MỤC LỤC
NỘI DUNG
Trang
MỤC LỤC………………………………………………………………… 1
I. Mở đầu...................................................................................................... 2
1. Lí do chọn đề
2
tài......................................................................................
2. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………... 2
3. Đối tượng nghiên cứu…………………………………………………... 2
4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………….. 2
II. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm............................................................. 3
1. Cơ sở lí luận............................................................................................. 3
2. Thực trạng và nguyên nhân vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh
3
nghiệm...................................................................................................
2.1. Thực trạng vấn đề.................................................................................. 3
2.2. Nguyên nhân dẫn đến hạn chế khi viết mở bài văn nghị luận............... 4
3. Giải pháp thực hiện.................................................................................. 5
3.1. Cung cấp lý thuyết về đoạn mở bài cho học sinh……………………. 5
3.1.1. Khái niệm đoạn văn mở bài………………………………………..
5
3.1.2. Yêu cầu của phần mở bài…………………………………………... 5
3.1.3. Cấu tạo phần mở bài……………………………………………….. 6
3.2. Cách viết phần mở bài……………………………………………….. 7
3.2.1. Xác định vấn đề cần nêu trong mở bài……………………………... 7
3.2.2. Xác định cách nêu vấn đề (cách mở bài)…………………………… 7
7
3. 2.3. Một số mẫu mở bài ứng dụng từ thực tế…………………………...
7
* Mở bài trực tiếp………………………………………………………….
12
13
14
14
14
15
16
I. Mở đầu.
1. Lí do chọn đề tài
Trong các kỳ thi Tốt nghiệp THPT và Đại học, Cao đẳng và kể cả thi chọn
học sinh giỏi, câu hỏi nghị luận văn học có một vị trí hết sức quan trọng. Câu
hỏi nghị luận văn học vừa là cơ sở để đánh giá chất lượng của đề thi, vừa là câu
hỏi chiếm tỉ lệ điểm tương đối cao (từ 4 đến 5 điểm trong thang điểm 10) góp
phần làm nên thành công của bài thi. Tuy nhiên, hiện nay nhiều học sinh rất ngại
và lười rèn luyện kỹ năng viết bài, nên khi làm bài văn nghị luận văn học
thường lúng túng và mắc nhiều lỗi. Điều này tất yếu dẫn đến kết quả các bài làm
văn điểm không đạt được như mong muốn.
Để làm nên một bài văn nghị luận văn học thành công cần phải đạt được
nhiều yêu cầu. Trong đó, mở bài vừa đúng, vừa hay là yêu cầu đầu tiên và cũng
có ý nghĩa nhất. Bởi vì, mở bài không chỉ có một vị trí quan trọng trong cả bài
viết mà còn là phần khó khăn nhất của học sinh. Không phải ngẫu nhiên mà
Macxim Gorki đã từng kết luận: “Khó hơn cả là phần mở đầu, cụ thể là câu
đầu, cũng như trong âm nhạc, nó chi phối giọng điệu của tác phẩm và người ta
thường tìm nó rất lâu”.
Hiện nay có nhiều bài viết, sách mẫu, sách hướng dẫn về cách làm bài văn
nghị luận văn học, tuy nhiên không có một tài liệu nào tập trung tháo gỡ khó
khăn của học sinh khi viết mở bài. Học sinh khi viết mở bài văn nghị luận văn
học luôn chiếm nhiều thời gian, mắc phải nhiều lỗi về diễn đạt và trình bày.
Trong thời gian dạy học làm văn nghị luận văn học, tôi nhận thấy giáo viên cần
II. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
1. Cơ sở lí luận.
“Văn hay không kể văn dài
Chỉ mở đầu bài là biết văn hay”
Câu nói mà chúng ta thường nghe trên đã nói lên tầm quan trọng của phần mở
bài đối với một bài văn. Tất nhiên một bài văn hay cần nhiều kĩ năng song viết
mở bài là một kĩ năng quan trọng là căn cứ để đánh giá bài làm có thu hút, sáng
tạo và độc đáo hay không. Nằm ở vị trí đầu tiên trong bố cục ba phần (mở bài,
thân bài, kết bài) của một bài văn nói chung cũng như nghị luận nói riêng, phần
mở bài thường tạo ấn tượng ban đầu về bài viết và giúp người đọc cảm nhận
trọn vẹn âm hưởng của toàn bài. Một mở bài gọn gàng, mạch lạc sẽ thu hút được
sự quan tâm của đông đảo người đọc. Bên cạnh đó, nó còn tạo thêm hứng thú
cho người viết. Ngược lại, người đọc mất cảm tình khi tiếp xúc với một bài văn
có phần mở bài mang biểu hiện của nhận thức hạn chế và lối tư duy thiếu mạch
lạc của người viết. Từ tâm lí tiếp nhận không tốt, người đọc có thể mặc nhiên
quy kết rằng nội dung bài văn này kém chất lượng.
Từ trước đến nay đã có nhiều quan điểm khác nhau của các tác giả về phần mở
bài trong văn bản nói chung và văn nghị luận nói riêng. Tiêu biểu là một vài
cuốn sách hướng dẫn giảng dạy Tập làm văn và hướng dẫn Làm văn như:
Phương pháp làm văn nghị luận (Thẩm Thệ Hà); Tài liệu hướng dẫn học môn
Làm văn (Nguyễn Quang Ninh); Giáo trình làm văn (Đình Cao, Lê A); Dàn bài
Tậplàm văn 12 (Trần Đình Sử, Phan Huy Dũng); Kĩ năng làm văn nghị luận phổ
thông (Nguyễn Quốc Siêu); 150 bài tập rèn luyện kĩ năng dựng đoạn văn
(Nguyễn Quang Ninh); Văn bồi dưỡng học sinh giỏi Trung học phổ thông
(Nguyễn Đăng Mạnh); Muốn viết được bài văn hay (Nguyễn Đăng Mạnh chủ
Trang 3
biên). Nhìn chung đa số các cuốn sách đều đã đề cập đến phần mở bài, tuy nhiên
kết quả nghiên cứu chưa được sâu sắc và trọn vẹn như khi bàn về phần thân bài.
phần thân bài, tạo tâm thế tiếp nhận cho người đọc đồng thời phải có tính sáng
tạo, mới mẻ để hấp dẫn, lôi cuốn người đọc. Viết được mở bài đồng nghĩa với
học sinh nhận thức được yêu cầu đề, biết cách phân tích đề ra và có định hướng
viết thân bài và kết bài. Vì vậy, mở bài là phần đầu của bài làm văn nghị luận
nhưng mở bài cũng chi phối đến các yếu tố khác trong quá trình làm bài văn
nghị luận.
2.2.2. Nguyên nhân xuất phát từ học sinh:
Đây là nguyên nhân chủ yếu và căn bản nhất dẫn đến những hạn chế của học
sinh khi viết phần mở bài:
- Học sinh không nắm vững lý thuyết làm bài văn nghị luận, trước hết là lý
thuyết viết mở bài. Khi vào phòng thi, học sinh cứ đặt bút viết theo cảm tính,
Trang 4
nghĩ gì viết nấy, không chịu để ý đề yêu cầu nghị luận cái gì, cứ viết chung
chung, tràn lan, linh tinh, không có chọn lọc. Cho nên mở bài rồi chuyển xuống
thân bài chưa nêu ra được vấn đề đề yêu cầu nghị luận. Những mở bài như vậy
sẽ trở nên mơ hồ, dễ lạc đề, lệch đề, xa trọng tâm yêu cầu đề, thậm chí là lan
man, lạc đề.
- Khi làm bài thi, học sinh có thói quen không thực hiện thao tác phân tích
đề. Không phân tích đề, dẫn đến nhiều mở bài không xác định đúng yêu cầu của
đề, không xác định được phạm vi đề đặt ra. Việc không phân tích đề làm cho bài
viết của học sinh vừa hệ thống luận điểm không rõ ràng, không chặt chẽ vừa làm
cho mở bài lan man. Phân tích đề là bước đầu tiên của việc làm bài văn nghị
luận nhưng đồng thời đó cũng là bước hết sức quan trọng để có thể viết được
một mở bài hay. Không tiến hành thao tác phân tích đề, dẫn đến học sinh trong
quá trình làm bài nghĩ đến đâu, viết đến đó. Đây là nguyên nhân đa số học sinh
gặp phải kể cả với những học sinh học khối để ôn thi Đại học, Cao đẳng.
- Bên cạnh đó còn có nguyên nhân: học sinh không chịu khó rèn luyện trong
quá trình học. Chính điều này làm cho học sinh không thành thạo khi viết mở
đối tượng học sinh trung bình.
* Mở bài gián tiếp: Với cách này người viết phải dẫn dắt vào đề bằng cách
nêu lên những ý có liên quan đến luận đề (vấn đề cần nghị luận) để gây sự chú ý
cho người đọc sau đó mới bắt sang luận đề. Mở bài theo cách này tạo được sự
uyển chuyển, linh hoạt cho bài viết, hấp dẫn người đọc, tuy nhiên kiểu mở bài
này nếu không nắm vững sẽ dễ dẫn đến sự lan man, lạc đề cho bài viết vì thế
cách mở bài này thường dành cho học sinh khá giỏi có vốn kiến thức về lý luận
văn học cũng như phải có vốn văn chương kha khá. Nhất là phải đọc nhiều sách,
“bụng phải có chữ nghĩa”.
3.1.2. Yêu cầu của phần mở bài.
* Yêu cầu chung.
Mở bài phải giới thiệu được nội dung cơ bản của bài viết.
Dung lượng của phần mở bài phải tương ứng với khuôn khổ của bài viết và
phải cân đối với phần kết bài.
Phần mở bài phải đảm bảo có sự liền mạch với bài viết về cả nội dung lẫn
phong cách giới thiệu, diễn đạt. Nói tóm lại, phần mở bài phải tạo được âm
hưởng chung, định hướng chung cho cả bài viết.
* Những điều cần tránh khi viết mở bài.
Tránh dẫn dắt vòng vo, quá xa mãi mới gắn được vào việc nêu vấn đề.
Tránh ý dẫn dắt không liên quan gì đến vấn đề sẽ nêu.
Tránh nêu vấn đề quá dài dòng, chi tiết, trình bày hết vấn đề, rồi phần thân bài
lặp lại những điều đã nói ở phần mở bài.
* Điều kiện cần và đủ để có một mở bài hay.
Ngắn gọn: Dẫn dắt thường vài ba câu, nêu vấn đề một vài câu và giới hạn vấn
đề một câu.
Đầy đủ: Đọc xong mở bài, người đọc biết được bài viết bàn về vấn đề gì?
Trong phạm vi nội dung tư liệu nào liên quan? Thao tác vận dụng chính ở đây là
gì?
Độc đáo: Mở bài phải gây được sự chú ý của người đọc với vấn đề mình sẽ
viết. Muốn thế, phải có cách nêu vấn đề khác lạ. Để tạo nên sự khác lạ, độc đáo
(Phần giữa) Câu 2
(Phần kết) Câu 3
Dẫn dắt vấn đề
Nêu tác giả, tác phẩm
Nêu vấn đề nghị luận
3.2. Cách viết phần mở bài.
3.2.1. Xác định vấn đề cần nêu trong mở bài.
Xác định vấn đề bàn luận là điều căn cốt nhất vì nếu xác định sai thì coi như
toàn bộ nội dung bài viết sẽ chệch hướng hoàn toàn (lạc đề). Muốn xác định
được vấn đề thì phải tìm hiểu đề bài. Bằng cách đặt và trả lời cho câu hỏi: Bài
làm cần viết về cái gì? Từ đó xác định kiến thức cần nêu. Ở khâu này tôi yêu
cầu học sinh hãy dùng bút tô đậm những từ chìa khóa trong đề ra và lấy đó làm
từ trọng điểm cho phần mở bài của mình.
Lưu ý: Học sinh khi đọc đề cần xác định thật rõ ràng những yêu cầu của đề
theo hướng:
- Về nội dung: Cần xem yêu cầu vấn đề cần nghị luận có giới hạn ở đâu? giai
đoạn nào? Tác phẩm nào? đề tài gì?chủ đề gì ?...
- Về hình thức: Quan tâm đến kiểu bài mà đề yêu cầu: Phân tích, bình luận,
bình giảng... hay đi kèm 2 kiểu bài hoặc tổng hợp các kiểu?
3.2.2. Xác định cách nêu vấn đề (cách mở bài).
Tùy theo năng lực của bản thân của mình mà học sinh lựa chọn cho mình cách
mở bài phù hợp ( mở bài trực tiếp hay gián tiếp).
- Mở bài trực tiếp. Có hai cách: Mở thẳng vấn đề và mở trực tiếp có thêm
phần dẫn dắt (thời gian, không gian và hoàn cảnh sáng tác của tác phẩm).
- Mở bài gián tiếp. Thường mở theo các cách sau: Diễn dịch (suy diễn); quy
nạp; tương đồng, tương phản (đối lập); mở bằng câu chuyện, mở bằng cách nêu
câu hỏi, mở bằng cách nêu sự kiện, con số….
Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh tổng kết : “Các cách mở bài khác nhau chủ yếu ở
phần dẫn dắt. Phần nêu vấn đề và phần giới hạn vấn đề thường không thay đổi,
viết mở bài theo kiểu gì thì ai cũng phải nêu được phần này. Nói gọn lại cứ thay
Theo Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh: Có thể rút ra kết luận bản chất của một
mở bài hay hoặc không hay theo lối viết mở bài gián tiếp phụ thuộc hoàn toàn
vào các cách dẫn . Dưới đây tôi xin trình bày một số cách mà học sinh dễ áp
dụng và đạt hiệu quả cao.
Kết cấu của đoạn mở bài theo cách gián tiếp gồm 3 phần:
- Phần mở đầu đoạn: Viết những câu dẫn dắt có liên quan gần gũi với vấn đề
chính cần nghị luận.
(Tuỳ nội dung vấn đề cần nghị luận mà người viết lựa chọn câu dẫn dắt có thể
là một câu thơ, một câu danh ngôn hoặc một câu chuyện kể…)
- Phần giữa đoạn:
Nêu luận đề (nếu bình giảng thơ thì thường là nêu ấn tượng bao trùm mang tư
tưởng chủ đề mà bản thân cảm nhận được).
- Phần kết đoạn: Nêu phương thức nghị luận và phạm vi tư liệu sẽ trình bày, tầm
quan trọng và ý nghĩa của vấn đề.
Các học sinh chỉ việc sử dụng theo công thức :
Đoạn dẫn + nêu vấn đề + giới hạn vấn đề + nhận định về tầm quan trọng
của vấn đề, ý nghĩa.
Trang 8
Lưu ý : Sau đoạn dẫn thì 3 nội dung còn lại không nhất thiết phải xếp theo trình
tự như đã nêu trên.
Cách 1: Đoạn dẫn theo tư liệu tác giả.
Yêu cầu : Nêu tên tác giả + vị trí tác giả trong nền văn học hoặc phong cách +
đề tài tiêu biểu, tác phẩm tiêu biểu.
VD thêm đoạn dẫn vào ví dụ 1 ta có mở bài sau :
Mở bài 3: Tô Hoài là một tác giả văn học nổi tiếng từ trước cách mạng tháng 8
và đồng thời cũng là nhà văn tiêu biểu của nền văn học hiện thực xã hội chủ
nghĩa. Trong số rất nhiều tác phẩm giá trị của ông có tập Truyện Tây Bắc mà
trong đó ấn tượng nhất vẫn là Vợ chồng A phủ + Đoạn MB1 trong VD1.
kháng chiến chống Pháp (1946-1954). Hãy phân tích những nét chung và đặc
điểm riêng của cảm hứng về quê hương đất nước trong các bài thơ Việt Bắc (Tố
Hữu) Đất nước(Nguyễn Khoa Điềm) và Đất nước (Nguyễn Đình Thi).
Trang 9
Mở bài :
Tình yêu quê hương đất nước là một nguồn thơ không bao giờ vơi cạn trong
văn học nước ta. Đó là cảm hứng chủ đạo của thơ ca kháng chiến chống Pháp,
thấm đượm trong từng ngòi bút thơ, đến từng bài thơ: một cô gái thăm lúa nhớ
chồng, một bài ca vỡ đất, những người lính Tây Tiến, những bà Bầm, bà Bủ, cho
đến cả mối tình Núi Đôi và tiếng súng Viếng bạn…tất cả đều được ủ nóng và
chiếu sáng bằng tình yêu quê hương đất nước. Trong mạch cảm hứng chung ấy,
Việt Bắc (Tố Hữu), Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm) và Đất nước (Nguyễn Đình
Thi) nổi lên như những tiếng thơ sâu lắng thiết tha,những gương mặt tiêu biểu
nhất về quê hương đất nước.
Cách 3: Đoạn dẫn theo lối so sánh (hai vấn đề đối lập)
Yêu cầu: Tìm 1 vấn đề đối lập tạo thế bắc cầu để giới thiệu vấn đề cần bàn.
VD thêm đoạn dẫn vào ví dụ 1 ta có mở bài sau:
Mở bài 5: Chúng ta đã gặp không ít những số phận người phụ nữ bi thương
trong các tác phẩm văn học Việt Nam, đó là một nàng Vũ Nương oan khuất, một
nàng Kiều bi kịch, một Chị Dậu tủi hờn... Nhưng khi tiếp cận với dòng văn học
cách mạng, vẫn những người phụ nữ ngày xưa ấy lại trỗi dậy mạnh mẽ đứng dậy
làm chủ đời mình. Một trong những nhân vật văn học nữ tiêu biêu biểu là Mị
trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ của nhà văn Tô Hoài + Đoạn MB1 trong VD1.
Cách 4: Đoạn dẫn dựa vào lời đánh giá hoặc nhận định của một tác giả.
Yêu cầu : Lấy 1 đánh giá của một tác giả uy tín có nội dung trùng với vấn đề
đã xác định được làm điểm tựa để phát triển tiếp hoặc lấy chính ý kiến của tác
giả khi nói về tác phẩm của mình.
VD thêm đoạn dẫn vào ví dụ 1 ta có mở bài sau :
mối quan hệ máu thịt này.
Mở bài 2: Thần thoại Hy Lạp còn để lại một câu chuyện đầy cảm động về
chàng lực sĩ Ăngtê và đất mẹ. Thần Ăngtê sẽ bất khả chiến bại khi chân chàng
gắn chặt vào lòng đất mẹ Gaia. Có thể ví mối quan hệ giữa văn học và hiện
thực
cuộc sống hệt như quan hệ giữa Ăngtê và đất mẹ vậy.
Chưa tin ư? Bạn hãy đến với những tác phẩm văn học lớn mà xem.
Ví dụ 6: “Rừng xà nu” ( Nguyễn Trung Thành), “Những đứa con trong gia
đình” (Nguyễn Thi ) là những truyện ngắn hay đã khám phá, ca ngợi vẻ đẹp của
con người Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước.
Anh( chị )hãy so sánh và làm rõ những khám phá, sáng tạo riêng của mỗi tác
phẩm trong sự thể hiện chủ đề đó?
Với đề bài này chúng ta có thể mở bài bằng một đoạn thơ như sau:
Mở bài :
Yêu biết mấy những con người đi tới
Hai cánh tay như hai cánh bay lên
Ngực dám đón những phong ba dữ dội
Chân đạp bùn không sợ các loài sên!
( Mùa thu mới-Tố Hữu)
Hình ảnh những con người Việt Nam ấy đã đi vào thơ ca như một niềm thơ
lớn và trở thành phần hồn của mỗi người con đất Việt. Yêu biết mấy hình ảnh
những người dân quê tôi: cần cù trong lao động, anh hùng trong chiến đấu. Văn
thơ thời kì kháng chiến chống Mĩ đã dựng lại cả một thời kì máu lửa, đi sâu tìm
tòi, khám phá, ngợi ca vẻ đẹp của con người. Tôi nhớ mãi một Tnú, cụ Mết
trong Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành; chị Chiến, anh bộ đội tên Việt
trong Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi. Họ là hiện thân của vẻ đẹp
con người Việt Nam, của sức sống dân tộc. Năm tháng trôi đi và lịch sử đã bước
sang trang mới nhưng những con người ấy vẫn sáng ngời lên, nhắc nhở ta về
một quãng đường đầy gian khổ, đau thương, lại rất đỗi anh hùng mà đất nước
mình đã đi qua. Để rồi mỗi lần đọc lại, tôi không khỏi ngỡ ngàng vì người dân
bị đẩy vào con đường tha hóa.
Các em có thể dùng mở bài này cho rất nhiều tác phẩm liên quan.
Ví dụ:
Kim Lân là một cây bút chuyên về truyện ngắn. Ông đã rất thành công ở các
tác phẩm khai thác đề tài người nông dân trong xã hội cũ. Một trong những tác
phẩm tiêu biểu của ông là truyện ngắn ” Vợ nhặt”. Tác phẩm khắc họa thành
công chân dung nhân vật Bà cụ Tứ, một bà mẹ nông dân nghèo, có tấm lòng
nhân hậu….
Nguyễn Tuân là một cây bút chuyên về truyện ngắn. Ông đã rất thành công ở
các tác phẩm khai thác đề tài về những con người tài hoa trong xã hội cũ. Một
trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là truyện ngắn “ Chữ người tử tù”. Tác
phẩm khắc họa thành công chân dung nhân vật Huấn cao, một người tài hoa xuất
chúng, có khí phách và thiên lương trong sáng…
Các em có thể chế ra hàng loạt những mở bài tương tự, kể cả những đề thuộc
lĩnh vực khác.
Ví dụ: Huy cận là một cây bút xuất sắc trong phong trào thơ mới. Ông đã rất
thành công ở các tác phẩm khai thác đề tài phong cảnh sông nước quê
hương. Một trong những tác phẩm tiêu biểu của ông là bài thơ “Tràng giang”.
Trang 12
Bài thơ được gợi hứng từ cảnh sông Hồng mênh mang sóng nước…
Một số mẫu có sẵn, các em có thể học thuộc:
1. Xây dựng một hình tượng nhân vật đã khó, nhưng để nhân vật đó có sức lay
động và chiếm trọn trái tim người đọc còn khó hơn. Ấy vậy mà nhà thơ/nhà văn
… đã làm được điều đó. Nhân vật “ABC/XYZ” của ông đã ghi dấu ấn sâu đậm
trong lòng người đọc về hình ảnh của một (tùy đề bài yêu cầu phân tích nhân vật
nào thì khái quát nhân vật đó)
2. Thời gian vẫn trôi đi và bốn mùa luôn luân chuyển. Con người chỉ xuất hiện
một lần trong đời và cũng chỉ một lần ra đi mãi mãi vào cõi vĩnh hằng. Nhưng
Mở bài này áp dụng cho những tác phẩm viết về người phụ nữ như: Truyện
Kiều, Chiếc thuyền ngoài xa, Vợ chồng APhủ…
Từ các mẫu có sẵn trên các em có thể viết sẵn vài mẫu mở bài để dùng trong
những trường hợp cần thiết. Tất nhiên, với những mẹo nhỏ này tôi không
Trang 13
khuyến khích các em đạo văn, sao chép, vì văn chương không chấp nhận điều
đó, nhưng “ bước đường cùng” thì cũng nên xem những mẫu có sẵn này như là
một bảo bối vậy.
4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục tại
trường THPT Hà Văn Mao.
Phương pháp này đã được áp dụng trong năm học 2015 – 2016, chương trình
ban cơ bản.
Tôi tiến hành dạy học thể nghiệm ở 2 lớp của khối 12 có chất lượng ngang
nhau đề kiểm tra và thời gian như nhau là 15 phút đã thu được kết quả như sau:
Với lớp 12A2: không vận dụng hướng dẫn học sinh cách viết mở bài.
Với lớp 12A3: vận dụng hướng dẫn học sinh cách viết mở bài.
Kết quả thu được:
Điểm
Tỉ lệ Điểm
Tỉ lệ
2 -> 4
%
5 -> 7
%
6
15
28
70
không dễ dàng, dạy học để hình thành kỹ năng cho học sinh lại càng khó khăn
hơn. Những cách mở bài trên đều là những cách mở bài cơ bản nhất có thể vận
dụng vào dạy học cho nhiều đối tượng học sinh khác nhau, đáp ứng được những
yêu cầu khác nhau của mỗi kỳ thi. Mỗi cách mở bài đều có những ưu điểm, hạn
chế và yêu cầu riêng nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Để viết được mở
bài gián tiếp hay, học sinh phải nắm vững cách mở bài trực tiếp. Từ mở bài trực
tiếp đến mở bài gián tiếp mà tôi đã trình bày để hướng dẫn cho các em đều có
sự tăng dần về độ khó, về tính sáng tạo. Vì vậy giáo viên phải tùy thuộc vào đối
tượng học sinh, tính chất kỳ thi để lựa chọn dạy học và rèn luyện cách mở bài
phù hợp nhất.
2. Kiến nghị
Việc lựa chọn cách mở bài trong dạy học, giáo viên phải nắm được đặc điểm
của đối tượng học sinh, tính chất kỳ thi để mang lại hiệu quả cao nhất.
Việc sử dụng các dạng mở bài khác nhau trong quá trình dạy học cho học sinh
cần phải linh hoạt, điều quan trọng là từ kỹ năng học sinh đã có được, các em có
Lớp
Trang 14
thể sáng tạo ra những mở bài hay, những cách mở bài mới. Không nên gò bó khả
năng sáng tạo của học sinh.
Trong quá trình dạy học các tiết làm văn, giáo viên không chỉ hình thành cho
học sinh kỹ năng viết phần mở bài của đề văn nghị luận văn học mà còn cần
thiết cả kỹ năng mở bài cho đề văn nghị luận văn xã hội. Với thời lượng dạy học
trên lớp, giáo viên sẽ không có thời gian để hướng dẫn và hình thành kỹ năng
viết phần mở bài cho học sinh. Vì vậy, dạy học cách viết mở bài phải được vận
dụng thường xuyên trong thời gian dạy khối, dạy ôn thi tốt nghiệp, dạy học bài
luyện tập về thao tác luận,... đặc biệt là ở tiết trả bài.
Trước một vấn đề tưởng rằng: “Biết rồi, khổ lắm nói mãi!” nhưng vào thực tế
khi thể hiện vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu.
Mở bài 2: Xuân Quỳnh là nhà thơ của hạnh phúc đời thường. Thơ của bà là
tiếng lòng của một tâm hồn luôn luôn khao khát tình yêu, gắn bó hết mình với
cuộc sống hàng ngày, trân trọng, nâng niu và chăm chút cho hạnh phúc đời
thường. Trong các nhà thơ nữ Việt Nạm, Xuân Quỳnh xứng đáng được gọi là
nhà thơ của tình yêu. Bà viết nhiều, viết hay về tình yêu nhưng có lẽ “Sóng” là
bài thơ đặc sắc hơn cả. Bởi nó nói lên được một tâm hồn khao khát yêu đương,
một tình yêu vừa hồn nhiên chân thật, vừa mãnh liệt, sôi nổi của một trái tim
người phụ nữ.
Mở bài 3: Tình yêu là đề tài muôn thuở của thi ca . Nhiều nhà thơ nổi tiếng đã
viết về tình yêu với tất cả sự nồng nhiệt của một trái tim tuổi trẻ . Ta bắt gặp một
Xuân Diệu nồng nàn, đắm say và khát khao dâng hiến cho tình yêu, một Nguyễn
Bính mơ màng tìm về tình yêu đồng nội, một Anh Thơ tha thiết nhưng thẹn
thùng cái duyên con gái… nhưng chỉ đến Xuân Quỳnh, cái khát vọng rất đỗi đời
thường của con người đó mới được bộc bạch , mà bộc bạch một cách chân thành
như chính cuộc đời nhà thơ vậy : một thứ tình yêu vừa phong phú, phức tạp, vừa
Trang 16
thiết tha sôi nổi của một trái tim phụ nữ đang rạo rực, đang khao khát yêu
đương. Để bày tỏ được nỗi khát vọng ấy, Xuân Quỳnh đã tìm được một hình
tượng thật đặc sắc –“Sóng” – Bài thơ được rút từ tập “Hoa dọc chiến hào”
(1968 ).
Mở bài 4: Một nhà thơ cổ điển Pháp từng nói: “Tình yêu là điều mà con người
không thể hiểu nổi.” Thật vậy, từ ngàn đời nay tình yêu luôn là điều bí ẩn, là đề
tài vô tận của văn chương. Nhiều văn nhân thi sĩ đã mượn văn chương để lí giải
tình yêu nhưng chẳng ai cắt nghĩa trọn vẹn hai mĩ từ ấy. Nhà thơ Xuân Diệu đã
từng ví von “Yêu là chết trong lòng một tí”, Đỗ Trung Quân cũng từng thốt lên
rằng “Anh đã thấy một điều mong manh nhất – Là tình yêu, là tình yêu ngát
hương” , đặc biệt là “Sóng” của nữ thi sĩ Xuân Quỳnh. “Sóng” là nơi gửi gắm