MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT
Bảng 1
Tên bảng số liệu/biểu đồ
Số lượng trường học hiện có đến năm học 2012 –
Trang
36
2013, phân theo cấp học
Bảng 2
Bảng 3
Số lượng giảm học sinh bỏ học qua các năm
Số lượng học sinh bỏ học của 03 xã khó khăn trong
47
48
huyện
Bảng 4
Sự quan tâm của các cơ quan đoàn thể đối với học
49
sinh có HCKK
Bảng 5
Công tác xã hội
NVCTXH
Nhân viên công tác xã hội
BHYT
Bảo hiểm y tế
BLĐTBXH
Bộ Lao động thương binh xã hội
BTXH
Bảo trợ xã hội
ASXH
An sinh xã hội
ILO
Tổ chức Lao động quốc tế
TGXH
Trợ giúp xã hội
trạng chán chường, mặc cảm luôn đè nặng khiến những học sinh này thường dễ
bị kích động, lôi kéo. Từ đó có thể hình thành nên một lượng thanh thiếu niên
3
thất học, lêu lổng, dễ sa vào các thói hư tật xấu như bỏ nhà đi lang thang, gây
gổ, trộm cắp, kết bè phái. Thậm chí một số trường hợp có thể sa vào các tệ nạn
xã hội, vi phạm pháp luật.
Sống trong các gia đình có hoàn cảnh khó khăn như: mất người thân là
trụ cột của gia đình, nghèo đói, HIV/AIDS; có người nghiện ma túy; khuyết tật,
bố mẹ đi tù. Các em học sinh này thường đã khó khăn về dinh dưỡng, sức khỏe
và các điều kiện để học tập hơn nữa tâm lý tự ty, mặc cảm luôn đè nặng lên đôi
vai của các em.Việc đảm bảo học tập và duy trì kết quả cũng như chuyên cần ở
trường là một khó khăn đối với các em.
Đối với các gia đình có hoàn cảnh khó khăn việc cho con em của mình đi
học đầy đủ, cung cấp trang thiết bị cho các em là một sự cố gắng hết sức, ngoài
việc vay mượn, cố gắng kiếm thêm thu nhập họ còn phải hi sinh rất nhiều trong
cuộc sống để đảm bảo con em mình được đến trường. Tuy nhiên, đó là đối với
các gia đình có nhận thức và họ biết được sự quan trọng, tương lai của con em
họ trong việc giáo dục. Bên cạnh đó cũng còn có nhiều gia đình họ có những ý
nghĩ rất đơn giản và tiêu cực bằng việc cho con mình nghỉ học giữa chừng bắt
các em ði làm thuê ðể tãng thêm thu nhập với các công việc nhý: làm giúp việc,
khâu may, khuân vác. Tại các cơ sở vi phạm pháp luật về lao động trẻ em.
Học tập là con đường nâng cao tri thức và mở rộng cánh cửa tương lai
đối với trẻ em nhất là đối với trẻ em nghèo. Do vậy việc tạo dựng nguồn vốn
con người cho nhóm người yếu thế này là hết sức cần thiết nó cần có sự quan
tâm, tham gia của cả cộng đồng.
Gắn với thực tiễn tại huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc.Rất nhiều học
sinh có HCKK không được thụ hưởng các chế độ chính sách xă hội. Hơn nữa,
một bộ phận cán bộ công chức các cấp, các ngành, và một bộ phận dân cư còn
Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững GĐ 2012-2015 tập
trung thực hiện 4 dự án:
Dự án hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó
khăn vùng bãi ngang ven biển, hải đảo.
Dự án hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới,
xã an toàn khu; các thôn, bản đặc biệt khó khăn.
Dự án nhân rộng mô hình giảm nghèo.
Dự án hỗ trợ nâng cao năng lực giảm nghèo, truyền thông và giám sát
đánh giá thực hiện chương trình.
Chiếu theo phân công của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định 148
/QĐ-TTg, Bộ LĐTBXH có nhiệm vụ chủ trì xây dựng và tổ chức thực hiện Dự
án 1,3,4 và UBDT sẽ chủ trì xây dựng và tổ chức thực hiện Dự án 2.
Trong khuôn khổ dự án "Hỗ trợ thực hiện Nghị quyết 80/NQ-CP về định
hướng giảm nghèo bền vững (2011-2020) và Chương trình mục tiêu quốc gia
về Giảm nghèo bền vững (2012-2015)" nhằm hỗ trợ thực hiện Nghị quyết 80
của Chính phủ Việt Nam về định hướng giảm nghèo bền vững 2011-2020 và
Chương trình mục tiêu quốc gia về Giảm nghèo bền vững (20122015),nhóm nghiên cứu đã rà soát, thu thập thông tin, phân tích đối chiếu các
mô hình giảm nghèo của các tổ chức phát triển quốc tế (tổ chức quốc tế và tổ
chức phi chính phủ) nhằm trả lời các câu hỏi lớn sau đây: (i) xác định các mô
hình sáng tạo và các bài học kinh nghiệm về giảm nghèo nhanh và bền vững đã
được áp dụng/thực hiện bởi các tổ chức phi chính phủ (NGOs) cả trong nước và
quốc tế, các đối tác phát triển và cơ quan của Chính phủ và (ii) rà soát, đánh
giá, lựa chọn các khuyến nghị chính sách phù hợp/khả thi nhất về các mô hình
6
sáng tạo trong giảm nghèo của các NGOs, đối tác phát triển để áp dụng cho
CTMTQG-GNBV.
“Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam” của Ngân hàng thế giới tại Việt Nam
bằng không.
Đề xuất các giải pháp của Công tác xã hội nhằm hỗ trợ việc thực hiện các
chế độ chính sách xã hội cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn tại địa phương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: CTXH cá nhân, CTXH gia đình.
Khách thể nghiên cứu: Các gia đình có hoàn cảnh khó khăn và có con em
đang theo hoặc đã bỏ học giữa chừng tại huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc
Các học sinh là con các gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: 13/13xã, thị trấn thuộc huyện Tam Dương tỉnh Vĩnh Phúc.
Thời gian: nghiên cứu được thực hiện từ tháng 10 năm 2014 đến tháng 3
năm 2015.
Giới hạn phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung vào vấn đề thực
trạng, nhận thức của cá nhân, gia đình về vấn đề học tập của học sinh trong các
8
gia đình có hoàn cảnh khó khăn; ngưỡng của sự thành công hoặc thất bại của
mỗi ca cá nhân khi nhận được một nguồn lực tác động vào.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận
Đề tài sử dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử là phương pháp chủ đạo và xuyên suốt đề tài. Từ các luận điểm
nghiên cứu, phân tích, chứng minh đều xuất phát từ thực tế khách quan của đời
sống xã hội. Các giải pháp được tác giả đưa ra đều tôn trọng tính khách quan và
tính lịch sử để phù hợp nhóm học sinh có hoàn cảnh khó khăn
- Cơ sở dữ liệu
Số liệu được sử dụng trong luận văn lấy từ số liệu gốc của Báo cáo theo
dõi tình hình và số lượng trẻ em có hoàn cảnh khó khăn của UBND/LĐTB-XH
huyện Tam Dương. Qua phỏng vấn nhóm tác giả muốn tìm hiểu việc học hỗ trợ
cũng như mức độ quan tâm tới trẻ em trong các gia đình có hoàn cảnh khó khăn
được thực hiện như thế nào, các yếu tố nào ảnh hưởng đến trẻ khi các em đi
học, những khó khăn và thuận lợi ảnh hưởng đến các em khi theo học ở trường.
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Để có kết quả nghiên cứu chính xác, khách quan toàn diện, tác giả sử
dụng phương pháp phỏng vấn sâu dành cho những người giáo viên, gia đình,
các cán bộ địa phương và những người hướng dẫn, phụ trách trực tiếp học sinh
có HCKK. Nhằm tìm hiểu quá trình hỗ trợ giáo dục và dạy nghề đối với học
10
sinh có hoàn cảnh khó khăn trên địa bàn huyện, ngoài ra còn tìm ra các nguồn
lực khác tạo các học bổng hỗ trợ các em tiếp tục đến trường.
6. Ý nghĩa của luận văn
- Ý nghĩa khoa học của đề tài
Nghiên cứu góp phần làm sáng tỏ thêm những lý luận của CTXH khi ứng
dụng vào nghiên cứu một vấn đề cụ thể: Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm
sáng tỏ một số lý thuyết Xã hội học và CTXH như: thuyết nhu cầu, thuyết vai
trò, thuyết trao đổi xã hội, thuyến hệ thống.
- Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đối với Nhà nước: kết quả nghiên cứu có thể giúp cho quá trình hoạch
định, điều chỉnh, bổ sung những chính sách, chiến lược về các đối tượng đặc
biệt quan tâm trong xã hội. Đặc biệt là các gia đình và các cá nhân có hoàn
cảnh khó khăn trong cuộc sống như đói nghèo, bệnh tật, HIV/AIDS, khuyết tật,
nghiện hút, đơn thân…
Đối với địa phương: nghiên cứu sẽ đưa ra một cái nhìn tổng quan về việc
hỗ trợ học sinh và gia đình để đảm bảo duy trì nguồn vốn nhân lực trong xã hội
sau này, góp phần giúp địa phương có những điều chỉnh, quy hoạch, hỗ trợ phù
hợp trong quá trình ban hành các chính sách phát triển kinh tế xã hội, chính
một trong các lý thuyết mà tầm ảnh hưởng của nó được thừa nhận rộng rãi và
được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực giáo dục.
Ðó là “lý thuyết về thang bậc nhu cầu” của con người. Trong lý thuyết này, ông
sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó
các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì các nhu cầu ở mức độ thấp
hơn phải được thỏa mãn trước.
Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc và hệ
thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thường được thể hiện dưới dạng một hình
kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp thì càng xếp phía dưới.
Tầng thứ nhất: Các nhu cầu về căn bản nhất thuộc "thể lý" - thức ăn,
nước uống, nơi trú ngụ, tình dục, bài tiết, thở, nghỉ ngơi.
Tầng thứ hai: Nhu cầu an toàn - cần có cảm giác yên tâm về an toàn thân
thể, việc làm, gia đình, sức khỏe, tài sản được đảm bảo.
Tầng thứ ba: Nhu cầu được giao lưu tình cảm và được trực thuộc - muốn
được trong một nhóm cộng đồng nào đó, muốn có gia đình yên ấm, bạn bè thân hữu
tin cậy.
Tầng thứ tư: Nhu cầu được quý trọng, kính mến - cần có cảm giác được
tôn trọng, kính mến, được tin tưởng.
13
Tầng thứ năm: Nhu cầu về tự thể hiện bản thân - muốn sáng tạo, được
thể hiện khả năng, thể hiện bản thân, trình diễn mình, có được và được công
nhận là thành đạt.
Vận dụng lý thuyết này vào đề tài này ta có thể nhận thấy những nhu cầu
cơ bản mà các em học sinh có HCKK đòi hỏi trong việc thực hiện các hỗ trợ xã
hội là rất chính đáng và cần được đáp ứng đầy đủ, như nhu cầu về học tập,
chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí, nhu cầu về cảm xúc, tâm lý, được hòa
đồng cùng các bạn. Vì thế tác giả vận dụng thuyết này nhằm đánh giá các chế
độ chính sách, hỗ trợ xã hội hiện nay tại huyện Tam Dương đã thực sự đáp ứng
Thuật ngữ vai trò được nhắc đến từ thế kỉ XX với những công trình
nghiên cứu của Horton Coolay, Geogre Herbbert Mead. Thuật ngữ này được
các nhà Xã hội học vay mượn từ kịch bản sân khấu để miêu tả ảnh hưởng như
thế nào đến đời sống xã hội.
Đến nay, thuật ngữ “vai trò xã hội” được sử dụng ngày một rộng rãi với
tư cách là một thuật ngữ khoa học quan trọng. Vai trò xã hội được sử dụng để lý
giải các quan hệ xã hội giữa các cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân với tập thể,
giữa cá nhân với xã hội. Mỗi xã hội có cõ cấu phức tạp bao gồm các vị trí, vai
trò xã hội cho rằng mỗi một cá nhân có một vị trí xã hội là vị trí tương đối trong
cơ cấu xã hội, hệ thống quan hệ xã hội. Nó được xác định trong sự đối chiếu so
sánh với các vị trí xã hội khác. Vị thế xã hội là vị trí xã hội gắn với những trách
nhiệm và quyền hạn kèm theo. Vị thế chính “là bất kì vị trí ổn định nào trong
một hệ thống xã hội với những kì vọng quyền hạn và những nghĩa vụ đặc thù”.
15
Các quyền và nghĩa vụ này thường tương quan với nhau. Phạm vi quyền và
nghĩa vụ hoàn toàn phụ thuộc vào quan điểm của các xã hội, của các nền văn
hóa thậm chí của các nhóm xã hội nhỏ. Nhưng khi xem xét vị trí với những
quyền và nghĩa vụ kèm theo, tức là xem xét vị thế xã hội của cá nhân, chúng ta
sẽ thấy sự khác biệt trong thứ bâc xã hội và thay đổi theo từng xã hội, từng khu
vực.
Mỗi cá nhân có nhiều vị trí xã hội khác nhau do đó cũng có nhiều vị thế
xã hội khác nhau. Những vị thế xã hội của cá nhân có thể là vị thế đơn lẻ, vị thế
tổng quát hoặc có thể chia theo cách khác là: vị thế có sẵn - được gán cho, vị
thế đạt được, một số vị thế vừa mang tính có sẵn vừa mang tính đạt được. Vai
trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội. Những đòi hỏi được
xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội. Trong các xã hội khác nhau thì các
chuẩn mực này cũng khác nhau. Vì vậy, cùng một vị thế xã hội, nhưng trong
các xã hội khác nhau thì mô hình hành vi được xã hội trông đợi cũng khác nhau
cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội, các cơ quan, tổ
chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động
nghiên cứu và hoạt động thực tiễn”
Theo Lê Văn Phú (Giáo trình nhập môn công tác xã hội, Đại học quốc
gia Hà nội). Nhân viên công tác xã hội là người được đào tạo một cách chuyên
nghiệp về CTXH có bằng cấp chuyên môn. Đó là những cán bộ, những chuyên
gia có khả năng phân tích các vấn đề xã hội, biết tổ chức vận động, giáo dục,
biết cách thức hành động nhằm mục đích tối ưu hóa sự thực hiện vai trò chủ thể
của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, góp phần tích cực vào
17
quá trình cải thiện, tăng cường chất lượng sống của cá nhân, nhóm và cộng
đồng .
Cán bộ xã hội là người được đào tạo về CTXH. Họ sử dụng các kiến
thức, kỹ năng CTXH để trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao khả
năng giải quyết vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận
được nguồn lực cần thiết; Thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân
với môi trường; Tạo ảnh hưởng tới chính sách xã hội thông qua hoạt động
nghiên cứu và thực tiễn.
* Trẻ em:
Theo điều 1 của Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em đã được Quốc
hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua số 25/2004 QH11
ngày 16 tháng 6 năm 2004 quy định: “Trẻ em quy định trong Luật này là người
Việt Nam dưới 16 tuổi”
Trẻ em là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau.
Tuỳ theo nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hay cấp độ đánh giá mà đưa ra
những định nghĩa hay khái niệm về trẻ em. Có thể tiếp cận về mặt sinh học,
tiếp cận về mặt tâm lý học, y học, xã hội học. Từ những khái niệm tiếp cận đi
đến những khái niệm hoặc định nghĩa khác nhau về các nhóm trẻ em. Tuy vậy,
thông tin, được bảo vệ khỏi áp bức và tổn thương về thể chất và tinh thần,
được chăm sóc và nuôi dưỡng khi bị tước mất môi trường gia đình, được hưởng
những sự chăm sóc đặc biệt đối với trẻ em bị khuyết tật về trí tuệ và thể
chất,được hưởng trạng thái sức khoẻ cao nhất và các dịch vụ chữa bệnh, phục
hồi sức khoẻ, được hưởng an toàn xã hội, được có mức sống để phát triển về
19
thể chất, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội, được giáo dục, được nghỉ ngơi,
giải trí, vui chơi, được bảo vệ khỏi bị bóc lột về kinh tế và các công việc nguy
hiểm độc hại, được bảo vệ chống lại việc sử dụng các chất ma tuý và an thần,
được bảo vệ chống bị bóc lột, cưỡng bức, lạm dụng về tình dục, được phục hồi
về thể chất, tâm lý và tái hoà nhập xã hội. Như vậy, Nhà nước, xã hội và gia
đình đều có trách nhiệm đảm bảo những quyền cơ bản cho trẻ em.
* Trẻ em nghèo, trẻ em khó khăn
Trẻ em nghèo thường được quan niệm là những trẻ em sống trong những
hộ gia đình nghèo - là những hộ gia đình có mức thu nhập hoặc chi tiêu thấp
hơn chuẩn nghèo. Đây là khái niệm trẻ em nghèo đơn chiều, nhìn dưới góc độ
tiền tệ. Trẻ em nghèo còn dựa trên các khía cạnh như tiếp cận với các dịch vụ
xã hội, tiếp cận với giáo dục, nước sạch, dinh dưỡng..
Là những TE 16 tuổi trở xuống có những hoàn cảnh éo le, bất hạnh, chịu
thiệt thòi về tinh thần và thể chất.
TEHCĐBKK là TE có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc
tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hòa nhập với gia
đình, cộng đồng. (Điều 3, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em 2004).
TEHCĐBKK bao gồm TE mồ côi không nơi nương tựa, TE bị bỏ rơi; TE
khuyết tật, tàn tật; TE là nạn nhân của chất độc hóa học; TE nhiễm HIV/AIDS;
TE phải làm việc nặng nhọc, nguy hiểm, tiếp xúc với chất độc hại; TE phải làm
việc xa gia đình; TE lang thang; TE bị xâm hại tình dục; TE nghiện ma túy; TE
vi phạm pháp luật. (Ðiều 40, Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Luật Bảo vệ, Chăm
•
Bị nhiểm chất độc màu da cam.
•
Trong gia đình nghèo, cận nghèo.
Các dạng hoàn cảnh khó khăn ít được đề cập đến
Có trách nhiệm quá nặng nề như nuôi cha mẹ
Bị lạm dụng trong gia đình, âm thầm chịu đựng
Bị bỏ rơi và đưa vào các trường trại.
Không được đi học.
1.2.3. Đặc điểm tâm, sinh, lý của học sinh có HCKK
Là một nhà công tác xã hội, muốn giúp đỡ và giải quyết những khó khăn
của học sinh có HCKK, thì trước hết phải hiểu tâm sinh lý và nhu cầu của học
sinh có HCKK, ngoài những nhu cầu chung nhất như bao trẻ em khác khác, thì
các em còn có những nhu cầu riêng đỏi hỏi nhà công tác xã hội cần chú ý:
22
nhận hoàn toàn vai trò của công tác xã hội trong việc hỗ trợ, giúp đỡ người học
sinh có HCKK. Do đó, trước hết cần hiểu khái niệm công tác xã hội với học
sinh có hoàn cảnh khó khăn là gì?
“Công tác xã hội với học sinh có HCKK là hoạt động chuyên nghiệp của
nhân viên công tác xã hội giúp đỡ những học sinh có HCKKcó thể hòa nhập
cộng đồng, huy động các nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ
học sinh có HCKK, gia đình, trường học và cộng đồng triển khai hoạt động
chăm sóc trợ giúp họ một cách hiệu quả, vượt qua những rào cản, đảm bảo việc
học tập và tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nền tảng sự công bằng
như những học sinh bình thường khác trong xã hội”
- Các biện pháp tuyên truyền, phối hợp phòng ngừa học sinh rơi vào
hoàn cảnh khó khăn là phương châm hành động kết hợp với bảo vệ, đảm bảo
lợi ích và chăm sóc các em.
- Nhận biết được các nhu cầu của các em học sinh trên quan điểm phát
triển để từ đó giải quyết các vấn đề của các em.
- Nhận biết sâu rộng sự quan tâm, hiểu biết, và thế giới nội tâm của các
em về cuộc sống và những vấn đề các em gặp phải. Qua đó chia sẻ với những
khó khăn, mong muốn của các em.
- Cùng các em tham gia vào các hoạt động giao lưu, gắn kết bạn bè, gia
đình, nhà trường và có kế hoạch cụ thể theo từng bước trong việc tiếp cận và
giúp đỡ các em.
23
1.2.5. Công tác xã hội đối với gia đình học sinh có hoàn cảnh khó
khăn
- Giúp nhà trường hoạch định, xây dựng các chủ trương, kế hoạch, mục
tiêu giúp đỡ, quan tâm cụ thể tới các em có trọng tâm, trọng điểm và cân đối
các nguồn lực hỗ trợ để đảm bảo hiệu quả.
- Tìm nguồn, các chuyên gia xây dựng có buổi tuyên truyền, tập huấn
cho thầy cô giáo hiểu hơn về tâm sinh lý, những khó khăn và mong muốn của
các em học sinh có HCKK.
1.3. Công tác xã hội đối với gia đình học sinh có hoàn cảnh khó khăn
ở nước ta hiện nay
1.3.1. Mục tiêu
- Góp phần tìm hiểu, hệ thống hoá những vấn đề cơ bản của công tác xã
hội đối với các vấn đề về học sinh có HCKK.
- Qua đó đánh giá thực trạng học sinh có HCKK và công tác bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục của gia đình, xã hội đối với học sinh có HCKK đã và
đang thực hiện ở nước ta hiện nay.
- Nâng cao sự hiểu biết, giúp cho gia đình có sự quan tâm, chia sẻ và nắm
bắt được đặc điểm tâm sinh lý, suy nghĩ và nguyện vọng của các em.
- Từ hoạt động CTXH đề ra các giải pháp để nhằm nâng cao hiệu quả của
hoạt động hỗ trợ dành cho học sinh có HCKK đểcác em có thể tiếp cận và thụ
hưởng các chế độ chính sách xã hội tại địa phương.
25