I. MỞ ĐẦU
I.1,LÍ DO CHỌ ĐỀ TÀI
Người xưa đã từng quan niệm: “Bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất”
(bệnh từ miệng mà vào, họa từ miệng mà ra) để nhắc nhở việc cẩn trọng trong
từng miếng ăn, lời nói. Chưa bao giờ vấn đề đó lại được mọi người ngày nay
quan tâm nhiều đến thế. Không còn mong muốn ăn no, mặc ấm nữa người hiện
đại mong muốn ăn ngon, món ăn đẹp - bắt mắt. Và đỉnh cao của những yêu cầu
đó có lẽ phải còn là ăn uống an toàn. [3]
Tuy nhiên thực trạng thiếu vệ sinh an toàn thực phẩm xảy ra thường xuyên ở
nước ta, chỉ một đoạn đường nhỏ ở thị trấn hay thành phố, cảnh quan, hình ảnh
quán cóc, quán vỉa hè, các gánh hàng rong đã trở thành quen thuộc, nhắc đến thì
ai cũng biết. Thử đặt một câu hỏi nhỏ rằng: “Liệu những quán đó có hợp vệ sinh
an toàn thực phẩm?”. Chắc hẳn ai cũng đã rõ câu trả lời. Vệ sinh đâu khi ngồi
thưởng thức một bát phở mà bên cạnh lại là những bãi rác bốc mùi nồng nặc,
nước cống đen ngòm, khói bụi dày đặc . Vệ sinh đâu khi người bán dùng tay
không bốc những thức ăn rồi đặt vào tô. Những điều đó ai cũng biết nhưng vẫn
thản nhiên ngồi thưởng thức những món ăn một cách bình thường, thậm chí là
ngon lành với lí do: “Giá ở đây rẻ, hợp túi tiền”, “Ăn ở đây vừa nhanh, vừa tiện”
còn có ý kiến cho rằng“ Ngồi đây cho thoáng mát”. Nhiều người khi ăn chỉ nhìn
món ăn sau khi chế biến rất ngon lành mà đâu ngờ rằng trước đó nó là cái gì? Là
một con cá tươi ngon hay chỉ là một đống thịt đang lúc phân hủy.
Những vụ mà báo chí đã phanh phui khiến chúng ta không khỏi giật mình. Đa
phần là do những nguyên nhân như: những người dân đã dùng những thực phẩm
đó một cách quen thuộc từ lâu nhưng chỉ khi được phát hiện thì mới bắt đầu
phòng tránh. Những bất cập trong việc quản lí về vệ sinh an toàn thực phẩm đã
ảnh hưởng không nhỏ tới sức khỏe người dân.
Hóa học là một trong những nhân tố chính giúp giải quyết vấn đề lượng thực
thực phẩm của nhân loại khi mà hóa học đã góp phần nghiên cứu và sản xuất các
chất hóa học có tác dụng bảo vệ, phát triển thực vật, động vật giúp tăng sản
lượng, chất lượng và bảo quản tốt hơn, tuy nhiên, nếu con người sử dụng
nó vào mục đích xấu thì sẽ gây ra những hậu quả rất nghiêm trong,
phát triển.
- Tổng hợp hóa chất diệt nấm bệnh,... để bảo vệ cây lương thực tránh được dịch
bệnh như Etirimol, benoxyl, đồng sunfat...
- Sản xuất những hóa chất bảo quản lương thực và thực phẩm, làm chậm sự phát
triển của nấm vi khuẩn gây hại cho lương thực, thực phẩm.
- Nghiên cứu chế biến thức ăn tổng hợp để tăng sản lượng chăn nuôi gia súc, gia
cầm, thủy sản.
Chế biến thực phẩm nhân tạo hoặc chế biến thực phẩm theo công nghệ hóa
học.
Hóa học giúp thay thế nguồn nguyên liệu làm lương thực, thực phẩm dùng trong
công nghiệp hóa học bằng nguyên liệu phi lương thực, phi thực phẩm. Thí dụ:
- Thay thế tinh bột bằng hợp chất hiđrocacbon để sản xuất ancol etylic; thay thế
việc sản xuất xà phòng giặt từ chất béo bằng sản xuất bột giặt tổng hợp.
- Sản xuất glucozơ từ những chất thải như vỏ bào, mùn cưa, rơm rạ,...
- Tổng hợp chất béo nhân tạo (bơ magarin) từ axit stearic và glixerol, sự chuyển
hóa dầu ( chất béo lỏng) thành bơ, mỡ (chất béo rắn)....
- Chế biến protein từ protein tự nhiên.
Cùng với ngành công nghệ sinh học, hóa học đã góp phần tạo nên những chất
hóa học giúp tạo nên những giống mới có năng suất cao hơn. Thí dụ: Người ta
đã nghiên cứu tạo nên giống mới như ngô, đu đủ, khoai tây, cà chua, lúa có khả
năng sinh trưởng tốt cho năng suất cao, chất lượng tốt hơn.
Hóa học đã góp phần tạo nên những thực phẩm riêng dành cho những người
mắc bệnh khác nhau. Thí dụ: Thực phẩm dành ho những người ăn kiêng như
bánh, sữa, đường....
Ngành hóa thực phẩm cũng đã chế biến được nhiều loại sản phẩm làm tăng
tính thẩm mĩ và hấp dẫn của thực phẩm. Thí dụ: Chế biến đồ hộp để tạo nên vị
ngon và bảo quản tốt những thực phẩm cho con người. Một số loại hương liệu,
phụ gia thực phẩm làm cho thực phẩm thêm hấp dẫn bởi màu sắc, mùi thơm
nhưng vẫn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm. Hiện nay đã sản xuất
được 200 chất phụ gia cho thực phẩm.
Metaproterenol,Salmeterol, Terbutaline, Clenbuterol,Isoetarine, pirbuterol,
procaterol, ritodrine, epinephrine. [6]
2. Hóa chất Metabisulfite biến thịt heo thối thành thịt bò
Sodium Metabisulfite có công thức hóa học là Na 2S2O5 [6] chỉ được phép sử
dụng để bảo quản rau củ và thủy sản không được phép dùng bảo quản thịt. Hóa
chất này có dạng bột pha lê màu trắng hoặc vàng nhạt. Có tính chống ôxi hóa.
Nó có thể gây tác dụng dị ứng đối với những thứ nhạy cảm với sunfit, bao gồm
các ảnh hưởng đến hệ hô hấp như hen phế quản, tính quá mẫn cảm và các ảnh
hưởng riêng biệt khác. [4]
Thịt heo nái nguyên mảng được cắt từng khối khoảng nửa kg hoặc cắt lát mỏng
ngâm vào một dung dịch được pha với tỉ lệ: 100g hóa chất : 6 lít huyết bò : 56 lít
nước lọc. Thịt heo sau khi được ngâm trong dung dịch này sẽ có màu đỏ tươi, có
mùi như thịt bò và khử được mùi thịt heo nái. [3]
3. Gà nhuộm da vàng óng bằng “bột sắt”
“Bột sắt” là loại màu công nghiệp chứa 2,4 diaminoazobenzene hydrochloride.
[6] Chất này được dùng trong công nghiệp sản xuất polymer, thuốc nhuộm tóc,
sản xuất cao su, mực in… Hóa chất này là một dạng độc tố, khi tích lũy trong cơ
thể người có khả năng gây tổn hại cho gan và thận, gây ung thư da, ung thư bàng
quang. Tiếp xúc thường xuyên sẽ gây viêm da nặng, kích ứng mắt và chảy nước
mắt, hen suyễn, viêm dạ dày, suy thận, chóng mặt, run, co giật, hôn mê.
Chất này chỉ được sử dụng trong ngành công nghiệp, tuyệt đối cấm sử dụng
trong ngành thực phẩm. Loại bột này được dân buôn gà sử dụng để nhuộm da
gà. Chỉ cần nửa thìa cà phê “bột sắt” là có thể nhuộm được 100 con gà, sau khi
nhuộm xong gà sẽ có màu vàng óng, phẩm màu ngấm sâu vào da gà, rửa nước
cũng không phai màu nên rất khó phát hiện. [3]
4
4. Chất kháng sinh tiêm vào tôm
OTC là dẫn chất Tetracycline được dùng chữa lậu, giang mai, tả, sốt định kỳ, sốt
để tránh những hậu quả lâu dài cho nhân loại [3].
II.2,THỰC TRẠNG
II.2.1,Thực trang chung
Giáo dục an toàn thực phẩm trong dạy - học ở các trường học là rất cần thiết.
Để làm cơ sở cho nhận thức hành vi cá nhân và để đảm bảo sức khỏe cho bản
thân và cho cộng đồng.
Thế hệ trẻ đặc biệt những em học sinh những tương lai của đất nước. Vì vậy
việc giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường phổ thông có vị trí đặc
biệt, nhà trường là nơi đào tạo những người chủ tương lai của đất nước, nên giáo
dục vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều hạn chế và thực sự chưa mang lại hiệu
quả
5
Với đặc thù hóa học là một môn khoa học thực nghiệm có liên quan đến thực
tiễn cuộc sống nên hóa học cũng thuận lợi cho việc giáo dục vệ sinh an toàn
thực phẩm cho học sinh. Qua giảng dạy hóa học chúng ta có thể lồng ghép
những nội dung vệ sinh an toàn thực phẩm để qua đó khai thác kiến thức, lồng
ghép với thực tế làm cho giờ học trở nên sinh động và có ý nghĩa thực tiễn cao.
Qua đó giúp cho mỗi học sinh có ý thức hơn về việc bảo vệ sức khoẻ bản thân
cũng như cộng đồng. Trong giảng dạy hóa học ở trường phổ thông nếu chúng ta
khai thác được kiến thức lồng ghép những hiện tượng trong thực tế, bài tập về
giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong chính bài học sẽ làm cho giờ học trở
nên sinh động, học sinh trở nên yêu thích hứng thú với môn học, từ đó có được
kiến thức, thái độ, tình cảm, ý thức về an toàn thực phẩm sâu sắc hơn.
Tuy nhiên, không phải bất kì bài dạy nào cũng có kết hợp nội dung này mà
phải tuỳ từng nội dung phù hợp để tránh áp đặt, sáo rỗng. Tuỳ vào từng mục tiêu
cụ thể, GV có thể sử dụng nhiều hình thức lồng ghép khác nhau trong tiết học
nhằm tránh nhàm chán cho học sinh, giúp học sinh luôn nhận thấy mỗi bài học
là một điều thú vị, là một sự mới mẻ. Đồng thời nâng cao hiệu quả cho việc giáo
Phâ
n tích
→ Thành phần ngun tố
→ Cơng
Hợp chất hữu cơ
đònh tính
đònh lượng
Phâ
n tích
→ Cơng thức phân tử.
thức đơn giản nhất
hoặ
c biệ
n luậ
n
Dựa và
o M (g/mol)
2. Dạy học bài mới:
HOẠT ĐỘNG GV VÀ HS
NỘI DUNG GHI BẢNG
Hoạt động 1:
3 -Cách thiết lập cơng thức phân tử
GV: đưa ra 3 phương
pháp để lập CTPT hơp
chất hữu cơ. [7]
Phần trăm khối lượng
100%
Lập tỉ lệ:
%C
%H
%O
12,0x 1,0y 16,0z
M
=
=
=
%C
%H
%O 100%
Từ tỉ lệ suy ra x, y, z.
TD1:
Hợp chất A là một ancol đa chức có chứa
C(39,131% ), H(8,695%), O (52,174%) .Biết phân tử
khối của A là 92 .Hãy xác định công tức phân tử của
A [7].
GV: Ancol A là glixerol
có CTCT là
HO-CH2-CHOHCH2OH
nhưng khi ta thay một
8
chất độc sinh ra trong
quá trình lên men tự
nhiên dùng trong sản
xuất tương truyền
thống, là tác nhân gây
ung thư rất mạnh.
Thông qua bài tập này
học sinh có thể biết
được công thức hoá
học của 3MCPD và
trong một số loại nước
tương có chất3-MCPD
gây ung thư(trên các
phương tiện truyền
thông đã cảnh báo) từ
đó biết cách lựa chọn
những loại nước tương
an toàn cho sức khỏe .
[3]
Hoạt động 2:
b) Thông qua CT đơn giản nhất.
CTĐG. CaHbOc
(CaHbOc)n(12,0.a+1,0.b+16,0.c)n= Mx
Biết a, b, c và M n CTPT.
Nhóm 2: Thông qua
Đặt CTPT X là CxHyOzNt
9
Nông nghiệp Liên
Hợp Quốc (FAO) đã
khuyến cáo không sử
dụng chất này trong
chăn nuôi do có nhiều
tác động nguy hiểm
tới sức khỏe con người
nếu tích lũy lâu dài
trong cơ thể.
Hiện nay, vì lợi ích
kinh tế trước mắt,
nhiều trang trại chăn
nuôi ở Việt Nam đã
trộn thuốc này vào
thức ăn gia súc để lợn
lớn nhanh hơn, mông,
vai nở hơn, tỷ lệ nạc
cao hơn và màu sắc
thịt đỏ đẹp hơn…, gây
ra rất nhiều lo lắng,
bức xúc đối với người
tiêu dùng. [3]
khi đó ta có :
1
16
14
= 5, 439 : 8, 79 :1, 255 : 0.418 =13 : 21: 3 :1
x : y : z : t =
Chất hữu cơ salbutamol có CTĐGN là C13H21O3N
Vậy CTPT của salbutamol
( 12,0.13 + 1.21+ 16.3+ 14,0.1 ) n = 239
239,0n = 239 vậy n = 1 albutamol: C13H21O3N
Đáp án đúng là B
c/ Tính trực tiếp theo khối lượng sản phẩm cháy
x=
nCO2
nX
y
y z
t0
→ x CO 2 + H 2 O
x+ + ÷O 2
2
4 2
;y=
Đặt CTPT Y là CxHyOz (x,y,z nguyên dương)
PTHH:
10
CxHyOz + (x +
y z
y
− )O2 → xCO2 + H2O
4 2
2
(mol) 1
0,3
Ta có tỉ lệ:
x
0,6
y/2
0,9
1
x
y/ 2
=
=
0,3 0,6 0,9
cả phân cực và
không phân cực.
11
GV mở rộng thêm
Thời gian gần đây
ta hay nghe trên
truyền thông về
tình trang bị ngộ
độc rượu cô có VD
sau : Ancol nào mà
chỉ một lượng nhỏ vào
cơ thể cũng có thể gây
ra mù loà, lượng lớn
có thể gây tử vong
(thường có trong rượu
sắn)
?
A.CH3OH
B.C2H5OH
C.CH3CH2CH2OH
D.CH3CH(OH)CH3
Đáp án là A [3].
Hoạt động 4:
GV cho TD 4 yêu cầu
học sinh làm theo 3
phương pháp trên
TD 4 Trong Sudan I, C chiếm 77,42%C; 4,84%H;
tăng nguy cơ bị ung
thư trên người.
Sudan gồm nhiều loại,
trong đó Sundan I là
chất hữu cơ có màu đỏ
thẫm thường được
dùng để tạo màu đỏ
trong các loại thực
phẩm, ớt bột, tương ớt,
tương cà, pizza…. và
son môi. [3]
HS cử đại diện lên báo
cáo kết quả
IV. Củng cố : (5 phút)
BT1: HCHC A chứa:%C=24,24%; %H=4,04%; %Cl=71,72%.
Xác định công thức đơn giản nhất A.
Xác định CTPT A biết DA/CO2=2,25. [7]
BT2: Đốt cháy hoàn toàn 2,85g chất hữu cơ X 4,40g CO2, 1,8g H2O.
Xác định CTĐGN của X.
Xác định CTPT A biết nếu bay hơi 1,10g X thì thu được thể tích hơi bằng thể
tích của 0,40g khí O2 ở cùng nhiệt độ, áp suất. [7]
GV mở rộng một số kiến thức liên quan giữa hóa học và đời sống
Ví dụ 1: Tào phớ (còn gọi là phớ, tàu hũ…) là món ăn vặt làm từ đậu
tương được ưa thích ở châu Á. Tương tự đậu phụ, để làm tào phớ,
trong cách làm truyền thống, người ta thêm “nước chua” vào dung
dịch nước đậu tương đã được nấu chín (đậu tương được xay cùng với
nước rồi lọc và đun sôi), khi đó “óc đậu” sẽ bị kết tủa, sau khi trải qua
quá trình lọc, ép… chế biến, sẽ thu được thành phẩm tương ứng.
Gần đây, vì lợi nhuận, nhiều người sản xuất đậu phụ, tào phớ thay vì
dùng “nước chua” để làm “óc đậu” lại thay thế bằng thạch cao gây ra
Ngoài ra, quá trình sản xuất PS có thể còn tồn dư một lượng nhỏ
etylbenzen và stiren. Các hợp chất thơm như etylbezen và stiren đều
là những hoá chất gây ung thư mạnh, ảnh hưởng gan tuỵ và thần
kinh. Phát biểu nào dưới đây là đúng?
A. Propilen, stiren và etylbenzen đều làm mất màu dung dịch brom ở điều kiện
thường.
14
B. Phản ứng nhiệt phân polistiren còn gọi là phản ứng đepolime
hoá.
C. Sử dụng hộp xốp để đựng thực phẩm nguội là nguy hiểm, bị cấm sử dụng.
D. Propilen, stiren và etylbenzen đều có thể tham gia phản ứng trùng hợp. [4]
V. Hướng dẫn học tập:( 3 phút)
- Về nhà làm các bài tập sgk, sbt.
- Sưu tầm bài tập về vệ sinh an toàn thực phẩm
- Chuẩn bị bài nội dung ôn tập HKI.
D. RÚT KINH NGHIỆM:
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
………………………………………………………………
--------------------
II.4,XÂY DƯNG BÀI TẬP CÓ NỘI DUNG GIÁO DỤC VỆ SINH AN
TOÀN THỰC PHẨM
1. Bài tập có kiến thức về các chất gây ngộ độc thực phẩm
Câu 1 : Lá của cây thuốc lá có chứa một loại amin rất độc với cơ thể chất đó là:
A. Côcain
Câu 4: Dẫn xuất halogen có tác dụng diệt sâu bọ (trước đây được dùng
nhiều trong nông nghiệp) một trong những nguyên nhân gây ngộ độc rau quả là :
A. ClBrCH - CF3
B. CH3C6H2 (NO2)3
C. C6H6Cl6
D. Cl2CH - CF2 - OCH 3
Hướng dẫn: Phương án C.
Chất C6H6Cl6 (666) [6] trước đây dùng làm thuốc trừ sâu trong nông nghiệp
,nhưng do rất độc hại với cơ thể và ô nhiễm môi trường nên hiện nay đã thay thế
bằng các loại thuốc khác.
2. Bài tập có kiến thức về quá trình biến đổi các chất gây ngộ độc thực
phẩm
Câu 1:Sau khi làm thí nghiệm với photpho trắng, các dụng cụ đã tiếp xúc
với hoá chất này cần được ngâm trong dung dịch nào để khử độc?
A. HCl
B. NaOH
C. CuSO4
D. Na 2CO3
Hướng dẫn: Photpho trắng rất độc nên các dụng cụ tiếp xúc với hoá chất này cần
phải khử độc :
2H3PO4 + 5H2SO4 + 5Cu →2P + 5CuSO4↓ + 8H2O
Phương án đúng: C [1].
Câu 2:Melamin có công thức C3N3(NH2)3[6]. Đưa melamin vào thực phẩm
nhằm mục đích gì ? Nêu một số tác hại mà melamin gây nên ?
Hướng dẫn:
Trong công thức melamin có 66% là nitơ. Đưa melamin vào thực phẩm
thì khi kiểm nghiệm sẽ cho chỉ số nitơ toàn phần cao làm cho người ta hiểu
lầm là lượng đạm cao nhưng đây chỉ là lượng đạm cao “giả” (vì nitơ trong
melamin không có tính dinh dưỡng như nitơ trong protein thật). Có hai cách
Bón buổi sáng sớm sương còn đọng trên lá khi đó cây chưa hấp thụ đạm được
nhiều thì ánh sáng mặt trời phân huỷ một lượng đạm đáng kể. Còn buổi trưa
nắng hoặc chiều vẫn còn ánh nắng thì đạm bị phân huỷ dưới ánh sáng mặt trời
và cây bị héo.
Câu 4:Khi bón phân vô cơ hoặc phân chuồng có thể gây ô nhiễm môi trường và
ngộ độc các loại rau quả vì:
A. Tích luỹ các chất độc hại, thậm chí nguy hiểm cho đất do phân để lại.
B. Tăng nồng độ các chất, làm có tác dụng xấu đến việc cung cấp oxi
C. Tích luỹ nitrat trong nước ngầm làm giảm chất lượng của nước uống.
D. Làm tăng lượng NH3 không mong muốn trong khí quyển và lượng N 2O do
quá trình nitrat hoá phân đạm dư hoặc bón không đúng chỗ.
E. Tất cả các trường hợp trên.
Hướng dẫn : Phương án E [1]
3.Bài tập có kiến thức chất bảo quản thực phẩm
Câu 1:Nước đá “ khô ” không nóng chảy mà thăng hoa nên thường dùng
để tạo môi trường lạnh và khô thuận tiện cho việc bảo quản thực phẩm. Nước đá
khô là:
A. CO rắn
B. H 2O rắn
C. SO2 rắn
D. CO2 rắn
Hướng dẫn: Nước đá khô là CO2 [6]chọn đáp án D.
Câu 2:Urê là loại hóa chất không được phép sử dụng bảo quản thực phẩm. Với
hàm lượng nhỏ, nó có thể gây ngộ độc thực phẩm và nếu tích lũy lâu ngày dễ
gây ra ung thư.
a. Viết phương trình phản ứng điều chế urê trong công nghiệp ?
b. Vì sao urê lại được sử dụng làm chất bảo quản thực phẩm?
Hướng dẫn:
a. Phản ứng điều chế urê trong công nghiệp 2NH3 + CO2 → (NH2)2CO +H2O[1]
b. Khi urê hòa tan trong nước, nó thu một lượng nhiệt khá lớn, vì vậy làm lạnh
CaF2 + 2H2O→2HF + Ca(OH)2
Câu 2:Trong các nhà máy sản xuất rượu bia, nước ngọt, nước là nguyên liệu
quan trọng, chất lượng của nước ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm.
Nước khử trùng bằng Clo thường có mùi khó chịu. Do vậy các nhà máy đã sử
dụng phương pháp khử trùng nước bằng ozôn để không có mùi lạ. Ozôn được
bơm vào nước với hàm lượng 0, 5 - 5g/m3.
a. Vì sao ozôn có tính sát trùng?
b. Tính khối lượng ozôn cần dùng để khử trung lượng nước đủ sản xuất
400 l rượu (để sản xuất một lít rượu cần 5 l nước).
Hướng dẫn:
a. Vì ozôn có tính oxi hoá mạnh nên có khả năng sát trùng.
b. VH O = 5.400 = 2000 l = 2 m3
Khối lượng ozôn cần dùng: (2.0, 5)g [5]
Câu 3:Hơi thủy ngân rất độc và có thể gây ngộ độc thực phẩm, do đó phải thu
hồi thủy ngân rơi vãi bằng cách:
A. Nhỏ nước brom lên giọt thủy ngân. B. Nhỏ nước ozon lên giọt thủy ngân.
C. Rắc bột lưu huỳnh lên giọt thủy ngân. D. Rắc bột photpho lên giọt thủy ngân.
Hướng dẫn: : Đáp án C vì thuỷ ngân có thể tác dụng với lưu huỳnh ngay ở nhiệt
độ thường: Hg + S → HgS [2].
Câu 4:Photpho trắng là chất độc có thể gây ngộ độc thực phẩm, phốt pho trắng
được bảo quản bằng cách ngâm trong:
A. dầu hoả
B. nước
C. benzen
D. ete
Hướng dẫn : Đáp án A. [1]
II.5, KẾT QUẢ VẬN DỤNG
Sau khi thực hiện phương pháp lồng ghép giáo dục vệ sinh an toàn thực
phẩm vào bài học tôi thấy HS có một số biến đổi tích cực sau:
2
74, 67%
III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
III.1, KẾT LUẬN
Môn Hóa học ở trường phổ thông nếu không có những bài giảng và
phương pháp hợp lí phù hợp với thế hệ học trò dễ làm cho học sinh thụ động
trong việc tiếp thu, cảm nhận.Trước tình hình đó, Hóa học phải đổi mới phương
pháp dạy học đã và đang thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả giờ dạy. Một
trong những yếu tố để đạt giờ dạy có hiệu quả là phải thường xuyên liên hệ các
bài học với thực tiễn cuộc sống, để làm cho bài học thêm sinh động hơn, giúp
học sinh có những hiểu biết và có kiến thức toàn diện hơn, đặc biệt là những
môn học thực nghiệm có liên quan đến thực tiễn cuộc sống như môn hoá học,
nhằm mang lại hiệu quả cao trong quá trình giảng dạy.
Hóa học có mối liên hệ rất chặt chẽ với vấn đề lương thực, thực phẩm, chính
điều này là một cơ hội tốt để giáo viên giáo dục cho các em về vệ sinh an toàn
thực phẩm nhằm đảm bảo sức khỏe cho mình và người thân.
Trong quá trình thực nghiệm đề tài này tại trường THPT Thọ Xuân 5, tôi đã
kết hợp hài hoà trong phong cách dạy của mình có thể làm cho giờ học mang
không khí rất thoải mái, kết quả đã nâng lên rất nhiều. Đây là một điều mà tất cả
giáo viên dạy Hóa Học trong trường thấy rất phấn khởi, bản thân tôi sẽ tiếp tục
duy trì trong những năm sau và sẽ tìm tòi, sưu tầm, vận dụng vào các khối
10,12.
III.2, KIẾN NGHỊ:
Hàng năm nhà trường liên hệ với trung tâm y tế về trường tuyên truyền tổ
chức cho trường, cho các em học sinh hiểu về vệ sinh an toàn thực phẩm và cách
phòng ngừa các dịch bệnh thường xuyên xảy ra trong trường, ở hộ gia đình
19
Đồng thời phòng tránh các dịch bệnh như: Phun thuốc diệt muỗi, các loại côn
DANH MỤC
CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP SỞ GD&ĐT
Họ và tên tác giả:
ĐÀO THỊ QUỲNH
Chức vụ và đơn vị công tác:Giáo Viên Trường THPT Thọ Xuân 5
TT
1.
Tên đề tài SKKN
Một số kinh nghiệm lồng ghép
Kết quả đánh
Năm học đánh giá
giá xếp loại (A,
xếp loại
B, hoặc C)
C
2010-2011
giáo dục bảo vệ môi trường
2.
trong dạy học Hóa Học
Kinh nghiệm vận dụng thơ ca,
C