SỞ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT HẬU LỘC 1
--- ---
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ
SỬ DỤNG CÁC THÍ NGHIỆM VẬT LÝ
Ở TRƯỜNG THPT HẬU LỘC I
NGƯỜI THỰC HIỆN: NGUYỄN VĂN DŨNG
CHỨC VỤ: GIÁO VIÊN
SKKN THUỘC MÔN: VẬT LÝ
THANH HÓA NĂM 2016
MỤC LỤC
I. MỞ ĐẦU……………………………………………………….
Trang 2
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI……………………………………
Trang 2
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU……………………………....
Trang 3
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU……………………………..
1. KẾT LUẬN…………………………………………………
Trang 16
2. KIẾN NGHỊ…………………………………………………
Trang 17
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG
CÁC THÍ NGHIỆM VẬT LÝ
2
Ở TRƯỜNG THPT HẬU LỘC I
I. MỞ ĐẦU.
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Ngày nay, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật có sự gắn bó chặt chẽ với sự
phát triển của khoa học vật lí. Mỗi bước tiến của nhân loại là minh chứng cho sự
phát triển không ngừng của những thành tựu khoa học kỹ thuật nói chung và
khoa học vật lí nói riêng.
Vật lý là bộ môn khoa học thực nghiệm với phương pháp nghiên cứu đi từ
trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Mọi kết luận của nó đều rút ra được
nhờ thực tiễn và kiểm chứng bằng quan sát và thí nghiệm. Chính vì vậy trong
các giờ dạy vật lý cần phải có thiết bị dạy học để khơi dậy và phát triển năng lực
tư duy khả năng tự học, hình thành cho các em biết rõ phương pháp học và
nghiên cứu bộ môn.
Đối với tình hình thực tế của việc đổi mới phương pháp dạy học với bộ
môn vật lý: Thiết bị dạy học có khá đủ cho giáo viên và học sinh làm việc,
nhưng vấn đề đặt ra là sử dụng các thiết bị đó như thế nào cho hiệu quả và làm
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Vật lí học là một môn khoa học thực nghiệm, vì vậy, việc sử dụng những thí
nghiệm trong giảng dạy nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh
trong học tập. Tuy nhiên hiện nay, thực trạng sử dụng có hiệu quả các thí nghiệm
vật lí trong các giờ dạy của giáo viên còn hạn chế. Chính vì vậy, có thể dẫn tới
việc học sinh không hứng thú và tích cực, chủ động trong việc tiếp thu kiến
thức. Nghiên cứu đề tài này tôi mong muốn đề ra một số biện pháp để sử dụng
có hiệu quả các thiết bi thí nghiệm trong dạy học vật lí ở trường THPT nói
chung và THPT Hậu Lộc 1 nói riêng.
3. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:
- Phòng học bộ môn vật lí ở trường THPT Hậu Lộc 1
- Quá trình dạy học vật lí ở trường Trung Học Phổ Thông.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu lí luận: Đọc các sách, tài liệu về những vấn đề liên quan đến
việc giải quyết các nhiệm vụ đã đề ra trong đề tài.
- Nghiên cứu thực tiễn: Điều tra thực trạng phòng học bộ môn và việc sử
dụng thiết bị dạy học môn Vật lí ở các trường THPT Hậu lộc.
- Thực nghiệm sư phạm ở trường THPT Hậu lộc I để đánh giá các giải pháp
đã đề xuất trong đề tài.
II. NỘI DUNG
1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI.
PHÂN LOẠI CÁC THÍ NGHIỆM VẬT LÍ
Trong dạy học Vật lí, mỗi thí nghiệm tiến hành trong tiết học đều được quy về
một trong hai dạng thí nghiệm sau:
a. Thí nghiệm biểu diễn:
Thí nghiệm biểu diễn là thí nghiệm do giáo viên trình bày ở trên lớp. Căn cứ vào
mục đích, có thể chia thí nghiệm biểu diễn thành 3 loại:
- Thí nghiệm nêu vấn đề:
Thí nghiệm này nhằm nêu lên vấn đề cần nghiên cứu tạo ra tình huống có vấn
đề làm tăng hiệu quả của dạy học.
tiến hành trong khi nghiên cứu kiến thức mới.
- Thí nghiệm kiểm nghiệm .
Loại thí nghiệm này được tiến hành kiểm nghiệm lại những kết luận đã được
khẳng định cả về lí thuyết và thực nghiệm nhằm đào sâu vấn đề hơn.
* Căn cứ vào hình thức tổ chức thí nghiệm: Có thể chia thí nghiệm
thực hành thành 3 loại:
- Thí nghiệm thực hành đồng loạt.
5
Loại thí nghiệm này tất cả các nhóm học sinh đều cùng làm một thí
nghiệm, cùng thời gian và cùng một kết quả.
Đây là thí nghiệm được sử dụng nhiều nhất hiện nay vì có nhiều ưu điểm.
Đó là:
Trong khi làm thí nghiệm các nhóm trao đổi giúp đỡ nhau và kết quả
trung bình đáng tin cậy hơn.
Việc chỉ đạo của giáo viên tương đối đơn giản vì mọi việc
uốn nắn hướng dẫn, sai sót, tổng kết thí nghiệm đều được hướng dẫn đến tất cả
học sinh.
Bên cạnh những ưu điểm, còn một số hạn chế:
Do trình độ các nhóm không đồng đều nên có nhóm vội
vàng trong khi thao tác dẫn đến hạn chế kết quả.
Đòi hỏi nhiều bộ thí nghiệm giống nhau gây khó khăn về thiết bị.
- Thí nghiệm thực hành loại phối hợp:
Trong hình thức tổ chức này học sinh được chia thành nhiều nhóm
khác nhau, mỗi nhóm chỉ làm thí nghiệm một phần trong thời gian như nhau,
sau đó phối hợp các kết quả của các nhóm lại sẽ được kết quả cuối cùng.
Ưu điểm của loại thí nghiệm này: Rèn luyện cho học sinh ý thức lao động
tập thể. Kích thích tinh thần thi đua làm việc giữa các nhóm.
Tuy nhiên loại thí nghiệm này có một số hạn chế: Mỗi nhóm không được
có dụng cụ như thế và hướng dẫn.
- Giáo viên thường tự làm thí nghiệm theo chủ quan của giáo viên. Học sinh
không được làm thí nghiệm, chỉ là người quan sát và nghe, không được tham gia
được tham gia vào việc giải quyết các vấn đề của bài học để rèn luyện tư duy
logic và óc sáng tạo.
- Học sinh phải viết báo cáo kết quả thực hành trong các tiết thực hành để lấy
điểm 1 tiết nhưng chất lượng bài báo cáo chưa cao vì thí nghiệm chưa được
chính xác.
- Trong vài năm gần đây trong các đề thi của quốc gia có những câu hỏi về thí
nghiệm vật lí nhưng ít học sinh làm được.
Vậy làm thế nào để nâng cao hiệu quả việc sử dụng thiết bị dạy học?
3. GIẢI PHÁP ĐÃ SỬ DỤNG ĐỂ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:
Trong quá trình giảng dạy tại trường THPT Hậu Lộc 1, tôi đã sử dụng một
số giải pháp sau:
* Giải pháp 1: Giáo viên cần nắm được mục đích việc sử dụng thiết bị dạy học
là gì?
Sử dụng thiết bị dạy học cho thí nghiệm vật lý có hiệu quả chính là việc
làm sống lại trước mắt học sinh các hiện tượng vật lý cần nghiên cứu một cách
sinh động. Từ đó học sinh có hứng thú say mê nghiên cứu khoa học, thích khám
phá tìm tòi để dẫn đến hình thành khái niệm và giúp học sinh lĩnh hội kiến thức
mới sâu sắc hơn, bền vững hơn.
* Giải pháp 2: Yêu cầu về sự chuẩn bị của giáo viên.
- Xác định chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ cần đạt trong bài, từ đó giáo viên
xây dựng mục tiêu cụ thể cần đạt trong tiết dạy là gì?.
- Đọc nội dung bài dạy trong chương trình sách giáo khoa, xác định kiến thức, kĩ
năng cần đạt của từng phần để nắm được mục tiêu của thí nghiệm phần đó là gì,
giáo viên biểu diễn thí nghiệm hay học sinh tự tiến hành thí nghiệm, từ đó kết
hợp với đồng chí phụ trách thiết bị chuẩn bị đầy đủ thiết bị phù hợp cho tiết học.
- Giáo viên phải làm trước các thí nghiệm đó (đây là bước bắt buộc) để xem
mức độ thành công của từng thí nghiệm từ đó điều chỉnh kịp thời (nếu cần) đảm
Nhìn chung với tất cả các thí nghiệm: Đặt vấn đề, thí nghiệm kiểm chứng,
thí nghiệm chứng minh. để tiến hành thí nghiệm đạt được hiệu quả cao giáo viên
phải tiến hành theo những bước sau:
Bước 1: Giáo viên chia nhóm, giao nhiệm vụ cho các thành viên trong nhóm.
Chú ý: Mỗi nhóm nên có đủ cả ba đối tượng học sinh và số thành viên trong
các nhóm không được quá nhiều nhằm tạo điều kiện cho các em có thời gian
tranh luận với nhau về kết quả thí nghiệm.
Bước 2: Xác định mục tiêu của thí nghiệm
- Với các thí nghiệm đơn giản giáo viên có thể cho học sinh đọc sách giáo khoa
sau đó các em thảo luận và nêu ra mục tiêu của thí nghiệm đó xong giáo viên
nhấn mạnh lại.
- Nếu các thí nghiệm khó và phức tạp thì giáo viên nên chia thành nhiều bước
nhỏ và nêu mục tiêu của từng bước trong thí nghiệm.
Lưu ý: Giáo viên cần phải xác định đúng và đủ mục tiêu của thí nghiệm vì
nó có liên quan trực tiếp đến nội dung của bài học.
Bước 3: Giới thiệu dụng cụ và cách tiến hành thí nghiệm:
+ Phần giới thiệu dụng cụ thí nghiệm:
Yêu cầu giáo viên cần giới thiệu đầy đủ thông tin về các dụng cụ có trong thí
nghiệm. Cụ thể là: Tên gọi, đặc điểm mềm, dẻo, đàn hồi, chịu nhiệt, chịu lực...
nhằm giúp các em hiểu được tác dụng của mỗi đồ dùng và sử dụng các thiết bị
trên được hiệu quả và an toàn.
Ví dụ như: Với các cốc đốt thì trước hết phải hướng dẫn các em là trước khi
đốt cần phải hơ lửa xung quanh để tránh vỡ, hoặc với các đồng hồ đo điện đa
năng thì cần phải chỉnh sao cho đúng thang đo.
+ Đối với phần cách tiến hành thí nghiệm: Giáo viên phải nêu rõ từng bước của
thí nghiệm để học sinh tiện quan sát và thực hành, nhưng đôi khi với một số thí
nghiệm đơn giản thì có thể cho học sinh đọc cách tiến hành thí nghiệm trong
sách giáo khoa sau đó thảo luận nêu lên cách tiến hành thí nghiệm. Cuối cùng
giáo viên nhấn mạnh cách tiến hành thí nghiệm trước khi cho học sinh thực
A
Giáo viên sau khi làm xong thí nghiệm thì có thể đặt câu hỏi như sau: Tại sao
phải kéo khúc gỗ chuyển động gần như thẳng đều ? Liệu có thể kéo vật chuyển
động nhanh chậm tùy ý được hay không?
- Tùy theo từng bài mà giáo viên có thể nêu thêm thí nghiệm thay thế hoặc cho
học sinh tự nghĩ ra thí nghiệm thay thế khác để cho bài học phong phú đa dạng
nhằm phát triển được vốn hiểu biết của học sinh. Nhưng các thí nghiệm thay thế
đó đòi hỏi phải đảm bảo đúng và chính xác mục tiêu của thí nghiệm.
Ví dụ: với bài "Quá trình đẳng tích – định luật Saclo" ở lớp 10.
10
Có thể làm thí nghiệm dùng bình nước nóng và bình nước đó làm thay đổi nhiệt
độ của khí trong xilanh, thay bằng dùng bình điện như trong sách giáo khoa.
Càng tạo ra được nhiều các thí nghiệm thay thế tốt thì càng làm cho giờ học sôi
động và phát triển được óc tưởng tượng và tư duy cho học sinh.
- Với các thí nghiệm thay thế giáo viên có thể hỏi học sinh tại sao thí nghiệm
này có thể thay thế được? Nhằm khắc sâu hơn cho các em về tính chặt chẽ, đúng
đắn của thí nghiệm thay thế đó.
- Nếu cần thì trên các dụng cụ phải có các vật chỉ thị để làm nổi bật lên các bộ
phận đặc biệt cần quan sát hoặc dùng các vật, chất khác hỗ trợ cho vấn đề cần
nghiên cứu.
Ví dụ: Ở thí nghiệm quan sát các tia sáng truyền qua thấu kính hội tụ và
thấu kính phân kì để quan sát rõ hơn các tia sáng thì giáo viên có thể cho
thêm ít khói hương vào sẽ có kết quả tốt hơn...
+ Chỉ bày ra trước mắt học sinh những dụng cụ cần thiết để minh họa hoặc làm
thí nghiệm, không được bày la liệt trước mắt học sinh những dụng cụ đã dùng
các tính chất lý, hóa của nó bị ảnh hưởng.
Ví dụ như: Các điện trở nếu lâu không sử dụng đến thì giá trị của nó không
còn đúng giá trị đã ghi trên nhãn mác nữa. Hoặc các vôn kế, ampe kế nếu lâu
không dùng đến kết quả đo cũng không còn chính xác do ảnh hưởng của môi
trường bên ngoài dẫn đến điện trở của chúng bị thay đổi.
12
Bước 7: Kết luận.
Giáo viên gọi 2 đến 3 học sinh đọc lại nội dung kết luận vừa tìm ra ở trên. Giáo
viên nhấn mạnh lại kết luận đó và có thể cho học sinh liên hệ thực tế các vấn đề
có liên quan đến thí nghiệm vừa là để khắc sâu kết luận mới tìm được, vừa là
làm cho bài dạy thêm sinh động.
b) Đối với thí nghiệm thực hành của học sinh:
Bộ thí nghiệm đo hệ số căng bề mặt Bộ thí nghiệm khảo sát sự rơi tự do
Để dạy tốt được loại bài này thì trước hết giáo viên phải hiểu được thế nào
là thí nghiệm thực hành của học sinh, cách tổ chức như thế nào và tác dụng của
nó ra sao?
- Thí nghiệm thực hành: Là thí nghiệm do học sinh tiến hành dưới sự chỉ dẫn
của giáo viên để từ đó các em tự khám phá kiến thức của bài và nắm bắt kiến
thức bài đó.
- Thí nghiệm thực hành có tác dụng: Giúp học sinh nắm vững hơn nội dung bài
học vì học sinh được tự tay gây ra hiện tượng vật lý, đo lường các đại lượng, tìm
ra quy luật, hiện tượng hoặc kiểm tra lại định luật, hiện tượng, do đó học sinh sẽ
chú ý hơn, tin tưởng hơn và hiểu vấn đề một cách cụ thể và sâu sắc hơn.
- Thí nghiệm thực hành rèn luyện cho học sinh kỹ năng, kỹ xảo sử dụng những
dụng cụ đo lường cơ bản như thước, cân, lực kế, ampe kế, vôn kế... do đó có tác
dụng rất lớn trong việc giáo dục kỹ thuật tổng hợp đối với học sinh.
học) cũng như các thí nghiệm có sử dụng đến dòng điện xoay chiều 220v...có
như vậy thì mới đảm bảo giờ học đạt hiệu quả cao và an toàn. Trong phần này
cũng đặc biệt chú ý giáo viên cũng cần có một bộ thí nghiệm của riêng mình để
có thể làm mẫu các thí nghiệm khi học sinh bắt gặp khó khăn.
Sau khi làm xong công tác chuẩn bị thì giáo viên tiến hành các bước dạy như
sau:
Bước 1: Giáo viên chia nhóm, giao nhiệm vụ cho từng thành viên trong
nhóm, chú ý số em trong một nhóm không quá đông để đảm bảo đủ thời gian
cho tất cả các thành viên đều được tiến hành thí nghiệm.
- Các nhóm nên có cả ba đối tượng học sinh để các em giúp đỡ lẫn nhau trong
quá trình tiến hành thí nghiệm, thảo luận đưa ra nhận xét.
Bước 2: Cho học sinh cả lớp tự đọc hướng dẫn thí nghiệm trong sách giáo
khoa nhằm giúp các em nắm bắt được phần nào mục đích của thí nghiệm, cách
tiến hành thí nghiệm. Trong phần này giáo viên có thể phát phiếu học tập cho
các nhóm để các em nêu dự đoán về mục đích của thí nghiệm hoặc dự đoán các
hiện tượng có thể xảy ra khi tiến hành thí nghiệm theo hướng dẫn của sách giáo
khoa. Nhằm tạo cho các em có cảm giác, hứng thú muốn tiến hành các thí
nghiệm đó ngay để kiểm tra nhận xét lý thú trên.
Bước 3: Giáo viên nêu mục đích của thí nghiệm cho học sinh nắm chắc
để tiến hành thí nghiệm theo đúng yêu cầu của bài học. Với các thí nghiệm dễ có
thể cho học sinh thảo luận nêu ra mục đích thí nghiệm sau đó giáo viên chốt lại.
14
Bước 4: Giới thiệu dụng cụ và cách bố trí thí nghiệm.
- Với dụng cụ thí nghiệm thì giáo viên cũng cần nêu rõ như phần dụng cụ ở thí
nghiệm biểu diễn của giáo viên như đã phân tích.
- Cách bố trí thí nghiệm có thể tiến hành như phần chuẩn bị nêu trên.
Bước 5: Tiến hành thí nghiệm.
- Nếu thí nghiệm nào khó thì giáo viên có thể làm thao tác trước cho các nhóm
- Cách đặt mắt đọc kết quả chưa đúng, hoặc cách đặt các thiết bị đo chưa đúng.
Ví dụ: Cách đặt mắt ở bài “hiện tượng khúc xạ ánh sáng" các học sinh
thường đặt mắt nhìn ở các góc độ khác nhau nên có thể dẫn đến các kết quả
không theo mong đợi.
- Do cách bố trí thí nghiệm chưa đúng, cẩu thả cũng là nguyên nhân dẫn đến kết
quả có sai số lớn hoặc không thành công.
15
- Do chưa chú ý nghe hướng dẫn tiến hành thí nghiệm của giáo viên hoặc ở sách
giáo khoa cũng như chưa nắm bắt được mục tiêu của thí nghiệm hoặc chưa hiểu
rõ tính chất lý, hóa của các thiết bị.
-Với các nguyên nhân dẫn đến kết quả thí nghiệm có sai số như đã nêu thì giáo
viên phải bám sát vào đó để giúp đỡ các em sửa chữa có như vậy mới giúp học
sinh tin tưởng vào khoa học và có ý thức, kinh nghiệm hơn khi xử lý các kết quả
thí nghiệm.
* Yêu cầu đối với người phụ trách thiết bị dạy học:
- Sắp xếp các dụng cụ thí nghiệm một cách hợp lý, khoa học, tiện sử dụng.
- Cần kết hợp chặt chẽ với giáo viên vật lý để lập kế hoạch sử dụng thiết bị dạy
học và cùng làm trước các thí nghiệm theo từng bài của chương trình.
- Cùng giáo viên dạy vận chuyển đồ dùng lên lớp khi chưa có phòng học bộ
môn. Có thể trực tiếp hướng dẫn học sinh cùng với giáo viên dạy để quản lý học
sinh một cách chặt chẽ hơn.
- Đồng chí phụ trách phải thường xuyên kiểm tra lại các thiết bị sau mỗi giờ dạy
để có thể đưa ra phương án kịp thời mua bổ sung cho các năm học tiếp theo.
Bộ thí nghiệm từ trường
Bộ thí nghiệm xác định hệ số ma sát
CẢ
NĂM
TB
Yếu
Kém
SL
31
%
65,96
SL
14
%
29,79
SL
2
%
4,26
SL
0
61,7
16
34,04
2
4,26
0
0
0
11A4
4
10
21
52,5
13
32,5
15
22
55
10
25
2
5
0
11A1
(47HS)
HK I
Khá
Như vậy qua kết quả trên, tôi nhận thấy từ khi áp dụng những giải pháp
đã nêu, thái độ học tập của học sinh đối với môn vật lí nói chung và đối với các
tiết thực hành thí nghiệm nói riêng có nhiều chuyển biến tích cực. Khi giáo viên
sử dụng các thiết bị thí nghiệm, học sinh rất háo hức và mong muốn đến giờ học
thực hành. Sự chuẩn bị của học sinh đối với các tiết dạy của tôi cũng chu đáo
hơn. Điều đó không chỉ là động lực thôi thúc tôi tiếp tục sử dụng nhiều hơn các
dụng cụ thí nghiệm thực hành trong quá trình giảng dạy, mà đây còn là một
trong những lí do giúp bản thân tôi cảm thấy yêu nghề, gắn bó với nghề hơn.
d. Phát động phong trào làm đồ dùng dạy học của giáo viên và học sinh:
Việc làm đồ dùng dạy học được phân theo nhóm học tập trong lớp. Học sinh
đã làm rất tích cực với số lượng phong phú, những đồ dùng dạy học đạt điểm
cao, chất lượng tốt, được tuyển chọn để đưa vào phòng bộ môn Vật lí của nhà
trường.
- Qua việc tự làm đồ dùng dạy học làm cho học sinh phấn khởi, sáng tạo, hứng
thú trong việc học vật lí . Trong quá trình tự làm, học sinh đã hiểu sâu các
nguyên lí của các hiện tượng, định luật. Chính vì thế kiến thức học sinh đã học
được củng cố, khắc sâu hơn.
e. Với đề tài này :
- Tính mới, tính sáng tạo:
+Tính mới: Phù hợp với nhiều đối tượng học sinh cả học sinh khá giỏi lẫn
học sinh có năng lực còn yếu kém
18
+Tính sáng tạo: Phù hợp với đổi mới phương pháp dạy và học hiện nay.
Giúp học sinh hứng thú thêm với môn học.
- Khả năng áp dụng, nhân rộng:
- Có thể sử dụng rộng rãi trong tất cả các trường học đặc biệt là những nơi có
điều kiện thiết bị dạy học còn khó khăn, thiếu thốn, cần phát động phong trào tự
làm đồ dùng dạy học.
- Hiệu quả, lợi ích thu được do áp dụng giải pháp
+ Hiệu quả kinh tế: Có thể tận dụng được triệt để các thiết bị có sẵn trong nhà
trường để sử dụng trong các tiết học.
+ Hiệu quả về mặt xã hội: Giúp mọi học sinh tiếp cận được với nền khoa học
hiện đại. cả những nơi có điều kiện cơ sở vật chất còn khó khăn
2. KIẾN NGHỊ.
- Việc xây dựng phòng thí nghiệm, tổ chức thực hiện các tiết thí nghiệm thực
hành phải được xem là một trong những tiêu chí thi đua của các trường THPT,