Phương pháp tối ưu trong giảng dạy tiết 34 phong cách ngôn ngữ sinh hoạt ngữ văn 10 - Pdf 44

MỤC LỤC

1


1. Mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài:
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa thế giới (Unesco) xác định mục
tiêu của giáo dục thế kỉ XXI là: Học để biết, học để làm, học để chung sống và
học để tự khẳng định mình. Luật Giáo dục Việt Nam, năm 2005 cũng khẳng
định, mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá
nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã
hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh
tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng bảo vệ Tổ
Quốc. Theo đó, trong những năm gần đây mục tiêu giáo dục của Việt Nam đã
chuyển từ mục tiêu cung cấp kiến thức là chủ yếu sang mục tiêu hình thành và
phát triển những năng lực và kĩ năng sống cần thiết cho người học nhằm giúp
người học có thể ứng xử hiệu quả trước các nhu cầu và thách thức của cuộc
sống.
Nhưng thực tế cho thấy, hiện nay, nhiều học sinh vẫn học một cách thụ
động, chưa tích cực trong các hoạt động học. Học sinh vẫn chưa bỏ thói quen chỉ
chú trọng đến việc nghe thầy giảng, ghi chép, làm theo sự định hướng của thầy
một cách máy móc, thiếu chủ động, sáng tạo. Vì thế nhiều kĩ năng của học sinh
không được rèn luyện, dẫn đến học sinh thiếu tự tin, ngại suy nghĩ , ngại làm
việc, không thích sự thay đổi, nhầm lẫn trong việc xác định giá trị, lúng túng
trong việc xử lí tình huống, thiếu kĩ năng ứng phó với hoàn cảnh...
Đối với bộ môn Ngữ văn, đặc biệt là với các bài học của phân môn Tiếng
Việt, chưa thu hút được sự chú ý, chủ động, say mê của học sinh, phần nhiều học
với thái độ hời hợt, chiếu lệ, thậm chí bỏ qua không học. Nhiều giáo viên mứi
chỉ chú tâm đầu tư nhiều cho việc dạy và học phần văn bản và làm văn mà chưa

quan trọng để có thể thành công.
1.2.2. Đối với giáo viên:
Với sáng kiến kinh nghiệm này, tôi mong muốn các thầy cô giáo khác
cũng thay đổi quan điểm, đánh giá đúng mức tầm quan trọng của phân môn
Tiếng Việt, từ đó có những đầu tư phù hợp cho bài dạy. Các đồng nghiệp có thể
sử dụng sáng kiến kinh nghiệm của tôi như một tài liệu tham khảo nếu muốn.
1.3. Đối tượng nghiên cứu:
Với đề tài này, tôi sẽ nghiên cứu, tổng kết về việc tổ chức giảng dạy bài
“Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” – ngữ văn 10 sao cho đạt hiệu quả cao nhất,
phát huy tính thiết thực của bài học một cách tốt nhất.
1.4. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp điều tra khảo sát thực tế:
1.4.1. Đối tượng khảo sát:
- 2 lớp thuộc khối 10
- Sĩ số: 1 lớp 48 học sinh và 1 lớp 41 học sinh
- Đặc điểm: Học chương trình chuẩn, điều kiện học tập như nhau.
1.4.2. Hình thức khảo sát:
- Kiểm tra phần làm bài cũ và việc chuẩn bị mới ở nhà của học sinh theo hướng
dẫn của giáo viên.
- Quan sát học sinh trong tiết học cùng phân môn (ngay trước bài nghiên cứu):
“Đặc điểm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết”.
1.4.3. Nội dung khảo sát:
- Mục tiêu khảo sát: giáo viên nắm bắt quá trình chuẩn bị bài và quá trình tham
gia hoạt động của các em để đánh giá tinh thần, thái độ học tập, kết quả giờ học
từ đó có hướng sử dụng các phương pháp dạy học tích cực tác động vào quá
trình học tập chủ động của học sinh.
2. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm:
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm:
Trên tinh thần đổi mới chung, chương trình giáo dục phổ thông sau 2015
hướng tới việc tiếp cận năng lực cho người học làm mục tiêu trực tiếp, không

Dạy học theo nguyên tắc và yêu cầu tích hợp, đảm bảo sự liên kết, tương
trợ chặt chẽ giữa học tiếng Việt với đọc hiểu văn bản và làm văn.
Góp phần hình thành và phát triển năng lực. Quan điểm này yêu cầu dạy
học tiếng Việt cần chú ý khả năng vận dụng kiến thức tiếng Việt vào thực tiễn
cuộc sống, nhằm hình thành và phát triển năng lực giao tiếp thông qua hai nhóm
kĩ năng lớn: Tiếp nhận (đọc, nghe, quan sát); tạo lập (nói, viết, trình bày).
Tiếp tục thực hiện tốt dạy học tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp: Linh
hồn của quan điểm này là đưa học sinh vào các tình huống giao tiếp hàng ngày
trong cuộc sống đẻ sử dụng các đơn vị tiếng Việt một cách phù hợp và hiệu quả.
Theo cách đó, tiếng Việt sẽ thể hiện được vẻ giàu có và vẻ đẹp của nó một cách
sinh động, phong phú và biến hóa linh hoạt chứ không phải là các đơn vị ngôn
ngữ chết nằm trong một cấu trúc cứng nhắc[2].
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
4


Như đã trình bày trong phần lý do chọn đề tài, thực trạng dậy và học
Tiếng Việt trong nhà trường THPT hiện nay là chưa đúng với vai trò, vị trí của
phân môn. Đánh giá chưa đúng dẫn tới việc coi nhẹ, ít đầu tư cho bài giảng.
Nhiều khi giáo viên chỉ giảng lướt qua, dồn ghép nhiều tiết vào trong một giờ
dạy, không tạo dược tình huống giao tiếp cụ thể, khiến bài học nặng về lý thuyết.
Học sinh không mấy hứng thú, vì nghe qua dường như cái gì cũng đã biết nên
cũng học qua loa, chiếu lệ. Chính vì vậy, bổ sung thêm tri thức Tiếng Việt và rèn
luyện thực sự kĩ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ cho học sinh chưa đạt hiệu quả
mong muốn. Với kinh nghiệm hơn mười năm công tác trong nghề, tôi nhận thấy
một thực tế là học sinh ngày nay không mặn mà với các sách văn học trong
nước. Các em thường ưu tiên cho việc lướt mạng, đọc tryện ngôn tình, xem
những bộ phim hoạt hình mang tính bạo lực và nhiều nội dung đã “người lớn
hóa”. Hệ lụy của tất cả những sự việc này là khả năng diễn đạt ngôn ngữ của thế
hệ trẻ càng ngày càng hạn chế, các em thích vui chơi theo bầy đàn mà khó có thể



nên sự sự chuyển biến trong thái độ học tập, cách thức hợp tác, giúp học sinh thể
hiện rõ năng lực nhận thức và giao tiếp Tiếng Việt.
2.3. Giải pháp thực hiện:
2.3.1. Xác định mục tiêu bài học:
Giáo viên nghiên cứu tài liệu, tình hình hình thực tế, xác định mục tiêu bài
học:Thông qua việc áp dụng các phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học tích
cực, nhằm tạo nên một sự thay đổi đột phá mang lại hiệu quả cao trong giờ dạy
bài học tiết 34 “Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt” – Ngữ văn 10, giúp học sinh:
Về kiến thức:
- Nắm vững khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt và các dạng chủ yếu của ngôn ngữ
sinh hoạt.
Về kỹ năng:
- Lĩnh hội và phân tích ngôn ngữ thuộc phong cách ngôn ngữ sinh hoạt.
- Rèn luyện và nâng cao năng lực giao tiếp trong sinh hoạt hàng ngày.
Về thái độ:
- Có ý thức chủ động trong việc biểu hiện tình cảm, thái độ và văn hóa trong
giao tiếp.
2.3.2. Xác định phương pháp, phương tiện thực hiện:
2.3.2.1.Phương pháp tiến hành:
- Kết hợp các phương pháp: phát vấn, tình huống có vấn đề (tình huống giao tiếp
thực tế, gần gũi), thảo luận nhóm, quy nạp… Xin nhấn mạnh, do đặc thù bài học
về ngôn ngữ sinh hoạt nên quan trọng nhất về mặt phương pháp là phải đưa ra
các tỉnh huống giao tiếp cụ thể, gần gũi, tiêu biểu, thiết thực chắc chắn sẽ thu
hút được sự quan tâm và chủ động lĩnh hội của học sinh.
2.3.2.2.Phương tiện thực hiện:
- Sách giáo khoa, sách giáo viên, giáo án giấy, giáo án điện tử
- Phấn trắng, phấn mầu
- Bảng phụ (giấy mầu xanh khổ lớn Ao), nam châm, máy chiếu

- Kiểm tra bài cũ ( không kiểm tra đầu tiết mà lồng vào phần học bài mới):
- Giới thiệu bài mới:
Trong cuộc sống hàng ngày, để giao tiếp với nhau, chúng ta thường sử
dụng một phương tiện đơn giản, phổ biến nhất là ngôn ngữ nói, hay còn gọi là
ngôn ngữ sinh hoạt. Chương trình Ngữ Văn 10 dành cho chúng ta hai tiết để tìm
hiểu về phong cách ngôn ngữ sinh hoạt. Hôm nay, chúng ta học tiết đầu tiên. Để
bắt đầu bài học, cô trò ta trao đổi một chút. Cô muốn các em cho cô biết: sáng
nay khi rời nhà đi học, em có nói gì với người thân của mình không? Nếu có,
hãy nhắc lại đúng ngữ điệu những lời nói đó. (GV cần linh hoạt tận dụng tình
huống giao tiếp này của học sinh để nhấn mạnh với các em về mục tiêu của bài
học – tạo không khí và lôi kéo học sinh nhập cuộc vào giờ học.)
- Giáo viên chiếu slide 2: Tên bài học
Phần bài mới:
I. Ngôn ngữ sinh hoạt:
1. Khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt:
a, Tìm hiểu ngữ liệu:
- Giáo viên dẫn dắt: Để tìm hiểu phong cách ngôn ngữ sinh hoạt, trước tiên,
chúng ta cần nắm được một số vấn đề của ngôn ngữ sinh hoạt. Và vấn đề đầu
tiên là khái niệm. Muốn biết thế nào là ngôn ngữ sinh hoạt, cô trò ta sẽ cùng tìm
hiểu ngữ liệu. Mời các em hướng về màn hình.
- Giáo viên chiếu slide 3 (ngữ liệu), chỉ định 1 học sinh đọc to, cả lớp theo dõi
màn hình.
Buổi trưa, tại khu tập thể X, hai bạn Lan và Hùng gọi bạn Hương đi học.)
- Hương ơi! Đi học đi!
(Im lặng)
- Hương ơi! Đi học đi! (Lan và Hùng gào lên)
- Gì mà ầm ầm lên thế chúng mày! Không cho ai ngủ ngáy nữa à! (tiếng một
người đàn ông nói to)
- Các cháu ơi, khẽ chứ! Để cho các bác ngủ trưa với!...Nhanh lên con, Hương!
(tiếng mẹ của Hương nhẹ nhàng ôn tồn)

gian của cuộc đối thoại ?
2. Nhân vật giao tiếp là những ai?
Quan hệ giữa họ như thế nào?
3. Xác định nội dung, hình thức,
mục đích của cuộc đối thoại?
- Nhóm 3+4:
4. Việc sử dụng từ ngữ, kiểu câu
của cuộc đối thoại có đặc điểm
gì?
5. Ngoài ngôn ngữ, cuộc đối còn
sử dụng phương tiện hỗ trợ nào?

(Buổi trưa, tại khu tập thể X, hai bạn Lan và
Hùng gọi bạn Hương đi học.)
- Hương ơi! Đi học đi!
(Im lặng)
- Hương ơi! Đi học đi! (Lan và Hùng gào
lên)
- Gì mà ầm ầm lên thế chúng mày! Không
cho ai ngủ ngáy nữa à! (tiếng một người
đàn ông nói to)
- Các cháu ơi, khẽ chứ! Để cho các bác ngủ
trưa với!...Nhanh lên con, Hương! (tiếng mẹ
của Hương nhẹ nhàng ôn tồn)
- Đây rồi , ra đây rồi! (tiếng Hương nhỏ
nhẹ)
- Gớm, chậm như rùa ấy! Cô phê bình chết
thôi! (tiếng Lan càu nhàu)
- Hôm nào cũng chậm. Lạch bà lạch bạch
như vịt bầu!...(tiếng Hùng tiếp lời)

hội thoại…) là lời ăn tiếng nói hàng ngày, dùng để trao đổi thông tin, trao đổi
ý nghĩ, tình cảm… đáp ứng những nhu cầu trong cuộc sống.
- Giáo viên chuyển ý: Ngôn ngữ sinh hoạt là lời ăn tiếng nói hàng ngày của
chúng ta, được mọi người sử dụng, trong mọi hoàn cảnh, do đó biểu hiện của
ngôn ngữ sinh hoạt cũng hết sức đa dạng. Trong phần tiếp theo của tiết học, cô
trò chúng ta sẽ cùng tìm hiểu các dạng biểu hiện của ngôn ngữ sinh hoạt.
2. Các dạng biểu hiện của ngôn ngữ sinh hoạt:
- Giáo viên chỉ định 1 học sinh nhắc lại yêu cầu phần chuẩn bị bài ở nhà của học
sinh:
Em hãy nêu một số ví dụ về việc dùng ngôn ngữ sinh hoạt trong cuộc sống hàng
ngày mà em gặp.
Hãy chọn và đọc một đoạn đối thoại trong một tác phẩm mà em thích của
chương trình ngữ văn 10.
Hãy chọn và đọc một đoạn tin nhắn qua điện thoại của em và một người bạn.
Hãy cho cô và các bạn lắng nghe một đoạn của bức thư em viết để gửi người
thân hoặc bạn bè.
Hãy chia sẻ một đoạn nhật kí của em với cô giáo và các bạn.
9


- Giáo viên yêu cầu học sinh trình bày phần đã chuẩn bị ở nhà (Mỗi yêu cầu gọi
1-2 học sinh trình bày)
- Sau khi học sinh lần lượt trình bày các nội dung trên, giáo viên dẫn dắt: Các ví
dụ về sử dụng ngôn ngữ sinh hoạt trực tiếp hàng ngày, các đoạn đối thoại giữa
các nhân vật trong tác phẩm văn học, tin nhắn văn bản qua điện thoại, thư từ,
nhật kí… mà các em vừa chia sẻ đã bao gồm các dạng biểu hiện chính của ngôn
ngữ sinh hoạt. Vậy theo em, ngôn ngữ sinh hoạt tồn tại phổ biến ở dạng nào?
Bên cạnh dạng phổ biến ấy còn có những trường hợp đặc biệt nào?
- Giáo viên gọi 1-2 học sinh trả lời, dẫn dắt, gợi mở, định hướng, chỉnh sửa nếu
cần, chốt kiến thức và ghi bảng:



Slide 8 – Giáo viên dẫn dắt: Cuộc giao tiếp này được lấy từ đâu? Giữa ai
với ai? Hình thức của giao tiếp là gì?
Ví dụ 2:
- Chết chửa ! Chữ “kê” là gà, sao thầy lại dạy ra “dủ dỉ” là con “dù dì” ?
Bấy giờ thầy mới nghĩ thầm: “ Mình đã dốt, thổ công nhà nó cũng dốt nữa”,
nhưng nhanh trí thầy vội nói gỡ:
- Tôi vẫn biết chữ ấy là chữ “kê”, mà “kê” nghĩa là “gà”, nhưng tôi dạy thế là
dạy cho cháu đến tận tam đại con gà kia…
( Trích truyện cười “Tam đại con gà” [3])

Hình thức: Đối thoại và độc thoại ( giữa các nhân vật trong truyện)
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên chốt đáp án:Đối thoại và độc thoại của
các nhân vật trong truyện cười “Tam đại con gà”
+ Slide 9 – Giáo viên dẫn dắt: Cuộc giao tiếp này được lấy từ đâu? Giữa ai với
ai? Hình thức của giao tiếp là gì?
Ví dụ 3:

Hình thức: Tin nhắn thoại
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên chốt đáp án:Tin nhắn trên điện thoại di
động giữa 2 học sinh.
11


Slide 10 – Giáo viên dẫn dắt: Cuộc giao tiếp này được lấy từ đâu? Giữa ai
với ai? Hình thức của giao tiếp là gì?
Ví dụ 4:
Thấm thoát đã 6 tháng kể từ ngày em nhập ngũ, anh mới biên bức thư này
cho em. Em có khỏe không? Vẫn học tập và rèn luyện tốt chứ? Anh và ba mẹ

mừng vì các con đang được sống trong sự yêu thương của một người mẹ tốt,
người sẽ chăm lo thật tốt cho các con, chắc chắn vậy rồi!
Hình thức: Thư (bố gửi con trai)
(Giáo viên bổ sung thêm thông tin: Còn đây cũng là 1 phần của bức thư,
cô sưu tầm ở trên mạng của người bố gửi cậu con trai mới sinh của mình. Hoàn
12


cảnh của giao tiếp ở đây có thể hiểu là bố mẹ em li hôn, em và chị gái ở với mẹ,
các em có thể thấy rõ mặc dù cũng là thư nhưng ngôn ngữ vừa thân mật, gần gũi
vừa trang trọng, nghiêm túc)
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên chốt đáp án:Thư (bố gửi cậu con trai
mới sinh). Đọc thư thấy xúc động, thương xót.
Slide 12 - Giáo viên dẫn dắt: Cuộc giao tiếp này được lấy từ đâu? Giữa ai
với ai? Hình thức của giao tiếp là gì?
Ví dụ 6:
Hắn giương mắt nhìn thị, không hiểu. Thật ra lúc ấy hắn cũng chưa nhận ra thị
là ai. Hôm nay thị rách quá, áo quần tả tơi như tổ đỉa, thị gầy sọp hẳn đi, trên cái
khuôn mặt lưỡi cày xám xịt chỉ còn thấy hai con mắt .
- Hôm ấy leo lẻo cái mồm hẹn xuống thế mà mất mặt.
À, hắn nhớ ra rồi hắn toét miệng cười.
- Chả hôm ấy thì hôm nay vậy. Này, hẵng ngồi xuống đây ăn miếng giầu đã.
- Có ăn gì thì ăn, chả ăn giầu.
Thị vẫn cong cớn trước mặt hắn
- Đấy muốn ăn gì thì ăn.
- Hắn vỗ vỗ vào túi.
(Trích Vợ nhặt – Kim Lân[4])

Hình thức: Đối thoại (của nhân vật trong truyện)
Sau khi học sinh trả lời, giáo viên chốt đáp án:Đối thoại của hai nhân

Ý b/
- Biểu hiện ở dạng lời nói tái hiện. Đó là lời của Năm Hên đáp lại lời dân làng
- Từ ngữ của nhân vật mang tính địa phương Nam Bộ và ngôn ngữ của người
chuyên bắt sấu, sắc thái tự nhiên của lời ăn tiếng nói sinh hoạt hàng ngày:
+ Đi ghe xuồng
+ Ngặt tôi không mang thứ phú quới đó.
+ Cực lòng biết bao nhiêu.
+ rượt; rạch
+ “Có vậy…là xong”.
Tác giả mô phỏng ngôn ngữ sử dụng ở vùng Nam Bộ và ngôn ngữ
của người chuyên đi bắt cá sấu nhằm mục đích làm sinh động ngôn ngữ kể
chuyện và làm rõ tính cách nhân vật Năm Hên.
Củng cố, dặn dò:
- Qua bài học này, chúng ta đã hiểu rõ khái niệm ngôn ngữ sinh hoạt, thấy
được những biểu hiện đa dạng và tầm quan trọng ngôn ngữ sinh hoạt. Do đó,
chúng ta cần nghiêm túc, chủ động trong việc học hỏi, rèn luyện kĩ năng sử dụng
ngôn ngữ tiếng Việt; trong giao tiếp hàng ngày luôn có ý thức lựa chọn cách nói
năng, diễn đạt phù hợp với từng tình huống giao tiếp để đạt hiệu quả giao tiếp
cao nhất. Giao tiếp tốt là điều kiện đầu tiên quyết định thành công của chúng ta.
- Chuẩn bị tiết tiếp theo: soạn bài “Tỏ lòng”
2.3.5. Rút kinh nghiệm bài dạy:
Sau khi tiết học kết thúc, giáo viên nhận thấy rõ rệt sự hào hứng của học
sinh và chất lượng của giờ học, do đó các tiết học sau sẽ tiếp tục triển khai theo
hướng này và sẽ cố gắng chuẩn bị các ví dụ sinh động, gần gũi hơn nâng cao
hơn nữa chất ượng dạy và học.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
14


Qua quá trình dạy học, với việc sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy

“Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt”
• Kết quả khảo sát
Về việc chuẩn bị bài:
+ Có em đã 80/91 chuẩn bị bài đầy đủ về số lượng (phần giáo viên yêu
cầu chuẩn bị trước ở nhà)
+ Có 04 em chuẩn bị nhưng còn thiếu
+ Có 07 em không chuẩn bị bài
Trong giờ học: 100% học sinh trong lớp đã quan tâm, chú ý đến các hoạt
động mà giáo viên tổ chức, nhiều em tỏ ra nhiệt tình (50 – 55/91 em), thể hiện
tinh thần hăng hái thi đua khi làm bài tập nhóm (Nhóm 2 – Lớp 10K, nhóm 1, 2
– Lớp 10C).
3. Kết luận, kiến nghị:
3.1. Kết luận:

15


Với khuôn khổ của một đề tài nhỏ, có đối tượng nghiên cứu và mục đích
cụ thể nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy phân môn Tiếng Việt trong chương
trình ngữ văn THPT, tôi nhận thấy đây là một phương pháp có tính thực tiễn cao,
dễ áp dụng, có thể triển khai với nhiều đối tượng học sinh khác nhau. Mặt khác,
khi tiến hành so sánh dễ nhận thấy hiệu quả rõ rệt của phương pháp này: Học
sinh hứng thú, chủ động và tích cực tham gia hoạt động dạy – học do giáo viên
tổ chức, kiến thức được tiếp thu một cách nhẹ nhàng, dễ nhớ vì nó gắn với tình
huống giao tiếp cụ thể, thực tế. Do đó, người viết mạnh dạn chắp bút trình bày
dưới dạng một sáng kiến kinh nghiệm của bản thân với mong muốn được chia sẻ
với đồng nghiệp một phần kinh nghiệm ts ỏi của mình, rất mong nhận được sự
trao đổi, góp ý để chúng ta có thể hoàn thành tốt hơn bài dạy cũng như sứ mệnh
trồng người của mình. Xin sẵn sàng đón nhận và trân trọng cảm ơn!
3.2. Kiến nghị:



DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN

Họ và tên tác giả: Trịnh Thị Giang
Chức vụ và đơn vị công tác: Giáo viên Trường THPT Hà Trung

TT

Tên đề tài SKKN

Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
giá xếp loại
xếp loại
(Phòng, Sở,
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)

Năm học
đánh giá xếp
loại

Khai thác lợi thế của môn Ngữ
1.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status