Xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học nhằm tích cực hoá hoạt động học tập của HS trong dạy học môn giáo dục quốc phòng an ninh ở tr - Pdf 44

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Môn học Giáo dục Quốc phòng – An ninh (GDQP-AN) là bộ phận của nền
giáo dục quốc dân, một nội dung cơ bản trong xây dựng nền quốc phòng toàn
dân, an ninh nhân dân là môn học chính khoá trong chương trình giáo dục cấp
Trung học phổ thông hiện đang được xã hội và ngành Giáo dục quan tâm. Giáo
dục quốc phòng bao gồm kiến thức khoa học xã hội, nhân văn, khoa học tự
nhiên và khoa học kĩ thuật quân sự. Là môn học được thể hiện trong đường lối
giáo dục của Đảng và thể chế hóa bằng các văn bản pháp quy của Nhà nước,
nhằm góp phần đào tạo những con người có đủ phẩm chất và năng lực làm tốt
hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Trong những năm đất nước có chiến tranh, nhờ có chương trình huấn luyện
quân sự trong các nhà trường, thanh niên trước khi nhập ngũ đã có kiến thức
quân sự phổ thông, rút ngắn được thời gian huấn luyện chiến sĩ mới, tham gia
tích cực trong cuộc kháng chiến chống Mĩ và chiến tranh bảo vệ biên giới Tổ
quốc. Nhiều tấm gương cao đẹp là học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường đã trở
thành anh hùng, dũng sĩ trong chiến đấu và lao động xây dựng đất nước. Ngoài
việc nâng cao dân trí về quốc phòng, GDQP góp phần giáo dục ý thức trách
nhiệm của mỗi công dân đối với Tổ quốc, giáo dục lòng tự hào về truyền thống
vẻ vang của dân tộc, xây dựng ý thức tổ chức, kỉ luật, coi trọng nếp sống tập thể,
mình vì mọi người, chống thói ích kỉ; cùng với các hoạt động khác đẩy lùi tiêu
cực và tệ nạn xã hội.
Nhận thấy ý nghĩa đó, năm 2001, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
15/NĐ-CP, quy định GDQP-AN là môn học chính khoá trong hệ thống giáo dục
- đào tạo (GD-ĐT). Nhờ đó, công tác GDQP-AN đã có bước phát triển mới cả
bề rộng và chiều sâu, chất lượng ngày càng cao. Qua đó, đã giáo dục cho thế hệ
học sinh về những chủ trương, quan điểm cơ bản của Đảng về quốc phòng - an
ninh (QP-AN), nâng cao ý thức cảnh giác cách mạng và rèn luyện những kỹ
năng quân sự cần thiết, để tuổi trẻ góp phần vào công cuộc đổi mới, xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc.
Tuy nhiên, công tác GDQP-AN bước đầu cũng còn những hạn chế, bất

3. Phương pháp nghiên cứu đề tài.
-. Phương pháp nghiên cứu lý luận .
-. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
-. Phương pháp quan sát .
-. Phương pháp điều tra bằng phiếu Anket.
-. Phương pháp phỏng vấn.
-. Phương pháp thực nghiệm.
-. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục.
-. Phương pháp thống kê toán học.
B. NỘI DUNG.
1. Cơ sở lí luận nghiên cứu vấn đề.
1.1. Ở nước ngoài.
Vào những năm 40 của thế kỷ XIX, một số nhà khoa học giáo dục Nga
như: P.A.Bexonova, OP.Seina, V.I.Đalia, E.A.Pokrovxki ... đã đánh giá cao vai
trò giáo dục, đặc biệt và tính hấp dẫn của trò chơi dân gian Nga đối với trẻ mẫu
giáo.
2


Trong nền giáo dục cổ điển, ý tưởng sử dụng trò chơi với mục đích dạy học
được thể hiện đầy đủ trong hệ thống giáo dục của nhà sư phạm người Đức
Ph.Phroebel. Ông là người đã khởi xướng và đề xuất ý tưởng kết hợp dạy học
với trò chơi cho trẻ.
Vào những năm 30-40-60 của thế kỷ XX, vấn đề sử dụng trò chơi dạy học
trên “tiết học” được phản ánh trong công trình của R.I.Giucovxkaia,
VR.Bexpalova, E.I.Udalsova ... R.I.Giucovxkaia đã nâng cao vị thế của dạy học
bằng trò chơi. Bà chỉ ra những tiềm năng và lợi thế của những “tiết học” dưới
hình thức trò chơi học tập, coi trò chơi học tập như là hình thức dạy học, giúp
người học lĩnh hội những tri thức mới từ những ý tưởng đó, Bà đã soạn thảo ra
một số “tiết học – trò chơi” và đưa ra một số yêu cầu khi xây dựng chúng.



- Đối tượng hoạt động và giao tiếp là những thành tố chính của các hoạt
động,
tuy nhiên để đáp ứng tốt nhất nhiệm vụ học tập thì chúng cần được xác định
và thiết kế chặt chẽ, được chỉ dẫn cụ thể và rõ ràng hơn trong luật chơi.
- Các quá trình, tình huống và quan hệ - là những tiến trình, biến số và
khuynh hướng của các hoạt động, hành động chơi, biểu thị tác động của luật
chơi.
.
1.4. Phân loại trò chơi dạy học.
a. Nguyên tắc chung phân loại trò chơi.
* Vấn đề phân loại trò chơi trong khoa học giáo dục
Lâu nay chưa có sự nhất quan trong phân loại trò chơi, cũng không rõ
nguyên tắc phân loại. Quan điểm phổ biến hiện nay, thể hiện trong chương trình,
tài liệu giáo khoa, giáo trình, luận văn khoa học, là phân chia trò chơi thành các
loại.
- Trò chơi học tập, là trò chơi có luật.
- Trò chơi vận động.
- Trò chơi đóng vai (chủ đề).
- Trò chơi đóng kịch (theo kịch bản).
- Trò chơi xây dựng - lắp ghép.
- Trò chơi bác sĩ…
Cứ theo logic này có thể có trò chơi ngôn ngữ, trò chơi nghệ thuật, trò chơi
khoa học, trò chơi giao thông vận tải, trò chơi truyền tin, trò chơi quân sự…
* Nguyên tắc phân loại trò chơi
Đó là vấn đề quan trọng trong lý thuyết và thực tiễn sử dụng trò chơi.
Những nguyên tắc này không cố định, mà phụ thuộc vào cách tiếp cận khoa học
cụ thể, nghĩa là không có một nguyên tắc duy nhất nào cả.
b. Phân loại trò chơi dạy học.

dạy học môn GDQP.-.AN.
+ Thực trạng xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học trong dạy học môn
GDQP.-.AN của GV..
+ Những thuận lợi và khó khăn khi xây dựng trò chơi trong dạy học môn
GDQP.-.AN.
- Phương pháp khảo sát:
Bằng phương pháp quan sát (thông qua dự giờ, thăm lớp, điều tra bằng
phiếu anket, phỏng vấn trực tiếp GV, HS tổng kết kinh nghiệm của GV để thu
thập thông tin về thực trạng nghiên cứu, thống kê toán học (dùng để xử lý số liệu
thu thập được).
- Chọn mẫu khảo sát: 4 GV giảng dạy môn TD.-.GDQP.-.AN và 80 HS.
- Thời gian khảo sát: tháng 2 và tháng 3 năm 2016.
2.2.Kết quả khảo sát.
*. Nhận thức của HS về việc xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học
môn GDQP-AN.
5


Qua phân tích số liệu thu được từ ý kiến trả lời 7 câu hỏi dành cho HS
chúng tôi thấy rằng:
+ Mức độ sử dụng trò chơi trong dạy học môn GDQP-AN của thầy cô theo
nhận xét của HS .Kết quả khảo sát học sinh như sau: 50% số HS cho rằng GV
không bao giờ sử dụng trò chơi trong dạy học môn giáo dục quốc phòng - an
ninh, 35% ý kiến HS cho là ít khi GV sử dụng trò chơi, còn lại 15% SV cho là
bình thường.
+ 85% số HS khẳng định việc xây dựng và sử dụng trò chơi trong dạy học
môn GDQP.-.AN là cần thiết, 13% cho là rất cần thiết, chỉ có 2% là không cần
thiết (câu hỏi 2).
*. Nhận thức của GV về vai trò, tác dụng của trò chơi trong dạy học môn
GDQP.-.AN.

trò chơi trong dạy học môn GDQP-AN.
3.Qua cách đánh giá ở trên chúng tôi nhận thấy đã có những HS có ý thức
tốt, tích cực, độc lập trong học tập, đây là cơ sở để GV sử dụng các trò chơi
trong dạy học nhằm lôi cuốn các HS này và thông qua họ để tạo ra bầu không
khí tương tác tốt trong học tập.
- Những khó khăn khi xây dựng và sử dụng trò chơi dạy học trong dạy
học môn GDQP - AN.
Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, khi xây dựng và sử dụng trò chơi dạy
học trong dạy học môn GDQP-AN vẫn còn một số khó khăn, tồn tại cần phải
giải quyết:
1. Số lượng HS thụ động trong học tập còn rất nhiều không khí học tập
chưa tốt, bên cạnh đó vẫn còn hiện tượng HS học “đối phó” chỉ mục đích học
cho qua.
2. Số lượng giáo trình, tài liệu tham khảo, tài liệu trên Internet liên quan
đến dạy học môn GDQP-AN còn ít và thiếu.
3. Trong quá trình tổ chức dạy học môn GDQP-AN do đặc thù không thi tốt
nghiệp nên ý thức học tập của HS còn chưa cao.
4. Kỹ năng giới thiệu và triển khai trò chơi của một số GV còn hạn chế nên
còn ngại trong việc sử dụng trò chơi vào dạy học. GV vẫn chưa đầu tư nhiều vào
việc thiết kế các loại trò chơi dạy học cho HS.
5. Tuy trò chơi có những tác dụng to lớn trong việc kích thích tính tích cực
học tập của HS, nhưng kết quả khảo sát cho thấy việc tổ chức trò chơi học tập
trong dạy học môn GDQP-AN cho HS còn rất ít, đôi khi không có. Các loại trò
chơi được thiết kế còn đơn điệu, hình thức tổ chức trò chơi chưa hấp dẫn nên đôi
khi chưa thu hút được tất cả HS cùng chơi.
3. BIỆN PHÁP VÀ SỬ DỤNGTRÒ CHƠI TRONG DẠY HỌC MÔN.
GDQP - AN
3.1. Xây dựng một số trò chơi trong dạy học môn GDQP-ẠN.
Nhóm 1: Nhóm trò chơi lĩnh hội tri thức mới (lĩnh hội tri thức mới).
7


N

L

A

N

G

- Dạng thứ hai: Ô chữ có nhiều hàng dọc và có từ chìa khóa bí mật (mô
phỏng trò chơi Đường lên đỉnh Ôlimpia).
2. Trò chơi “Ai là người nhớ sự kiện, nhân vật lịch sử nhiều nhất”.
Trò chơi này áp dụng cho những bài có nội dung về lịch sử, truyền thống,
các nhân vật, sự kiện lịch sử nhằm giới thiệu, củng cố kiến thức lịch sử của các
em. Đối với loại trò chơi này GV có thể áp dụng khi giới thiệu vào bài, sau khi
học xong một giai đoạn lịch sử.
Ví dụ: Sử dụng trò chơi khi học các bài Truyền thống đánh giặc giữ nước
của nhân dân ta; bài Lịch sử, truyền thống Quân đội và Công an nhân dân, Công
tác phòng không nhân dân… nhằm củng cố lại những kiến thức lịch sử từ đó
8


giúp học sinh nhận thức sâu sắc những giá trị lịch sử, kế thừa và phát huy truyền
thống của ông cha.
3. Trò chơi “Tìm hiểu nhân vật lịch sử”
Đây là trò chơi nhằm tìm hiểu một cách khái quát về than thế sự nghiệp
những nhân vật lịch sử có công lao to lớn đối với lịch sử dân tộc và nhân loại.
VD: Tìm hiểu lịch sử đã có công trong buổi đầu dựng nước hay tìm hiểu

9


(Minh họa trò chơi: Tổ chức quân đội)
Hình ảnh gợi ý thứ nhất

- Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ chiến sĩ
- Sẵn sang chiến đấu, chiến thắng trước mọi kẻ thù
- Tăng cường công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội.
Từ khóa: Đội quân công chiến đấu, đội quân công tác và đội quân lao
động sản xuất.
Hình ảnh gợi ý thứ 2

- Trong quân đội luôn được xây dựng chặt chẽ về tổ chức; thống nhất về
trang phục; mẫu mực về lễ tiết, tác phong; nghiêm minh về kỹ luật.
Tư khóa: Xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh
nhuệ, từng bước hiện đại.
2.Trò chơi đi tìm mảnh ghép.
Ở phần giới thiệu một số loại vũ khí bộ binh chúng ta có thể tổ chức trò
chơi này cho học sinh.
Ví dụ: Khi tìm hiểu nội dung các loại vũ khí bộ binh GV đưa ra hình ảnh
của một loại vũ khí. Trong hình ảnh đó có 5 mảnh ghép nhỏ. Mỗi mảnh ghép có
lời gợi ý nội dung liên quan đến vũ khí đó. HS phải trả lời ô từ khóa cho từng
mãnh ghép nhỏ. GV cứ tiếp tục lật các mãnh ghép đó cho đến khi nào tìm được
ô chữ từ khóa cuối cùng của vũ khí đó (Loại súng gì?).
10


3.Trò chơi rèn luyện lòng yêu nước, ý thức quốc phòng cho học sinh.
- Mục đích, yêu cầu.

Trò chơi này có thể tổ chức dưới dạng những câu hỏi trắc nghiệm, mỗi câu
hỏi liên quan đến kiến thức hay kỹ năng đã học được giới thiệu bằng nhiều
phương án khác nhau, yêu cầu người chơi hay đội chơi chọn phương án đúng.
2.Trò chơi xếp hình đúng.
Trò chơi xếp hình đúng có thể là xếp các mảnh ghép khác nhau thành một
11


hình hoàn chỉnh, có thể là xếp các hình hay nội dung có chung đặc điểm
vào một nhóm, một thể loại. Để tổ chức trò chơi này, GV cần có sự chuẩn bị sẵn
các mảnh ghép. Những mảnh ghép đó có thể là hình ảnh, có thể là chữ viết thể
hiện nội dung. Dưới đây là một ví dụ minh họa khi tổ chức trò chơi để ôn tập các
nguyên tắc dạy học và các nguyên tắc giáo dục.
- Mục đích: Rèn luyện sự nhanh nhẹn, khéo léo giúp HS nhớ lại nội dung
bài học một cách lôgic.
- Chuẩn bị: GV chuẩn bị các mảnh ghép (hình ảnh hoặc chữ viết).
- Cách chơi: Chia nhóm.
Cả 2 nhóm tìm trong các mảnh ghép có sẵn các hình súng AK và súng CKC
trộn lẫn vào nhau. Mỗi nhóm phải xếp thành hình đúng theo yêu cầu của GV,
đáp án của đội chơi là:
Đội 1: Xếp hình súng AK.
Đội 2: Xếp hình sung CKC.
Sau khi thực hiện xong nhiệm vụ, đội nào có sơ đồ đúng, đầy đủ và hoàn
thành trong thời gian ngắn hơn sẽ là đội chiến thắng.
TRÒ CHƠI: “AI HIỂU BIẾT HƠN VỀ CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ”
1. Phạm vi áp dụng: Bài 3 - Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và biên giới quốc
gia (GDQP-AN 11).
2. Mục đích áp dụng: Củng cố, hệ thống nội dung chủ quyền lãnh thổ và
biên giới quốc gia, đồng thời giúp các em vừa học vừa chơi tạo không khí thoải
mái, thân thiện.

Câu 3: Bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia là trách nhiệm của ai?
Đáp án: Là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân.
Câu 4: Lãnh thổ thuộc chủ quyền hoàn toàn, tuyệt đối và đầy đủ của quốc
gia bao gồm những bộ phận nào?
Đáp án: Vùng đất; vùng nước; vùng trời trên vùng đất, vùng nước; lòng đất
dưới chúng.
Câu 5: Vùng trời quốc gia là?
Đáp án: Không gian bao trùm trên vùng đất, vùng nước quốc gia
Câu 6: Vùng lãnh hải là vùng biển?
Đáp án: Tiếp liền bên ngoài vùng nước nội thủy của quốc gia.
Câu 7: Vùng lãnh hải rộng bao nhiêu hải lí và tính từ đâu?.
Đáp án: 12 hải lí tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.
Câu 8: Theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển, phía ngoài vùng lãnh
hải có những vùng biển nào?.
Đáp án: Vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế , vùng thềm lục
địa.
Câu 9: Đường biên giới quốc gia trên đất liền của Việt Nam dài bao nhiêu?
Đáp án: 4926,566 km.
Câu 10: Trên vùng biển Việt Nam gồm bao nhiêu điểm để xác định đường
cơ sở trên biển?.
13


Đáp án: 12 Điểm.
* Bước 5: Tổng kết trò chơi.
TRÒ CHƠI: “NGHE TÁC DỤNG, TÍNH NĂNG ĐOÁN BỘ PHẬN
SÚNG”.
1. Phạm vi áp dụng: Bài 4 - Giới thiệu súng tiểu liên AK và súng trường
CKC (GDQP-AN 11).
2. Mục đích: Củng cố, hệ thống nội dung về một số loại vũ khí bộ bình,

Câu 4: Luôn đẩy bệ khóa nòng và khóa nòng về phía trước nhờ bộ phận?.
Đáp án: Bộ phận đẩy về.
Câu 5: Chọc vào hạt lử làm đạn nổ?.
Đáp án: Kim hỏa.
Câu 6: Liên kết các bộ phận của súng:
Đáp án: Hộp khóa nòng.
Câu 7: Xác định góc và hướng bắn cho súng.
Đáp án: Bộ phận ngắm.
Câu 8: Tốc độ đầu đạn 715m/s là súng?.
Đáp án: Súng AKM, AKMS.
Câu 9: Nặng 3,1 kg chưa có đạn là súng.
Đáp án: AKM.
Câu 10: Khi hết đạn có thể tiêu diệt địch bằng.
Đáp án: Lê, báng súng.
* Bước 5: Tổng kết trò chơi.
TRÒ CHƠI: “Ô CHỮ BÍ MẬT”.
1. Phạm vi áp dụng: Bài 4 – Giới thiệu súng tiểu liên AK và súng trường
CKC (GDQP-AN 11)
2. Mục đích áp dụng: Củng cố, hệ thống nội dung về súng tiểu liên AK,
đồng thời giúp các em vừa học vừa chơi tạo không khí thoải mái, thân thiện.
3. Chuẩn bị.
- Giáo viên: Xác định trò chơi, thời gian, thời điểm chơi trong tiết dạy;
chuẩn bị câu hỏi và đáp án của trò chơi, thiết kế ô chữ trên máy chiếu.
4. Tiến hành chơi.
* Bước 1: GV giới thiệu trò chơi.
* Bước 2: GV lựa chọn đội chơi (mỗi tổ cử 1 – 2 đại diện).
* Bước 3: GV quy định, phổ biến luật chơi.
- Thời gian: 5-6 phút.
- Trò chơi gồm có 5 câu để tìm ra chìa khóa.
- Mỗi câu trả lời đúng được 10 điểm.

Ê

N

C

H

Á

Y

2.Ô chữ số 2: Súng tiểu liên AK có mấy loại.
3

L

O



I

3. Ô chữ số 3: Bạn có biết sung tiểu liên AK do ai chế tạo.
K

A

L


5. Ô chữ số 4: Bạn hãy kể tên hai loại súng trong đó có một loại súng cải
tiến không có báng gấp?.
A

K

A

K

M

Ô chữ chìa khóa: Chuyển động.
* Bước 5: Tổng kết trò chơi.
4. Thực nghiệm sư phạm.
4.1. Quy trình thực nghiệm.
+ Lớp đối chứng: Gồm HS lớp 11A1 (số lượng 40 HS).
+ Lớp thực nghiệm: Gồm HS lớp 11A2 (số lượng 40 HS).
Với những điều kiện tương đồng về học lực, tỷ lệ nam nữ của cả 2 như
nhau.
Thực nghiệm được tiến hành từ tháng 10/2015 – 5/2016. Các lớp thực
nghiệm và lớp đối chứng cùng thực hiện nội dung học tập theo những thời điểm
như nhau.
4.2. Kết quả thực nghiệm
. Biểu hiện các hành động tham gia trong giờ học:
So sánh kết quả trung bình về mức độ của các biểu hiện ở bảng 4.1. Các
hình 4.1 và 4.2.
16




Hình 4.1 Biểu hiện tích cực ở lớp đối chứng.

B1=0.23
B4=0.35
B2=0.30
B3=0.28

Hình 4.2 Biểu hiện tích cực ở lớp thực nghiệm.

B4=0.58

B4=0.48

B1=0.38

B2=0.68

+ Chỉ số B1: Chỉ số HS tập trung chú ý vào nội dung bài học, ở lớp thực
nghiệm cao hơn lớp đối chứng. Điều này cho thấy, thông qua trò chơi học tập
nhằm lôi cuốn HS học tập một cách thoải mái, tự nhiên và phát huy sự tập trung
chú ý của các em vừa giúp các em ghi nhớ kiến thức của bài học thông qua nội
dung trò chơi một cách nhanh chóng và linh hoạt hơn.
+ Chỉ số B2: Mức độ hứng thú, tích cực tham gia vào các hoạt động học
tập
ở lớp thực nghiệm cao hơn lớp đối chứng rất nhiều. Điều này cho ta thấy, ở
lớp thực nghiệm việc học tập của HS được tiến hành một cách nhẹ nhàng, sinh
động, không khô khan, nhàm chán, HS được lôi cuốn vào quá trình luyện tập
17


GDQP-AN hiện nay.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận.
1.1. Vấn đề tích cực hóa học tập của HS trong dạy học có tầm quan trọng
đặc biệt, việc làm này có tác dụng thúc đẩy sự phát triển trí tuệ, kích thích tư
duy, nâng cao hứng thú học tập môn GDQP-AN.
Việc sử dụng trò chơi trong dạy học môn GDQP-AN có rất nhiều tác dụng,
tuy nhiên khi sử dụng nó không nên quá lạm dụng, chỉ sử dụng trong thời gian
ngắn như khởi động buổi học, giới thiệu một nội dung mới hoặc để củng cố một
18


vấn đề. Nếu trong buổi học thấy tình trạng HS mệt mỏi cũng có thể sử dụng trò
chơi học tập để giúp HS thay đổi trạng thái, lấy lại tinh thần học tập.
1.2. Tính tích cực học tập môn GDQP-AN của HS chưa cao, vẫn còn hiện
tượng HS học “đối phó” coi đó là môn phụ, HS chưa hứng thú với môn học, có
một số bài khô khan về nội dung và khá trừu tượng làm cho lớp học dễ bị thụ
động. Đã có một số GV sử dụng trò chơi dạy học trong quá trình dạy học môn
GDQP-AN nhưng nhìn chung việc sử dụng các trò chơi này còn đơn điệu do GV
vẫn chưa đầu tư nhiều vào việc thiết kế các loại trò chơi dạy học, hình thức tổ
chức chưa phong phú, hấp dẫn nên đôi khi chưa thu hút, lôi cuốn được tất cả HS
tham gia học tập.
1.3. Chúng tôi đã xây dựng được một số trò chơi và đưa ra các biện pháp sử
dụng trò chơi dạy học ở trên chỉ mang những gợi ý cơ bản trong dạy học môn
GDQP-AN. GV cần sáng tạo, linh hoạt theo điều kiện dạy học, tại trường và cần
bổ sung thêm nhiều trò chơi dạy học và biện pháp sử dụng mới phù hợp với
phong cách giảng dạy của bản thân cũng như theo đúng tình huống dạy học cụ
thể.
1.4. Kết quả thực nghiệm cho phép khẳng định việc sử dụng trò chơi dạy
học trong dạy học môn GDQP-AN giúp cho HS chủ động tham gia vào quá trình


Trịnh Tiến Duẩn

XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG Thanh Hoá, ngày 25 tháng 05 năm 2016
ĐƠN VI

T ôi xin cam đoan đ ây là SKKN của tôi
viết, không sao chép nội dung của người
khác .

Trịnh Tiến Duẩn

20


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo dục Quốc phòng và An ninh lớp10,11,12, NXB
giáo dục, 2010.

SỞdục
GIÁO

TẠOCao
THANH
HOÁ
2. Giáo trình Giáo
quốcDỤC
phòng,
bậcĐÀO
Đại học,

CỰC HÓA HOẠT
8. Vũ
Minh Hồng
(1980),AN
Trò NINH
chơi họcNHẰM
tập, NXBTÍCH
GD
ĐỘNG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

Chủ nhiệm đề tài: Trịnh Tiến Duẩn
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác : Trường THPT Lam Kinh
SKKN thuộc lĩnh vực : Giáo Dục Quốc Phòng - An Ninh

THANH HOÁ 2016

21




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status