Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học phần hóa học hữu cơ trung học phổ thông - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ NHÀI TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP
VỀ GIÁO DỤC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM TRONG DẠY
HỌC PHẦN HÓA HỌC HỮU CƠ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM HÓA HỌC
HÀ NỘI – 2011
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Chữ viết đầy đủ

BTHH
Bài tập hóa học
CTCT
Công thức cấu tạo
CTPT
Công thức phân tử
ĐC
Đối chứng
GDVSATTP
Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
PTHH
Phương trình hóa học
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
TN

Bảng 1.2
Kết quả điều tra việc sử dụng BTHH có nội dung
GDVSATTP trong các loại tiết học.
35
Bảng 1.3
Kết quả điều tra ý kiến của GV về sự cần thiết sử dụng
bài tập có nội dung GDVSATTP tích hợp vào dạy học
hóa học.
35
Bảng 1.4
Kết quả điều tra tìm hiểu nguyên nhân của việc ít hoặc
không đưa bài tập GDVSATTP vào trong dạy học hóa
học đối với giáo viên THPT.
35
Bảng 1.5
Kết quả điều tra hứng thú của HS khi có yêu cầu giải quyết
các vấn đề liên quan đến thực tiễn trong môn hóa học
35
Bảng 1.6
Kết quả điều tra sự quan tâm của HS về các vấn đề liên
quan đến thực tiễn được lồng ghép trong chương trình
hóa học THPT
36
Bảng 1.7
Kết quả điều tra ý kiến HS về sự cần thiết của BTHH
có nội dung liên quan đến vấn đề VSATTP
36
Bảng 3.1
Kết quả bài kiểm tra số 1
102
DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình
Nội dung
Trang
Hình 3.1
Đồ thị biểu diễn đường luỹ tích bài kiểm tra số 1


MỤC LỤC

Trang
MỞ ĐẦU
1
1. Lí do chọn đề tài
1
2. Mục đích nghiên cứu
3
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3
5. Phạm vi nghiên cứu
3
6. Giả thuyết khoa học
4
7. Phương pháp nghiên cứu
4
8. Đóng góp của đề tài
4
9. Cấu trúc luận văn
4
1.4. Tích hợp GDVSATTP thông qua dạy học môn Hóa học
18
1.4.1. Khái niệm tích hợp
18
1.4.2. Quan niệm về dạy học tích hợp
18
1.4.3. Các đặc trưng của dạy học tích hợp
19
1.4.4. Các kiểu tích hợp
20
1.4.5. Tác dụng của dạy học tích hợp
20
1.4.6. Các nguyên tắc cơ bản khi tích hợp GDVSATTP thông qua môn
hoá học ở trường phổ thông
20
1.4.7. Nội dung và địa chỉ tích hợp GDVSATTP trong chương trình hoá
học hữu cơ ở trường THPT
21
1.5. Sử dụng bài tập hóa học trong GDVSATTP
25
1.5.1. Khái niệm về bài tập hoá học
25
1.5.2. Phân loại bài tập hóa học
25
1.5.3. Trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan
26
1.5.4. Ý nghĩa, tác dụng của bài tập hoá học
30

37
2.1.2. Đặc điểm về nội dung kiến thức và cấu trúc phần hoá học hữu cơ
39
2.2. Tuyển chọn và xây dựng các bài tập về GDVSATTP
44
2.2.1. Nguyên tắc tuyển chọn và xây dựng
44
2.2.2. Cách xây dựng BTHH
45
2.2.3. Hệ thống bài tập theo chương
46
2.3. Sử dụng bài tập có nội dung GDVSATTP trong dạy học
95
2.3.1. Sử dụng bài tập khi nghiên cứu tài liệu mới
95
2.3.2. Sử dụng bài tập khi luyện tập và ôn tập
96
2.3.3. Sử dụng bài tập trong tiết kiểm tra - đánh giá
96
2.3.4. Sử dụng bài tập trong tiết thực hành
97
Chƣơng 3: THỰC NGHIỆM SƢ PHẠM
98
3.1. Mục đích của thực nghiệm sư phạm
98
3.2. Nhiệm vụ của thực nghiệm sư phạm
98
3.3. Phương pháp thực nghiệm
98
3.3.1. Chọn mẫu thực nghiệm

hành vi cá nhân để đảm bảo sức khoẻ bản thân và cộng đồng.
Xác định rõ tầm quan trọng của công tác vệ sinh an toàn thực phẩm,
Bộ Y tế đã tiến hành nhiều biện pháp tăng cường hoạt động giáo dục kiến
thức trên các kênh tuyên truyền phù hợp. Trong số đó phải kể đến sự phối hợp
với Bộ Giáo dục - Đào tạo và thống nhất sẽ "đưa nội dung vệ sinh an toàn
thực phẩm vào chương trình giáo dục các cấp học" [2]
Việc giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong trường phổ thông có vị
trí đặc biệt, nhà trường là nơi đào tạo những người chủ tương lai của đất
nước, nên giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm cho thế hệ trẻ là một việc làm
có tác dụng lớn lâu bền. Các em học sinh nâng cao nhận thức về vấn đề vệ
sinh an toàn thực phẩm, từ đó các em tự biết cách bảo vệ sức khoẻ của bản
thân và những người xung quanh, đồng thời góp phần tuyên truyền tới bạn bè,
người thân, cộng đồng về công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng tránh
bệnh tật, đảm bảo sức khoẻ để học tập và làm việc.
Nội dung giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm đã được tích hợp vào
chương trình một số môn học, như: Sinh học, Công nghệ, Hóa học, Tuy
nhiên, thực tế ở trường phổ thông hiện nay việc đưa nội dung vệ sinh an toàn
thực phẩm còn sơ sài, việc hiểu biết của các em về vệ sinh an toàn thực phẩm
còn nhiều hạn chế và thực sự chưa mang lại hiệu quả.
2

Hóa học là một môn khoa học thực nghiệm có liên quan đến thực tiễn
cuộc sống nên thuận lợi cho việc giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm cho học
sinh. Việc tăng cường sử dụng bài tập liên quan đến vấn đề thực tiễn như vấn
đề vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy và học hoá học làm cho giờ học trở
nên sinh động, nội dung bài học thiết thực và gần gũi với đời sống, học sinh
trở nên yêu và hứng thú với môn học, từ đó có được kiến thức, thái độ tình
cảm, ý thức về vệ sinh an toàn thực phẩm sâu sắc hơn.
Lý luận dạy học coi bài tập là một phương pháp dạy học cụ thể, được
áp dụng phổ biến và thường xuyên ở các cấp học và các loại trường khác

+ Nghiên cứu nội dung các bài trong chương trình hoá học hữu cơ THPT để
tìm ra được những phần kiến thức liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm.
+ Tìm hiểu thực trạng sử dụng bài tập hoá học có nội dung liên quan đến vệ
sinh an toàn thực phẩm trong dạy học ở trường THPT hiện nay.

* Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập về vệ sinh an toàn thực phẩm
phần hoá học hữu cơ.
* Thực nghiệm sư phạm để đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập về giáo
dục vệ sinh an toàn thực phẩm.
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy học hóa học ở trường THPT.
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực
phẩm phần hóa học hữu cơ.
5. Phạm vi nghiên cứu
- Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực
phẩm phần hóa học hữu cơ ở trường THPT.
- Thực nghiệm sư phạm tại một số lớp 11, lớp 12 ở trường THPT Nam Tiền
Hải và THPT Tây Tiền Hải (Thái Bình).

6. Giả thuyết khoa học
4

Nếu xây dựng được hệ thống bài tập về giáo dục vệ sinh an toàn thực
phẩm tích hợp trong dạy học hoá học thì sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của
việc dạy và học theo hướng hình thành và phát triển những hiểu biết, thái độ,
kỹ năng vệ sinh an toàn thực phẩm cho học sinh.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Phân tích, tổng hợp tài liệu về vệ sinh an
toàn thực phẩm, giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm, bài tập hóa học, xây
dựng và sử dụng bài tập giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm trong dạy học

pháp giảng dạy và học tập môn hóa học phổ thông theo hướng gắn bó với
những vấn đề thực tiễn một số học viên cao học đã nghiên cứu và bảo vệ luận
văn theo hướng đề tài này như:
(1) Nguyễn Thị Thu Hằng (2007), Xây dựng, lựa chọn hệ thống bài tập
hóa học thực tiễn Trung học phổ thông (phần hóa học hữu cơ), Luận văn thạc
sĩ Giáo dục học, Đại học Sư phạm Hà Nội.
(2) Nguyễn Thị Thúy (2010), Lựa chọn, xây dựng và sử dụng bài tập
hoá học thực tiễn về môi trường trong dạy học phần hoá hữu cơ trường trung
học phổ thông nhằm góp phần giáo dục môi trường cho học sinh, Luận văn
thạc sĩ, ĐH Vinh.
(3) Trần Văn Hùng (2009), Tích hợp giáo dục vệ sinh an toàn thực
phẩm cho học sinh thông qua các bài tập thực tiễn về vệ sinh an toàn thực
phẩm trong chương trình hóa học trung học phổ thông, Luận văn thạc sĩ, ĐH
Vinh.
Đưa các vấn đề thực tiễn vào dạy học đã được quan tâm hơn, tuy nhiên
các tác giả mới tập trung lựa chọn, xây dựng bài tập liên quan tới thực tiễn
chung chung, luận văn về VSATTP mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu tích
hợp nội dung đó vào dạy học. Với mong muốn đóng góp nhiều bài tập gắn
với vấn đề GDVSATTP nên trong luận văn này chúng tôi sẽ tuyển chọn và
6

xây dựng thêm một số bài tập dạng này, đồng thời đưa các bài tập đó vào
trong dạy học nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy và học hóa học.
1.2. Tổng quan về vệ sinh an toàn thực phẩm [12], [13], [33]
1.2.1. Một số khái niệm chung
Hiện tượng ngộ độc thực phẩm xảy ra ngày càng nhiều ở nhiều địa
phương trong cả nước. Ngộ độc thực phẩm xảy ra không chỉ ở các nhà ăn tập
thể (nhà máy, xí nghiệp, trường học, ) mà còn xảy ra ở rất nhiều gia đình, kể
cả ở thành thị và nông thôn. Hiện tượng này phổ biến đến mức Nhà nước phải
tổ chức nhiều cơ quan chức năng thường xuyên đi kiểm tra, tuyên truyền về

1.2.1.4. Ngộ độc thực phẩm
Ngộ độc thực phẩm dùng để chỉ tất cả các bệnh gây ra bởi các mầm
bệnh có trong thực phẩm.
* Bệnh do thực phẩm gây ra có thể chia làm hai nhóm:
- Bệnh gây ra do chất độc, chất độc này có thể do vi sinh vật tạo ra, do
nguyên liệu (chất độc có nguồn gốc sinh học), do hóa chất từ quá trình chăn
nuôi, trồng trọt, bảo quản, chế biến. Các chất độc này có trong thực phẩm
trước khi người tiêu dùng ăn phải.
- Bệnh nhiễm trùng do thực phẩm là trong thực phẩm có vi khuẩn gây
bệnh, vi khuẩn này vào cơ thể bằng đường tiêu hóa và tác động tới cơ thể do
sự hiện diện của nó cùng các chất độc của chúng tạo ra.
1.2.1.5. Chất độc
Chất độc trong thực phẩm là các chất hóa học hay hợp chất hóa học có
trong nguyên liệu, sản phẩm thực phẩm ở một nồng độ nhất định gây ngộ độc
cho người hay động vật khi sử dụng chúng.
Chất độc có thể tồn tại ở nhiều trạng thái khác nhau. Các chất độc được
đưa vào cơ thể bằng một trong những con đường sau:
- Chất độc được tạo thành trong thực phẩm do vi sinh vật nhiễm vào thực
phẩm. Trong quá trình nhiễm và phát triển trong thực phẩm, các loài vi sinh
8

vật có khả năng sinh ra chất độc sẽ chuyển hóa chất dinh dưỡng có trong thực
phẩm và tạo ra chất độc. Như vậy, khi thực phẩm bị nhiễm vi sinh vật, các
chất dinh dưỡng bị mất và bị biến chất, đồng thời thực phẩm sẽ có chứa trong
đó các chất độc.
- Chất độc được hình thành do sự chuyển hóa các chất nhờ các enzim ngoại
bào của vi sinh vật, khi vi sinh vật phát triển trong thực phẩm. Chất độc này
được tạo ra ở ngoài tế bào vi sinh vật. Chúng được tổng hợp ở trong tế bào vi
sinh vật và sau đó thoát khỏi tế bào ra thực phẩm.
- Chất độc do nguyên liệu thực phẩm. Chúng không bị biến đổi hoặc biến đổi

sinh dục, tiết niệu. Thức ăn chín để ở nhiệt độ bình thường là môi trường tốt
cho vi khuẩn trong không khí xâm nhập và phát triển rất nhanh, đặc biệt các
thức ăn còn thừa sau các bữa ăn chỉ cần một vài giờ là số lượng vi khuẩn có
thể sinh sản đạt đến mức gây ngộ độc thực phẩm.
 Nấm mốc thường gặp trong môi trường sống, nhất là ở trong các loại
ngũ cốc, quả hạt có dầu dự trữ trong điều kiện khí hậu nóng ẩm như ở nước
ta. Nấm mốc gây hư hỏng thực phẩm, một số loại còn sản sinh ra các độc tố
nguy hiểm. Aflatoxin là độc tố vi nấm được biết rõ nhất do nấm Aspergillus
Flavus và Aspergillus Parasiticus sản sinh ra trong ngô, đậu và lạc ẩm mốc có
thể gây ung thư gan.
 Vi rút gây ngộ độc thực phẩm thường có trong ruột người. Các
nhuyễn thể sống ở vùng nước ô nhiễm, rau quả tưới nước có phân tươi hoặc
các món rau sống chuẩn bị trong điều kiện thiếu vệ sinh thường hay bị nhiễm
vi rút bại liệt, vi rút viêm gan.
 Virút có thể lây truyền từ phân qua tay người tiếp xúc hoặc từ
nước bị ô nhiễm phân vào thực phẩm, với một lượng rất ít virút đã gây
nhiễm bệnh cho người. Virút nhiễm ở người có thể lây sang người khác
trước khi phát bệnh.
10

 Ký sinh vật thường gặp trong thực phẩm là giun sán. Người ăn phải
thịt có ấu trùng sán dây trong thịt bò (sán dây bò), trong thịt lợn (thịt lợn gạo)
chưa nấu chín, khi vào cơ thể thì ấu trùng sẽ phát triển thành sán trưởng thành
ký sinh ở đường tiêu hóa và gây rối loạn tiêu hóa.
 Khi ăn cá nước ngọt như cá diếc, cá rô, cá chép, cá trôi có nang
trùng sán lá gan nhỏ chưa nấu chín thì nang trùng chuyển tới ống mật, lên gan
và phát triển ở gan thành sán trưởng thành gây tổn thương gan mật.
 Nếu ăn phải tôm, cua có nang trùng sán lá phổi chưa nấu chín hoặc
uống nước có nang trùng thì chúng sẽ xuyên qua thành ruột và qua cơ hoành
lên phổi, phát triển thành sán trưởng thành gây viêm phế quản, đau ngực, ho

Salmonella
Trứng, thịt gia cầm nấu
chưa chín.
Sốt, tiêu chảy, đau bụng, nôn.
Campylobater

Sữa tươi, nước chưa khử
trùng hoặc đun sôi, thịt gia
cầm nấu chưa chín.
Buồn nôn, đau bụng, tiêu
chảy, phân có máu.
V. cholerae
(phẩy khuẩn tả)
Sử dụng nguồn nước ô
nhiễm để làm kem, đá hoặc
tưới rửa rau quả. Nấu chưa
chín hoặc ăn sống cá,
nhuyễn thể sống ở nguồn
nước bị ô nhiễm.
Tiêu chảy phân lỏng nhiều
nước kèm theo nôn và đau
bụng.
Clostridium
botulinum (vi
khuẩn kị khí)
Thực phẩm đóng hộp bị ô
nhiễm trong quá trình chế
biến: cá, thịt, các loại rau.
Giảm trương lực cơ, đặc biệt
là ở mắt (nhìn mờ) và ở phổi

nôn.
Thuốc bảo vệ
thực vật
Các loại rau quả tươi, chè
Rối loạn thần kinh trung ương,
nhức đầu, mất ngủ, giảm trí
nhớ. Tổn thương não gây hội
chứng nhiễm độc não do thuỷ
ngân, photpho hữu cơ và clo
hữu cơ. Ngoài ra còn ảnh
hưởng đến tim mạch, hô hấp,
tiêu hóa, máu, tiết niệu, nội
tiết, tuyến giáp và có thể dẫn
đến tử vong.
Độc tố vi nấm
(Aflatoxin)
Hạt hướng dương và các
loại ngũ cốc.
Gây rối loạn chức năng gan có
thể dẫn đến ung thư.
Ngộ độc sắn

Sắn
Nhức đầu, chóng mặt, buồn
nôn, các trường hợp ngộ độc
nặng có biểu hiện rối loạn thần
kinh, co cứng cơ giống như
bệnh uốn ván và có thể dẫn tới
tử vong sau khoảng 30 phút.
Ngộ độc nấm

nhất để xử trí kịp thời.

14

1.3. Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm
1.3.1. Quan niệm về giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm
Giáo dục vệ sinh an toàn thực phẩm là làm cho các cá nhân và cộng
đồng hiểu được kiến thức về thực phẩm an toàn, cũng như ảnh hưởng của
thực phẩm không an toàn đến sức khoẻ con người, từ đó hình thành những kỹ
năng tham gia tích cực, hiệu quả trong phòng ngừa và giải quyết các vấn đề
về VSATTP.
GDVSATTP là một quá trình thường xuyên và lâu dài thông qua đó
con người nhận thức được ý nghĩa của VSATTP với sức khoẻ con người.
GDVSATTP theo mô hình sau:
Hiểu biết về
VSATTP
- Vấn đề
- Nguyên nhân
- Hậu quả Thái độ đúng đắn
về VSATTP
- Nhận thức

phẩm, sức khỏe, cần phải được quan tâm đúng mức trong kế hoạch phát
triển của mỗi quốc gia.
1.3.2. Mục tiêu GDVSATTP ở trường phổ thông
Bằng những hoạt động giáo dục cụ thể, thiết thực, nhà trường cần giúp
cho các em HS nâng cao nhận thức về vấn đề VSATTP, từ đó các em biết
cách bảo vệ sức khoẻ của bản thân và những người xung quanh, đồng thời
góp phần tuyên truyền tới bạn bè, người thân, cộng đồng về công tác
VSATTP, phòng tránh bệnh tật, đảm bảo sức khoẻ để học tập và làm việc.
GDVSATTP không phân biệt cho từng loại đối tượng, vì thế mục tiêu
GDVSATTP ở các cấp học nói chung và trường THPT nói riêng có mục tiêu
đem lại cho đối tượng các vấn đề sau:
1.3.2.1. Kiến thức
- Hình thành ở HS những kiến thức, hiểu biết cơ bản những vấn đề VSATTP:
tính phức tạp, quan hệ nhiều mặt nhiều chiều, sự đa dạng của các nguồn thực
phẩm, cũng như mối quan hệ giữa thực phẩm với các nguồn gây ngộ độc thực
phẩm, mối quan hệ chặt chẽ giữa sức khoẻ con người với sự phát triển.
- Cung cấp lý thuyết về các quá trình tự nhiên, xã hội có liên quan đến
VSATTP.
1.3.2.2. Kỹ năng, thái độ
- Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề VSATTP như một
nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển, đối với bản thân cũng như đối
với cộng đồng, quốc gia của họ và quốc tế, từ đó có thái độ, cách ứng xử đúng
16

đắn trước các vấn đề VSATTP, xây dựng cho mình quan niệm đúng đắn về ý
thức trách nhiệm, về giá trị nhân cách.
- Tri thức, kĩ năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực trong việc
lựa chọn phong cách sống thích hợp với việc sử dụng một cách hợp lí và khôn
ngoan các nguồn thực phẩm, hạn chế tối đa các yếu tố gây ngộ độc thực phẩm,
tham gia có hiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết các vấn đề về


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status