Sư dụng phuơng pháp đàm thoại trong giảng day - Pdf 30

AaaA AaĐặt vấn đề:
1. Lời mở đầu:
Mối quan hệ trong quá trình dạy học đó là một nghệ thuật cho và nhận,
truyền thụ và lĩnh hội. Vì thế câu hỏi lớn cần đặt ra ở đây là: Ngời cho truyền thụ
nh thế nào, bằng cách nào để ngời nhận có thể lĩnh hội với tất cả lòng say mê, tính
tự giác, chủ động tích cực và có hiệu quả. Để đạt đợc điều đó đòi hỏi giáo viên- ngời
truyền thụ phải có sự suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng đợc các phơng pháp phù hợp với nội
dung, đặc thù của từng bài học. Tôi thiết nghĩ rằng: Ngời giáo viên lên lớp cũng giống
nh ngời nghệ sĩ khi lên sân khấu để cuốn hút đợc khán giả thì ngoài năng khiếu ra
còn đòi hỏi cả một nghệ thuật. Ngời giáo viên cũng vậy, để giờ giảng của mình thực
sự sinh động và học sinh có thể tiếp thu bài một cách có hiệu quả thì ngoài những tri
thức vốn có của mình một yếu tố không thể thiếu đợc là năng lực s phạm- hay nói
cách khác là phơng pháp, kĩ năng truyền thụ. Theo phơng châm của giáo dục đào tạo
hiện nay lấy học sinh làm vị trí trung tâm trong các giờ học, học sinh phải là chủ
thể tích cực thì việc lựa chọn phơng pháp phù hợp bài giảng, phát huy đợc tính chủ
động, tích cc, sáng tạo của học sinh đây là một vấn đề không đơn giản.
2. Tính cấp thiết của đề tài:
Từ sự tác động của tình hình thực tiễn hiện nay đối với công tác giáo dục nói
chung và đối với các trờng THPT nói riêng, thì một t tởng đã ăn sâu bám rễ vào
nhận thức của học sinh đó là: môn Giáo dục công dân là môn phụ ( vì không phải
môn thi tốt nghiệp cũng không phải là môn thi Đại học) nên đã tác động đến tâm lí, ý
thức của các em: học cũng chẳng để làm gì, không cần thiết phải học môn Giáo dục
công dân.Mặc dù đó là môn học giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân
cách, giáo dục đạo đức, ý thức tuân thủ pháp luật và lí tởng cách mạng. Chính vì vậy
mà trong các giờ học thầy cứ say sa giảng bài còn học sinh đón nhận với một thái độ
thờ ơ lạnh nhạt, thầy dạy rất nhiều nhng học sinh tiếp nhận không đợc bao nhiêu. Từ
thực trạng đó đã tác động đến tâm lí giáo viên đó là làm cho giáo viên cảm thấy mất
hứng thú, dẫn đến chán nản không thiết tha với môn dạy của mình vì vậy đã ít đầu t,
ít sáng tạo trong quá trình soạn, giảng để khai thác kiến thức trong các bài dạy. Cho
nên hiệu quả của các giờ lên lớp cha cao.
Mặt khác, khi vận dụng phơng pháp thuyết trình, phơng pháp nêu vấn đề vào

Dựa vào hiểu biết của mình em hãy đọc các câu thơ, tục ngữ, ca dao hoặc hát một
đoạn bài hát về tình yêu? Từ những câu thơ, tục ngữ, ca dao nói về tình yêu em thấy
tình yêu có những biểu hiện gì? Hãy nêu những quan niệm về tình yêu mà em biết?
Tình yêu nam, nữ khác tình yêu quê hơng đất nớc nh thế nào? Thông qua hệ thống
những câu hỏi đó giáo viên dẫn dắt học sinh đến việc lĩnh hội tri thức mới.
Nh vậy, đàm thoại là phơng pháp dạy học, trong đó việc truyền thụ và lĩnh hội
tri thức mới của giáo viên và học sinh thông qua hệ thống câu trả lời những yêu cầu,
gợi ý do giáo viên nêu ra. Trên cơ sở những tri thức đã đợc lĩnh hội học sinh nêu lên
những câu hỏi để giáo viên trả lời.
Trong cuộc sống và hoạt động của bản thân con ngời luôn luôn đặt ra những
câu hỏi: Do đâu mà nh vậy? Làm thế nào? Quan hệ ra sao? Căn cứ vào những vốn
hiểu biết con ngời sẽ tìm kiếm những câu trả lời thích hợp, phơng thức và phơng pháp
hành động phù hợp với hiện thực xung quanh và trên cơ sở đó ngày càng hiểu biết
đầy đủ hơn, chính xác hơn thế giới khách quan. Quá trình nhận thức của con ngời đi
từ cha biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ đơn giản đến phức tạp, từ cảm tính
đến lí tính, từ kinh ngiệm đến lí luận. Đó chính là những nấc thang của nhận thức
giúp con ngời đi sâu vào bản chất của sự vât, hiện tợng, hiểu biết chân lí. Vì thế, nhận
thức và t duy của con ngời luôn luôn giải pháp những vấn đề của cuộc sống, của hiện
thực khách quan mà họ cha đợc sáng tỏ. Trên cơ sở của mối liên hệ những cái đã biết,
nắm vững kiến thức đã thu nhận đợc. Đàm thoại chính là sự hỗ trợ, gợi mở giúp con
ngời có thể đi đến nhận thức cái cha biết làm giàu thêm tri thức của mình trên cơ sở
những kiến thức đã tích luỹ đợc. Nó có tính phổ biến và tính thuyết phục cao không
2
chỉ trong việc truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học mà cả trong cuộc sống hàng
ngày.
Đối với môn học GDCD, đàm thoại sẽ giúp cho học sinh tiếp cận, hiểu và từng
bớc nẵm vững kiến thức mang tính phổ biến, khái quát và trừu tợng cao, nhng lại rất
thiết thực và gắn bó với cuộc sống, hiện tại và tơng lai của học sinh. Đồng thời, dới sự
hớng dẫn của giáo viên, học sinh sẽ hình thành, phát triển năng lực t duy độc lập,
sáng tạo, t duy lôgic. Bởi vì để trả lời đợc những câu hỏi, diễn đạt đợc t tởng của

quanh mình? Việc quan sát các sự vật hiện tợng trong thế giới xung quanh nh trời, đất,
mây, ma, nắng, ngày, đêm đem lại cho họ điều gì? Suy cho cùng những hiểu biết mà ngời
nông dân nói trên có đợc bắt nguồn từ đâu? Con ngời đã phải làm gì để có đợc những
hiểu biết đó? Từ đó cho biết vì sao nói thực tiễn là cơ sở của nhận thức.
3
3/ Câu hỏi phải ngắn gọn, rõ ràng, chính xác cả về nội dung và từ ngữ. Những câu hỏi
dài, mập mờ, không chính xác sẽ làm cho học sinh khó hiểu, hoặc không hiểu và do đó
sẽ khó trả lời hay trả lời không đúng nội dung định hớng của giáo viên.
4/ Câu hỏi phải phù hợp với nội dung bài giảng, gần gũi với thực tế hay những nội dung
kiến thức học sinh đã tích luỹ đợc. Câu hỏi đòi hỏi trả lời bằng những kiến thức học sinh
cha đựơc trang bị, tích luỹ sẽ làm cho các em không đủ khả năng trả lời dẫn đến chán
học.
5/ Câu hỏi đặt ra phải phù hợp với đặc điểm, tâm sinh lí, thực tế xã hội (Tình hình, phong
tục, tập quán, tôn giáocủa địa phơng), trình độ học sinh. Khi nêu ra các câu hỏi cần
tính đến các loại học sinh khác nhau trong một lớp để một mặt kích thích sự phát triển trí
tuệ ở học sinh trung bình và khá, mặt khác có thể giúp học sinh yếu kém phát huy tính
tích cực, do đó động viên sự hăng hái học tập của học sinh. Muốn vậy cần có sự đầu t
thoả đáng của giáo viên vào việc đặt câu hỏi chính, dự kiến những cách trả lời của học
sinh, đặt ra các câu hỏi phụ nhằm gợi mở cho học sinh.
6/ Môn GDCD, một môn học có chức năng hệ t tởng, thờng bị định kiến không tốt về
mặt chính trị, t tởng. Cho nên cần khuyến khích học sinh tự do đặt ra, tranh luận, giải
quyết những vấn đề thuộc nội dung bài học và thực tiễn đang diễn ra xung quanh. Chính
việc tranh luận của học sinh dới sự chỉ đạo của giáo viên sẽ giúp cho cả giáo viên và học
sinh lí luận và thực tiễn đúng đắn và đầy đủ, rút bớt con đờng nhận thức chân lí.
Khi đặt ra và giải đáp câu hỏi của mình, có thể học sinh sẽ phải mắc sai sót.
Với bất kì câu hỏi hay câu trả lời nào của học sinh, giáo viên phải thể hiện sự trân trọng,
chăm chú. Đối với những câu hỏi và câu trả lời tốt cần khuyến khích, khen ngợi kịp thời.
Nhng với những câu trả lời có sai sót, kể cả sai về cách nhìn nhận đánh giá cũng không
vội vàng phê phán mà cần nhẹ nhàng và nghiêm túc phân tích để học sinh tự nhìn nhận
vấn đề đúng, sai của bản thân họ.

theo loại nào. Vì mỗi loại định nghĩa khái niệm có cách nêu dấu hiệu bản chất riêng
của mình. Chẳng hạn, trong sách giáo khoa GDCD các phạm trù và khái niệm đợc
định nghĩa qua quan hệ ( vật chất), qua giống gần gũi và khác biệt về loài ( lòng
yêu nớc, pháp luật, xã hội), qua nguồn gốc ( đất nớc
Mỗi loại định nghĩa khái niệm phạm trù có cách đàm thoại diễn giải riêng bằng
cách nêu ra các câu hỏi phù hợp với loại định nghĩa đóChẳng hạn, sử dụng đàm
thoại diễn giải để giải thích khái niệm pháp luật (Bài 1- Pháp luật và đời sống-
GDCD 12) có thể xây dựng các câu hỏi dựa vào loại định nghĩa khái niệm này. Định
nghĩa khái niệm pháp luật là định nghĩa qua giống gần gũi và khác biệt về loài.
Trong định nghĩa đó dấu hiệu gần gũi là các qui tắc xử sự có tính chất qui định
chung, còn dấu hiệu khác biệt về loài là các qui tắc xử sự có tính chất chung ấy đ-
ợc Nhà nớc qui định và đảm bảo thi hành bằng sức mạnh của Nhà nớc. Để làm nổi bật
các dấu hiệu bản chất đó giáo viên có thể đặt câu hỏi: Trong các quan hệ xã hội có
bao nhiêu qui tắc xử sự có tính bắt buộc chung? Em hãy kể một số qui tắc xử sự có
tính bắt buộc chung đó? Trong số các qui tắc đó qui tắc các qui tắc nào do Nhà nớc
qui định? Nhà nớc qui định các qui tắc đó để làm gì? Nếu công dân không thực hiện
các qui tắc ấy thì Nhà nớc phải làm gì? Đến đây giáo viên có thể tổng hợp các dấu
hiệu bản chất của khái niệm pháp luật và có thể hỏi: Em hãy nêu định nghĩa đầy đủ
về pháp luật (hay thế nào là pháp luật, hoặc pháp luật là gì?). Trong đàm thoại diễn
giải, để giảng các khái niệm và phạm trù, khó nhất là giải thích khái niệm và phạm
trù thông qua quan hệ, vì lúc đó phải giải thích các khái niệm và phạm trù có quan hệ
với chúng.
b. Đàm thoại dẫn dắt:
Khi giảng dạy, giáo viên không chỉ dừng lại ở việc làm cho học sinh hiểu đợc
khái niệm, phạm trù, mà phải hớng tới giúp cho học sinh hiểu và nắm vững kiến thức
của từng đề mục trong bài và của toàn bài. Chính đàm thoại dẫn dắt nhằm đa học sinh
đến mục đích đó căn cứ vào kiến thức của bài, vốn hiểu biết đã có của học sinh, giáo
viên nêu ra một hệ thống câu hỏi theo trình tự lôgic xác định, giúp học sinh tiếp cận
dần dần với tri thức cần lĩnh hội. Dựa vào hệ thống các câu hỏi, những gợi ý cần thiết
5

tuệ của học sinh.
Ví dụ: Khi giảng phần 1a. Con ngời tự sáng tạo ra lịch sử của mình (Bài 9- Con
ngời là chủ thể của lịch sử, là mục tiêu phát triển của xã hội- GDCD- Lớp 10) Giáo
viên có thể tự mình nêu lên hoặc đặt ra câu hỏi để làm rõ đợc vai trò của con ngời đối
với lịch sử của chính mình. Nh: Các em hãy chỉ ra điểm khác nhau cơ bản giữa con
ngời và con vật? Học sinh suy nghĩ và trả lời, giáo viên bổ sung và kết luận. Sau đó
đặt câu hỏi tiếp: Nếu không có hoạt động chế tạo và sử dụng công cụ lao động thì có
con ngời hay không? Vì sao? Con ngời xuất hiện từ khi nào? Qua đó theo em lịch sử
xã hội loài ngời bắt đầu từ khi nào? ai đã tạo ra lịch sử xã hội loài ngời? Tại sao lại là
con ngời chứ không phải ai khác?
Nh vậy, trong khi đàm thoại tìm tòi, giáo viên cần kết hợp khéo léo với đàm
thoại dẫn dắt. ở đây đàm thoại dẫn dắt chỉ có vai trò định hớng trong việc tìm tòi và
6
rút ra kết luận của học sinh. Đơng nhiên trong đàm thoại tìm tòi nếu gặp các thuật
ngữ khoa học mới hoặc học sinh sử dụng cha chính xác cần phải giúp các em hiểu
đúng đắn, đầy đủ và chính xác.
Trong đàm thoại dẫn dắt và đàm thoại tìm tòi nên có những liên hệ thực tế bằng ví
dụ cụ thể của thầy và trò. Song giáo viên cần uốn nắn những hiểu biết cha đúng đắn
và đầy đủ của học sinh nếu sự liên hệ của học sinh có sai sót. Học sinh thờng dễ mắc
sai sót do vốn sống, trình độ nhận thức, trình độ t duy lôgíc
2. Đàm thoại tự do:
Đây cũng là hình thức truyền thụ và lĩnh hội của giáo viên và học sinh. Nhng ở đây
dựa trên cơ sở nội dung bài học, học sinh cùng đặt ra câu hỏi và cùng trả lời những câu
hỏi đó dới sự hớng dẫn chỉ đạo của giáo viên. Trong đàm thoại tự do, chủ yếu làm cho
học sinh hiểu sâu, rộng, đầy đủ hơn nội dung bài học, ở đây giáo viên cần lu ý:
Thứ nhất, có thể học sinh sẽ nêu ra những vấn đề cụ thể đang diễn ra ở địa phơng. Đối
với nhũng vấn đề nh vậy, giáo viên nên khéo léo gợi ý về mặt lí luận để các em cùng
nhau giải đáp. Giáo viên không nên đi sâu vào việc trả lời về cách giải quyết cụ thể. Bởi
vì, với những vấn đề cụ thể của từng địa phơng, giáo viên không đủ thẩm quyền giải
quyết và để giải quyết chúng cần dựa vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan của địa

- Hiểu thực trạng tài nguyên, môi trờng và những phơng hớng cơ bản nhằm bảo vệ tài
nguyên, môi trờng hiện nay.
- Hiểu đợc trách nhiệm của công dân trong việc thực hiện chính sách tài nguyên và
môi trờng
2. Về kĩ năng:
- Vận dụng đợc kiến thức này vào hoạt động của mình, biết tuyên truyền, vận động
ngời khác trong việc thực hiện chính sách tài nguyên, bảo vệ môi trờng.
3. Về thái độ:
- Tin tởng, chấp hành chính sách tài nguyên và bảo vệ môi trờng, ủng hộ những chủ tr-
ơng của nhà nớc, ở địa phơng mình về sử dụng hợp lí tài nguyên, bảo vệ môi trờng.
Phê phán những hành vi gây hại cho tài nguyên và môi trờng.
II. Tài liệu và phơng tiện dạy học:
- Sách giáo khoa GDCD 11
- Băng đĩa, tranh ảnh
- Máy chiếu, bảng trong, bút dạ
III. Phơng pháp và hình thái tổ chức dạy học:
- Giáo viên vận dụng chủ yếu là phơng pháp đàm thoại, kết hợp với thuyết trình
- Thảo luận nhóm và các phơng pháp khác.
IV. Các bớc lên lớp:
1. ổ n định tổ chức lớp
2. k iểm tra bài
3. g iới thiệu bài mới:
Giáo viên cho học sinh xem một đoạn phóng sự hoặc một số tranh ảnh liên quan
đến tài nguyên và môi trờng từ đó dẫn dắt học sinh tiếp cận với nội dung bài học.
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung cần đạt đợc
Giáo viên
Học sinhHọc sinh
8
Hoạt động 1: Tìm hiểu nội dung
- Giáo viên vận dụng phơng pháp đàm

dạng (đồng, chì, kẽm), loại quí hiếm:
vàng, đá quí
+ Loại vô tận: ánh sáng, nớc, không khí
b. Thực trạng tài nguyên và môi trờng n-
ớc ta hiện nay:
Môi trờng sống đang bị đe doạ nghiêm
trọng
- Tài nguyên thiên nhiên đang bị khai thác
cạn kiệt:
+ Rừng bị triệt hạ
+ Đất bị xói mòn
+ Động vật quí hiếm có nguy cơ bị tuyệt
chủng
+ Khoáng sản bị khai thác kiệt quệ
- Môi trờng đang bị ô nhiễm trầm trọng
+ Ô nhiễm nớc
+ Ô nhiễm đất
+ Ô nhiễm môi trờng
+ Ô nhiễm môi trờng biển chủ yếu do khai
thác dầu
c. Hậu quả:
- Mất cân bằng sinh thái
- Giảm sút chất lợng cuộc sống cộng đồng
- Nghèo tài nguyên
- Phát sinh nhiều bệnh tật hiểm nghèo
d. Nguyên nhân:
- ý thức bảo vệ tài nguyên- môi trờng cha
cao, trình độ dân trí thấp.
9
Hoạt động 2: Tìm hiểu mục 2

- Kết cấu hạ tầng kém phát triển
2. Mục tiêu, ph ơng h ớng cơ bản của
chính sách tài nguyên và bảo vệ môi tr -
ờng:
a. Mục tiêu:
- Sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên
- Bảo vệ môi trờng
- Bảo tồn đa dạng sinh học
- Từng bớc nâng cao chất lợng môi trờng
-> Góp phần phát triển kinh tế- xã hội,
nâng cao chất lợng cuộc sống cộng đồng.
b. Phơng hớng:
- Tăng cờng công tác quản lí của Nhà nớc
về bảo vệ môi trờng từ trung ơng đến địa
phơng.
- Thờng xuyên giáo dục, tuyên truyền để
nâng cao văn hoá môi trờng.
- Coi trọng công tác nghiên cứu khoa học
và công nghệ.
- Mở rộng hợp tác quốc tế
- Khai thác phải đi đôi với tái tạo và bảo vệ
- áp dụng công nghệ hiện đại vào khai
thác
3. Trách nhiệm của công dân đối với
chính sách bảo vệ tài nguyên môi tr ờng
- Chấp hành chính sách và pháp luật về bảo
vệ tài nguyên môi trờng.
- Hiểu và tuyên truyền
- Tham gia các phong trào tình nguyện
- Phê phán, đấu tranh với các hành vi tàn

48
Số lợng % Số lợng % Số lợng %
30 63 24 29 4 8
Trên đây chỉ là một số kinh nghiệm nhỏ của tôi trong bớc đầu vận dụng phơng pháp
này. Vì thế trong quá trình thực hiện sẽ không tránh khỏi những sai sót, rất mong đợc
sự góp ý kiến của các đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status