngỡ khi bước vào môi trường học tập mới nhiều
em khi đến lớp còn chưa thông thạo tiếng phổ thông, ngại nói chuyện, khép kín,
thậm chí khi được hỏi cũng không trả lời (Chỉ cười, hoặc cúi mặt xuống). Đa số
các em chậm tiến bộ hay nên đôi khi mặc cảm bản thân. Vì vậy, việc xây dựng
các mối quan hệ đoàn kết là bước đầu rất quan trọng để các em chuyên tâm đến
lớp.
Quan điểm chủ nhiệm của tôi là phải tạo được cảm giác tin tưởng thân
thiện, “hợp tác” vui vẻ thoải mái giữa giáo viên và học sinh lớp mình. Muốn làm
được điều đó trước hết mình phải thân thiện với học sinh, tránh tuyệt đối việc
quát mắng cau có để học sinh sợ sệt ngay từ khi bước vào lớp.
3.3. Giải pháp thứ ba: “Cô trò mình cùng thực hiện”
Đó là câu nói của tôi mỗi khi đưa ra một quy định nào đó đối với học
sinh, xuất phát từ ý thức: giáo viên là tấm gương để học sinh noi theo. Tôi biết,
học sinh sẽ thường xuyên nhìn vào mình để hành động.
Do vậy, đây là nguyên tắc cực kì quan trọng. Nguyên tắc ấy đã giúp tôi
ứng dụng trong một số trường hợp cụ thể sau:
+ Các em được quy định đi học vào lớp đúng giờ, nhưng nếu GV vào lớp
trễ thì sao? Khi có việc gì vào lớp trễ, tôi luôn nói “xin lỗi các em” và đưa ra lí
do, tất nhiên đó phải là lí do chính đáng.
+ Nhà trường quy định: trong giờ học, học sinh không được sử dụng điện
thoại di động. Học sinh vẫn sẽ dùng di động nếu giáo viên còn sử dụng, thế nên,
tôi không bao giờ cầm theo di động vào lớp. Do đó, khi nhắc nhở một số em còn
để chuông điện thoại reo, các em ấy không dám tái phạm.
+ Đoàn, Đội và cấp trên phát động phong trào ủng hộ lũ lụt, ủng hộ nạn
nhân da cam, kế hoạch nhỏ… tôi đều khuyến khích các em tham gia bằng cách
“cô trò mình cùng làm”. Học sinh khi thấy các phong trào có sự tham gia của
GVCN sẽ hiểu rằng đó là việc tốt, quan trọng, ý nghĩa nên các em sẽ hào hứng
hơn.
9
3.5.Giải pháp thứ năm: Nên “Dỗ trước – dạy sau”
Đối với các em học sinh này, bản thân tôi đôi khi cũng phải “lách luật của
lớp” để tạo điều kiện cho các em.
Là một giáo viên chủ nhiệm phải nghiêm khắc trong kỷ luật, nhưng phải
tạo điều kiện cho các em gần gũi để tâm sự giải bày hoàn cảnh của bản thân em,
hay của bạn. Trong giờ chơi, tìm cách gợi hỏi hoàn cảnh gia đình của học sinh:
“Nhà em đông anh, em không? Em là thứ mấy? Anh, chị còn đi học không? Bố
làm gì? Mẹ làm gì? Ở nhà em học bài cũ mấy giờ? Ngoài việc học em có phải
làm việc gì không?
Để các em dạn dĩ hơn khi tâm sự, tôi tạo điều kiện dẫn dắt bằng cách kể
lại: “Ngày xưa, bằng các em cô cũng… (Tôi cho các em nghe khi bằng tuổi các
em mình cũng có những hành vi, suy nghĩ, việc làm như ở độ tuổi các em bây
giờ). Từ sự dẫn dắt khéo léo đó, các em sẽ dạn dĩ, tâm sự mọi việc cho chúng ta
rõ rất nhiều về hoàn cảnh từng em học sinh: từ việc học tập, vui chơi, giải trí,
sinh hoạt, . ở nhà của các em, tôi cũng nắm được một cách rõ ràng.
10
Đúng như Ông cha ta có câu: “Ra đường hỏi già, về nhà hỏi trẻ”. Khéo
léo, chúng ta sẽ được nghe các em tâm sự rất nhiều, kể cả nhiều việc các em
chẳng bao giờ dám nói với cha, mẹ của mình. Từ đó, chúng ta điều tra được một
cách rõ ràng về hoàn cảnh của các em, từ đó tạo điều kiện cho chúng ta có cách
giúp các em tốt hơn về học tập cũng như đạo đức, đồng thời bản thân giáo viên
cũng gặt hái được một điều rất lý thú: “Đó là các em yêu thương và gần gũi
mình hơn”.
Nhà nước ngày càng quan tâm nhiều hơn
đến nhân dân và học sinh vùng cao.
Ví dụ: Qua cách trên, dù trong những năm dạy dù trường học rất xa nhà,
kiên trì vận động các em đi học; rồi nhẫn nại uốn nắn cho các em làm quen với
việc học.
Vào bản vận động học sinh
là một trong những biện pháp rất quan trọng để duy trì sĩ số.
Thế nhưng tất cả những công sức đó có nguy cơ “mất trắng” sau mỗi dịp
nghỉ hè hoặc nghỉ lễ kéo dài, nhiều học sinh trong thôn bản lại theo cha mẹ đi
làm nương dẫn đến học hành chểnh mảng, quên kiến thức hoặc bỏ học. Chính vì
vậy mà tỷ lệ học sinh đến lớp thường rất thấp. Dù đã hết sức nỗ lực nhưng qua
mỗi mùa hè, mỗi dịp Tết, số học sinh của trường lại “ngót” đi ít nhiều, nhất là ở
các lớp cuối cấp, em trai có khả năng lao động, em gái được nhiều gia đình dạm
hỏi để cưới chồng… (Điển hình như trường hợp em Lương Thị Nhung lớp 8B
gia đình đã tổ chức cưới chồng trước têt nguyên đán.)
Phối hợp với BQL các bản là công việc cần thiết (Ảnh minh họa)
12
Các giáo viên cũng đã phối hợp với người có uy tín, trưởng thôn, bản đến
từng nhà học sinh để vận động. Bản thân tôi đã không ít lần phải đến tận các
nương rẫy để vận động, thuyết phục các gia đình cho các em đến trường theo
học. Kết quả có nhiều phụ huynh đã đồng ý tạo điều kiện cho con tiếp tục đến
trường.
Để giải quyết tình trạng học sinh bỏ học thực sự rất nan giải, biện pháp
đầu tiên vẫn là tuyên truyền cho phụ huynh học sinh hiểu được việc cho con đến
trường là cần thiết. Các cấp ủy, chính quyền và đoàn thể như Đoàn thanh niên,
Hội phụ nữ… cần vào cuộc mạnh hơn nữa để hạn chế tối đa tình trạng trẻ em bỏ
học. Bên cạnh đó, các trường cũng cần đổi mới môi trường sư phạm, cải thiện
phương pháp giảng dạy, xây dựng nhiều hoạt động ngoại khóa lành mạnh, hấp
dẫn, khuyến khích học sinh có hứng thú khi đến lớp và coi đó là môi trường bổ
để tình trạng học sinh “ngồi nhầm lớp”.
13
Trong giảng dạy, chú trọng ngay những học sinh có biểu hiện lơ là, sa sút
trong học tập, kết hợp cùng gia đình tìm nguyên nhân và kịp thời bồi dưỡng kiến
thức.
Một biện pháp quan trọng khác là cần khuyến khích, tôn vinh những giáo
viên sau một năm học đã có công giáo dục học sinh cá biệt, học sinh yếu kém.
Thực tế cho thấy, giáo dục một học sinh cá biệt, có học lực yếu kém mất
nhiều công sức, thời gian không kém gì so với việc bồi dưỡng một học sinh giỏi
và chính họ là những người góp phần trực tiếp làm giảm thiểu nguy cơ bỏ học
của học sinh.
Thẳng thắn đấu tranh, góp ý, nhắc nhở nếu có đồng nghiệp có thái độ và
tư tưởng chủ quan, không có tinh thần trách nhiệm trong công tác.
4. Kết quả đạt được.
Sau những năm áp dụng các biện pháp vận động, quản lí và duy trì học
sinh nêu trên, tôi đã đảm bảo được sĩ số học sinh trong lớp mình. Trong năm học
2015 – 2016 này tôi do nhà trường thiếu nhân sự tôi đã tình nguyện chủ nhiệm
lớp 6B, đã có lúc nhiều em học sinh của tôi bỏ học, tôi đã vận động các em ra
lớp và duy trì sĩ số các em bằng các phương pháp đó:
Không chỉ bản thân tôi, mà tôi đã cùng với các đồng nghiệp khác trao đổi
kinh nghiệm tại các cuộc họp, các buổi sinh hoạt tổ chuyên môn nhà trường để
cùng nhau thực hiện tốt nhiệm vụ duy trì sĩ số học sinh.
Cùng với sự quan tâm, đầu tư ngày càng to lớn và kịp thời của Đảng, nhà
nước cũng như chính quyền địa phương, chúng tôi tin rằng tình trạng học sinh
bỏ học sẽ ngày càng giảm dần, chất lượng giáo dục ngày càng được nâng lên.
Kết quả, tính đến thời điểm này (tháng 3 năm 2016) riêng lớp 6B của tôi
chỉ giảm duy nhất có 01 em do đi cùng gia đình đến địa phương khác sinh sống.
Cụ thể như sau:
14
Bên cạnh đó chúng ta nên tìm hiểu rõ nguyên nhân bỏ học cụ thể của từng
trường hợp để có biện pháp sát thực nhằm ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng, nguy cơ
bỏ học của học sinh, đáp ứng mục tiêu giáo dục mà Đảng đã đề ra.
2. Kiến nghị.
Để thực hiện tốt hơn nữa công tác huy động học sinh bỏ học ra lớp và duy
trì sĩ số theo tôi cần một số biện pháp sau:
2.1. Đối với giáo viên chủ nhiệm.
Có sự liên kết thống nhất với nhau trong việc giáo dục các em, luôn thông
báo với nhau về những khuyết điểm của các em nhằm kịp thời chấn chỉnh và có
biện pháp giúp các em tránh tình trạng bỏ học.
2.2. Đối với nhà trường.
Tổ chức các lớp phụ đạo cho học sinh yếu nhằm bù đắp lổ hổng kiến thức
cho các em, giúp các em đuổi kịp chương trình, tạo hứng thú trong học tập cho
các em. Xây dựng trường học thân thiện, đảm bảo mỗi ngày đến lớp là một ngày
vui. Tổ chức các hoạt động ngoại khóa, vui chơi nhằm thu hút các em, tránh tình
trạng các em tham những trò chơi vô bổ.
2.3. Đối với Phòng GD&ĐT, chính quyền và các đoàn thể địa phương.
Tăng cường công tác xã hội hóa giáo dục, quản lí thật tốt các điểm vui
chơi không lành mạnh. Cùng chung tay với nhà trường xây dựng cổng trường
bình yên, giúp đỡ về tinh thần và vật chất cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn
nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
Có các chính sách quan tâm, đầu tư mạnh mẽ hơn về cơ sở vật chất, có
nhà bán trú cho học sinh ở xa, có các phòng chức năng để phục vụ cho công tác
dạy và học.
XÁC NHẬN
CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ