Một số giải pháp giúp học sinh lớp 10 THPT nâng cao hiệu quả làm văn nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống - Pdf 44

MỤC LỤC

1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài
1.2. Mục đích nghiên cứu
1.3. Đối tượng nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
2. Nội dung “Một số giải pháp giúp học sinh lớp 10- THPT nâng cao hiệu
quả làm văn nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống”
2.1. Cơ sở lí luận.
2. 2. Thực trạng vấn đề
2. 3. Một số giải pháp giúp học sinh lớp 10- THPT nâng cao hiệu quả làm
văn nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống.
2.3.1. Cung cấp hệ thống kiến thức lí thuyết cơ bản về văn nghị luận
một hiện tượng đời sống.
2.3.2. Hướng dẫn học sinh nhận diện đề.
2.3.3. Thực hành tìm ý và lập dàn ý.
2.3.4. Hướng dẫn thực hành bằng các dạng đề minh hoạ
2.3.5. Thực hành viết đoạn văn, bài văn nghị luận.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm trong thực nghiệm dạy học
hướng dẫn học sinh lớp 10- THPT làm bài văn nghị luận về một hiện tượng đời
sống.
2. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
3.2. Kiến nghị

1


1. Mở đầu
1.1. Lý do chọn đề tài

giá của bản thân cũng như đề xuất các ý kiến, giải pháp trước hiện tượng đời
sống. Để miêu tả hiện tượng, học sinh có thể giải thích sơ lược hiện tượng nếu
cần thiết, từ đó trình bày các biểu hiện của hiện tượng.
Trong thực tế giảng dạy, khi tiếp xúc với các em học sinh lớp 10, thậm
chí cả học sinh lớp 11, 12 tôi nhận thấy rằng nhiều em chưa chú ý đến dạng đề
bài này; các em còn lúng túng chưa biết cách nhận dạng yêu cầu của đề bài,
cũng như chưa biết cách làm bài văn về một hiện tượng đời sống. Sau một thời
gian nghiên cứu, tìm tòi và thể nghiệm, tôi đã rút ra một vài kinh nghiệm, đưa ra
một số giải pháp nhằm giúp học sinh nâng cao hiệu quả làm văn nghị luận xã
hội về một hiện tượng đời sống.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
- Giúp giáo viên nhận thấy việc đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả làm văn nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống cho học sinh nói
chung và học sinh lớp 10 nói riêng là hợp lý và cần thiết.
- Giúp học sinh trang bị thêm kiến thức và có những giải pháp cơ bản
nhằm nâng cao hiệu quả làm văn nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống.
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
Đề tài tập trung nghiên cứu về một số giải pháp giúp học sinh lớp 10THPT nâng cao hiệu quả làm văn nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu
- Phương pháp phân tích- chứng minh
- Thông qua kinh nghiệm thực hiện giảng dạy đối với chương trình đổi
mới, sách giáo khoa Ngữ văn lớp 10.
2. Nội dung “Một số giải pháp giúp học sinh lớp 10- THPT nâng cao hiệu
quả làm văn nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống”
3



Mặt khác, đây là kiểu bài “ khô” “khó” trong chương trình, nó thiên về lí
lẽ, lập luận.Vì thế học sinh thường ngại học, ngại tư duy, ngại tìm hiểu, thu thập
những kiến thức đời sống, xã hội. Khi kiểm tra học sinh làm mang tính chiếu lệ,
4


hình thức, làm cho xong. Vì thế kết quả bài làm văn nghị luận xã hội của học
sinh thường không cao. Đa phần các em vẫn mắc phải những lối cơ bản khi làm
bài: lỗi về từ, lỗi về câu, đặc biệt lỗi về văn bản: thừa ý, thiếu ý, sắp xếp ý lộn
xộn, thiếu dẫn chứng, dẫn chứng không phù hợp…
Đầu năm học, tôi tiến hành kiểm tra khảo sát chất lượng làm văn nghị
luận xã hội về một hiện tượng đời sống ở các lớp trực tiếp giảng dạy, kết quả
thu được không khả quan, cụ thể như sau:
Lớp



số
10 A
42
10 C
45
10 E
38
Tổng-% 125

Điểm 9-10

Điểm 7- 8



Từ thực tế trên đây đòi hỏi những giáo viên đứng lớp như tôi phải luôn đặt ra
cho mình câu hỏi: làm thế nào để giúp học sinh có kiến thức và kĩ năng cần thiết
khi làm văn nghị luận xã hội? làm thế nào để nâng cao chất lượng làm văn nghị
luận xã hội nói chung và nghị luận xã hội về hiện tượng đời sống nói riêng?
Từ thực trạng trên đây, việc hình thành kiến thức và kĩ năng là văn nghị
luận xã hội về hiện tượng đời sống là thực sự cần thiết. Nhất là với các em học
sinh mới vào học lớp 10. Việc này giúp các em củng cố, khắc sâu kiến thức đã
học ở chương trình THCS, đồng thời làm bước đệm vững chắc cho các em
trong những năm học tiếp theo.
Xuất phát từ cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn trên đây, tôi mạnh dạn áp
dụng ý tưởng của mình, đưa ra một số giải pháp nhằm giúp học sinh nâng cao
hiệu quả làm văn nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống.
2. 3. Một số giải pháp giúp học sinh lớp 10- THPT nâng cao hiệu quả làm
văn nghị luận xã hội về một hiện tượng đời sống.
2.3.1. Cung cấp hệ thống kiến thức lí thuyết cơ bản về văn nghị luận một
hiện tượng đời sống.
5


* Khái niệm.
Nghị luận về một hiện tượng đời sống là kiểu bài lấy một hiện tượng xảy
ra trong đời sống để bàn bạc. Từ hiện tượng này, người nghị luận phải phân tích
để tìm ra ý nghĩa xã hội về tư tưởng, đạo đức mà bàn bạc, đánh giá. Đề tài bàn
bạc gần gũi với đời sống, phù hợp với trình độ nhận thức của HS như : nhận
thức về vấn đề tai nạn giao thông, hiện tượng môi trường bị ô nhiễm, những tiêu
cực trong thi cử, nạn bạo hành trong gia đình, phong trào thanh niên tiếp sức
mùa thi, cuộc vận động giúp đỡ đồng bào hoạn nạn, những tấm gương người tốt
việc tốt,...
* Các thao tác lập luận cơ bản.

Đối với mỗi dạng, mỗi đề bài có một cách tiến hành tìm ý và lập dàn ý
khác nhau. Tùy thuộc vào mỗi dạng đề bài để có dàn ý khái quát cho phù hợp.
a. Mở bài
- Giới thiệu hiện tượng đời sống cần nghị luận.
- Xác định vấn đề đặt ra cần nghị luận trong hiện tượng.
b. Thân bài
- Nêu thực trạng của hiện tượng .
- Xác định nguyên nhân của thực trạng hiện tượng.
- Đánh giá, phân tích mặt tốt - xấu, tích cực – tiêu cực, lợi – hại… của vấn
đề.
- Đề xuất giải pháp cho vấn đề: phát huy, khắc phục…
c. Kết bài
- Tóm tắt chốt lại vấn đề.
7


- Rút ra bài học.
- Nêu suy nghĩ và hướng hành động của bản thân đối với vấn đề.
Hoặc có thể lập dàn ý dựa vào hệ thống từ khóa đặt cho mỗi phần.
Đặt từ khóa cho 3 phần theo kết cấu của bài văn, như sau :
Mở bài: Gợi – Đưa – Báo



+ Gợi : là Gợi ý ra vấn đề cần nghị luận.
+ Đưa : sau khi gợi thì Đưa vấn đề cần nghị luận ra.
+ Báo : là Báo phải làm gì về vấn đề đưa ra nghị luận ( có tính chuyển
ý ).
Thân bài : Thực – Nguyên – Hậu – Biện


hội : Không chỉ là sự hành hạ thể xác người khác bằng bạo lực mà còn hành hạ
về tinh thần. Nạn bạo hành diễn ra trong gia đình, trường học, xã hội ; phụ nữ,
trẻ em thường là nạn nhân của nạn bạo hành.
- Nguyên nhân của hiện tượng :
+ Do bản tính hung hăng, thiếu kiềm chế của một số người.
+ Do ảnh hưởng của phim ảnh mang tính bạo lực ( nhất là tầng lớp thanh
thiếu niên).
+ Do áp lực cuộc sống.
+ Do sự thiếu kiên quyết trong việc xử lí nạn bạo hành.
- Tác hại to lớn của hiện tượng.
+ Làm tổn hại tới sức khỏe, tinh thần của con người.
+ Làm ảnh hưởng tới tâm lí, sự phát triển nhân cách, đặc biệt là tuổi trẻ.
- Ý kiến, thái độ của bản thân.
+ Cần lên án đối với nạn bạo hành.
+ Cần xử lí nghiêm khắc hơn với những người trực tiếp thực hiện hành vi
bạo hành.
+ Cần quan tâm, giúp đỡ kịp thời đối với nạn nhân của bạo hành.
2.3.4.2. Gợi ý dạng đề bài bàn về một hiện tượng đời sống có tính
chất tích cực.
Đề bài: Hãy trình bày ý kiến của anh / chị về một nếp sống đẹp trong xã
hội hiện nay.
* Gợi ý:
- Đây là dạng đề “mở”, HS có thể tùy theo cảm nhận của mình, chọn một
nếp sống đẹp đang được chú ý trong xã hội hiện nay.
- HS có thể chọn một nếp sống đẹp, từ đó tiến hành các bước giống như
trên ( miêu tả nếp sống đẹp; phân tích những tác động tích cực của nếp sống đẹp

9



10


• Bao che khuyết điểm để lấy thành tích.
• Coi trọng số lượng chứ không coi trọng chất lượng.
• HS: Học để lấy bằng cấp, phát biểu chỉ để được cộng điểm…
• Số Giáo sư, Tiến sĩ, các nhà khoa học nhiều nhưng ít có những cải tiến
sáng tạo.
- Phân tích đúng, sai, lợi, hại.
+ Lợi: trước mắt cho cá nhân- không cần bỏ công sức nhiều nhưng vẫn đạt
kết quả cao.
+ Hại: để lại hậu quả nghiêm trọng và lâu dài.
• Các thế hệ học sinh được đào tạo ra không có đủ trình độ để tiếp cận
với công nghệ hiện đại, đất nước ít nhân tài.
• Tạo thói quen cho học sinh ngại học, ngại thi, ngại sáng tạo.
• Tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội.
- Nguyên nhân của hiện tượng.
+ Do gia đình: Không muốn con vất vả mà vẫn đạt kết quả cao.
+ Do nhà trường: Muốn học sinh có thành tích cao để báo cáo.
+ Do xã hội: Hệ thống luật chưa nghiêm, chưa cụ thể, chưa thực sự coi
trọng nhân tài, nhận thức của nhiều người còn hạn chế…
- Cách khắc phục.
+ Phải giáo dục nhận thức cho học sinh và toàn thể xã hội để họ nhận thức
được rằng chỉ có kiến thức thực sự họ mới có chỗ đứng trong xã hội hiện đại.
+ Xã hội phải thực sự coi trọng những người có kiến thức, có thực tài và
lấy đó làm tiêu chuẩn chính để sử dụng họ.
+ Phải có một hệ thống pháp luật, luật giáo dục chặt chẽ, nghiêm ngặt, xử
lí nghiêm những sai phạm. Cách ra đề thi, chấm thi phải đổi mới để sao cho học
sinh không thể hoặc không giám tiêu cực.
- Thâu tóm lại vấn đề, khẳng định, phủ định, rút ra bài học cho bản thân.

96,7
3,3
100,0

Việc hướng dẫn các em thực hiện một số giải pháp về làm văn nghị luận
về một hiện tượng đời sống giúp các em trong quá trình ôn tập, kiểm tra, nhận
diện được yêu cần của đề bài nhanh hơn, làm bài đạt kết quả cao hơn. Sau khi
hướng dẫn học sinh thực hiện một số giải pháp làm văn nghị luận về một hiện
tượng đời sống, mức độ nhận diện đề và khả năng làm bài của học sinh như sau:
( Bảng phân bố phần trăm kết quả khảo sát của giáo viên về khả năng nhận diện
đề và khả năng làm bài của học sinh)
12


( %)
Mức độ nhận diện
Nhận diện và làm bài nhanh
Nhận diện và làm bài chậm
Không nhận diện được đề và

%
71,9
23,1
5,0

không biết cách làm bài
Tổng số

100,0


14- 37,8%
10- 26,3%
36- 28,8%

26- 61,9%
21- 46,7%
24- 63,2%
71- 60,2%

Điểm 3-4 Điểm 1-2
3- 7,1%
5- 11,1%
3- 7,9%
11- 8,8%

0
0
0
0- 0%

Qua đối chiếu với các số liệu trên đây tôi nhận thấy: so với kết quả đầu
năm học ( khi chưa áp dụng giải pháp nêu trên) thì đến cuối năm( sau khi đã áp
dụng giải pháp) chất lượng làm văn nghị luận về một hiện tượng đời sống đã
nâng lên rõ rệt. Điều đó có thể khẳng định việc đưa ra một số giải pháp về làm
văn nghị luận về một hiện tượng đời sống đã có hiệu quả tích cực trong quá trình
dạy học. Những giải pháp đó không chỉ áp dụng đối với học sinh lớp 10 mà còn
có thể áp dụng cho đối tượng học sinh lớp 11 và lớp 12. Đây là kết quả đáng vui
mừng đối với tôi và các em học sinh lớp 10 do tôi phụ trách.

13

kiến thức. Vì thế nói hướng dẫn tích lũy kiến thức xã hội trong một thời gian
ngắn quả là điều không tưởng. Tuy vậy, giáo viên phải biết định hướng vùng
14


kiến thức để các em kịp thời xâu chuỗi, bổ sung thông qua sách vở, các phương
tiện thông tin đại chúng, bạn bè, người thân, thầy cô…
Trong thời điểm hội nhập quốc tế và kinh tế thị trường nảy sinh nhiều vấn
đề khiến xã hội đang rất quan tâm, thiết nghĩ giáo viên ngoài việc cung cấp thêm
kiến thức để học sinh nắm bắt được thì cũng cần hướng dẫn, khuyến khích các
em thường xuyên tìm hiểu thêm thông tin qua việc đọc sách, báo, truy cập
Internet ... để vốn kiến thức của các em phong phú hơn, giúp các em viết văn
trôi chảy và tự tin trong quá trình làm văn liên quan đến vấn đề nghị luận xã hội.
Giáo viên cần tăng cường tiết phụ đạo để có nhiều thời gian bồi dưỡng,
cung cấp thêm kiến thức cho các em nhưng điều quan trọng là giáo viên cần
hướng dẫn cho các em cần đọc những tài liệu nào và các em khi viết phải biết
chắt lọc những thông tin như thế nào. Để học đi đôi với hành, củng cố luyện tập
những kiến thức mà giáo viên cung cấp, giáo viên cần cho các em thực hành
nhiều, viết nhiều ( có thể là những đoạn văn ngắn) liên quan đến nhiều vấn đề xã
hội bức xúc hiện nay.
* Đối với học sinh
Yêu cầu đối với các em là phải đọc sách nhiều hơn, am hiểu xã hội nhiều
hơn, tập kĩ năng tranh luận, suy luận một vấn đề, biết nhận thức vấn đề đó đúng
hay sai; đúng sai như thế nào để hình thành cho các em một tư tưởng đúng đắn,
có lập trường vững vàng. Thường xuyên tham gia các hoạt động ngoại khóa để
tích lũy thêm kiến thức xã hội, liên hệ thực tế cho bài viết thêm sinh động.
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG

Thanh Hoá, ngày 20 tháng 04 năm 2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status