VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ LỆ DUNG
ĐỐI CHIẾU TỪ ĐỒNG NGHĨA TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
HÀ NỘI, 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ LỆ DUNG
ĐỐI CHIẾU TỪ ĐỒNG NGHĨA TRONG TIẾNG ANH VÀ TIẾNG VIỆT
TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA VÀ NGỮ DỤNG
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học so sánh – đối chiếu
Mã số
: 62.22.02.41
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Người hướng dẫn khoa học:
6. Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận án .............................................................. 5
6.1. Ý nghĩa lí luận. ..................................................................................................... 5
6.2. Ý nghĩa thực tiễn .................................................................................................. 6
7. Cơ cấu của luận án................................................................................................. 6
Chương 1..................................................................................................................... 7
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU........................................................... 7
1.1. Dẫnnhập .............................................................................................................. 7
1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài về từ đồng nghĩa .................................... 7
1.2.1. Nghiên cứu từ đồng nghĩa ở các ngôn ngữ khác tiếng Anh .......................... 7
1.2.2. Nghiên cứu về từ đồng nghĩa trong tiếng Anh ............................................... 15
1.3. Tình hình nghiên cứu ở trong nước về từ đồng nghĩa .................................... 23
1.4.Tình hình nghiên cứu đối chiếu từ đồng nghĩa Anh-Việt ................................ 26
1.5.Tiểu kết ................................................................................................................. 27
Chương 2..................................................................................................................... 28
CƠ SỞ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN .................................... 28
2.1 Phân biệt các khái niệm: “Hiện tượng đồng nghĩa”, “đơn vị từ vựng
đồng nghĩa” và “từ đồng nghĩa” ............................................................................... 28
2.1.1. Khái niệm hiện tượng đồng nghĩa ................................................................... 28
2.1.2. Sự khác biệt giữa hiện tượng đồng nghĩa, đơn vị từ vựng đồng nghĩa
và từ đồng nghĩa ......................................................................................................... 33
2.2. Các thủ pháp nhận diện từ đồng nghĩa ............................................................ 34
2.3. Quan điểm của luận án về từ đồng nghĩa ......................................................... 36
2.4. Hiện tượng chuyển nghĩa của từ và từ đồng nghĩa ........................................ 37
2.5. Trường từ vựng và những vấn đề về từ đồng nghĩa ...................................... 40
2.5.1. Lí thuyết trường từ vựng. ................................................................................. 40
2.5.2. Dãy đồng nghĩa và vấn đề chọn từ trung tâm của dãy đồng nghĩa ............... 41
2.6. Ngữ nghĩa và ngữ dụng của từ ......................................................................... 45
2.6.1. Ngữ nghĩa của từ .............................................................................................. 45
và tiếng Việt ............................................................................................................... 129
4.5. Đối chiếu ngữ dụng hư từ đồng nghĩa trong tiếng Anh
và tiếng Việt theo sự đánh giá về số lượng .............................................................. 134
4.5.1. Các từ đồng nghĩa mang thông tin ngữ dụng đánh giá về số lượng
trong tiếng Anh. .......................................................................................................... 134
4.5.2. Các từ đồng nghĩa mang thông tin ngữ dụng đánh giá về số lượng
trong tiếng Việt ........................................................................................................... 136
4.6. Tiểu kết ................................................................................................................ 147
KẾT LUẬN ................................................................................................................. 148
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ .................................... 151
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 152
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Giao tiếp là nhu cầu tất yếu của mỗi con người trong xã hội. Thông qua
giao tiếp, mỗi thành viên không chỉ đơn thuần truyền đạt thông tin khách quan
mà còn nhằm chinh phục đối tượng tiếp ngôn hay thể hiện sự đánh giá, bộc lộ
tình cảm để đạt được các mục đích khác nhau trong quá trình giao tiếp ngôn
ngữ.
Để có thể biểu hiện tư duy, tình cảm của mình một cách chính xác, rõ
ràng và cao hơn là diễn đạt được nội dung tư tưởng, tình cảm đó một cách đa
dạng, hấp dẫn và tinh tế, rất cần sử dụng các phương tiện đồng nghĩa về từ
vựng và đồng nghĩa về ngữ pháp. Nhờ có các phương tiện đồng nghĩa về từ
vựng và ngữ pháp, chúng ta có thể tránh được sự diễn đạt trùng lặp một từ
trong câu, trùng lặp một câu trong đoạn văn... Chính các từ và các kết cấu ngữ
pháp diễn đạt các nội dung đồng nghĩa đã giúp chúng ta đa dạng hoá được cách
diễn đạt, do đó tránh được sự diễn đạt trùng lặp, khiến cho câu văn phong phú
về kiểu loại và uyển chuyển hơn, có vần nhịp hơn khi cần thiết và điều này đặc
biệt cần thiết khi chúng ta học và sử dụng một ngoại ngữ. Nhưng thực tế việc
diện ngữ nghĩa và ngữ dụng”.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án hướng đến mục đích:
- Nhằm phục vụ việc dạy và học tiếng Anh và tiếng Việt như một ngoại
ngữ, nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ cho người học.
- Phục vụ cho việc biên soạn từ điển giải thích, từ điển đối chiếu từ đồng
nghĩa và công tác biên phiên dịch giữa hai ngôn ngữ Anh -Việt.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nói trên, luận án sẽ thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Tổng quan tình hình nghiên cứu từ đồng nghĩa và đối chiếu từ đồng
nghĩa trên thế giới cũng như ở Việt Nam;
- Xác định những cơ sơ lí thuyết và phương pháp nghiên cứu liên quan
đến đề tài;
2
- Thu thập từ các cuốn từ điển đồng nghĩa tiếng Anh và tiếng Việt một số
dãy từ đồng nghĩa có các từ trung tâm của dãy có ý nghĩa tương đương
với nhau để làm ngữ liệu đại diện phục vụ cho việc nghiên cứu đối
chiếu;
- Đối chiếu các dãy từ đồng nghĩa đã được thu thập để chỉ ra những điểm
giống và khác nhau của chúng về phương diện ngữ nghĩa và ngữ dụng ;
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là các từ đồng nghĩa trong tiếng Anh
và tiếng Việt.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận án là phương diện ngữ nghĩa và ngữ dụng
của các từ đồng nghĩa tiếng Anh trong sự đối chiếu với tiếng Việt và chỉ nghiên
- Phương pháp so sánh - đối chiếu
Phương pháp này được sử dụng để đối chiếu các dãy từ đồng nghĩa
tương đương nhau về ý nghĩa giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt nhằm tìm ra
những nét tương đồng và khác biệt về ngữ nghĩa và ngữ dụng của chúng.
- Phương pháp miêu tả
Đây là phương pháp quan trọng để miêu tả hoạt động của các từ đồng
nghĩa trong ngữ cảnh sử dụng nhằm chỉ ra sự giống nhau và khác nhau về ngữ
nghĩa và ngữ dụng của chúng khi đối chiếu.
- Phương pháp phân tích thành tố nghĩa
Phương pháp phân tích thành tố nghĩa được sử dụng để phân tích cấu
trúc nghĩa của các từ đồng nghĩa nhằm xác định các nét nghĩa khu biệt của
chúng, từ đó có thể chỉ ra các nét nghĩa giống và khác nhau giữa chúng.
- Thủ pháp thống kê
Thủ pháp này được sử dụng để chỉ ra mức độ phổ biến qua số lượng, tần
số xuất hiện của các hiện tượng ngữ nghĩa và ngữ dụng của các từ đồng nghĩa
được đối chiếu trong tiếng Anh và tiếng Việt.
Ngoài ra chúng tôi còn áp dụng một số phương pháp nghiên cứu từ đồng
nghĩa do Nguyễn Đức Tồn đề xuất. Đó là:
4
- Thủ pháp dùng kết cấu đồng nhất “A là B”, đảo lại “B là A” để xác
định các đơn vị đồng nghĩa. Thủ pháp này được sử dụng để loại bỏ các từ
không đồng nghĩa với từ trung tâm của dãy đồng nghĩa nhưng lại được các
soạn giả đưa vào dãy đồng nghĩa, chẳng hạn, các từ chỉ cùng chủ đề với từ
trung tâm, như ao, hồ, đầm, ...
- Phương pháp xác lập ngữ cảnh trống để tìm sự khu biệt ngữ nghĩa của
các đơn vị đồng nghĩa;
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp được sử dụng để nghiên cứu trên
một số dãy đồng nghĩa đại diện trong tiếng Anh và tiếng Việt được chọn theo
thiết thực cho việc giảng dạy và học tập tiếng Anh trong nhà trường nói chung,
giúp người nước ngoài học tiếng Việt thuận lợi hơn nói riêng. Kết quả nghiên
cứu còn có thể được sử dụng để biên soạn từ điển giải thích, từ điển từ đồng
nghĩa và từ điển đối chiếu từ đồng nghĩa giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt; biên
soạn tài liệu giảng dạy biên dịch và phiên dịch giữa hai ngôn ngữ Anh và Việt.
7. Cơ cấu của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2 : Cơ sở lí luận liên quan đến đề tài của luận án
Chương 3: Đối chiếu từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt trên bình
diện ngữ nghĩa
Chương 4: Đối chiếu từ đồng nghĩa trong tiếng Anh và tiếng Việt trên bình
diện ngữ dụng.
6
Chương 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Dẫn nhập
Nghiên cứu từ đồng nghĩa là một lĩnh vực lí thú bởi nó không chỉ hàm
chứa cách suy nghĩ, những tư tưởng, tình cảm rất tinh tế của mỗi cộng đồng
dân tộc mà còn là nơi tàng trữ những kinh nghiệm sống được lưu truyền qua
nhiều thế hệ và có giá trị trường tồn cho mai sau. Các từ đồng nghĩa và kết cấu
ngữ pháp đồng nghĩa có ý nghĩa rất to lớn. Chúng giúp chúng ta biểu hiện được
tư tưởng, tình cảm của mình một cách chính xác hơn, có hình ảnh hơn, giàu sức
biểu cảm hơn. Các từ đồng nghĩa thuộc những phong cách ngôn ngữ khác nhau
là cực kì phong phú và đa dạng. Nếu chúng ta chọn lựa được chính xác một từ
nào đó trong một dãy đồng nghĩa hoặc chọn được đúng một kết cấu đồng nghĩa
nào đó thì khi đó chúng ta sẽ giải quyết tốt được nhiệm vụ diễn đạt chính xác
nghĩa hoàn toàn hoặc các từ gần nghĩa rồi giải thích nghĩa của từ trung tâm và
các từ trong nhóm, đồng thời có nêu sự khác nhau về sắc thái ý nghĩa của
chúng.
Thế kỉ XIX, ở Đức đã xuất bản những cuốn từ điển từ đồng nghĩa của J. B.
Mayer (1841) và của D. Saunde (1871). Đến thế kỉ XX cũng ở Đức đã có thêm
một số cuốn từ điển khác, chẳng hạn như các cuốn từ điển từ đồng nghĩa của J.
Eberhand (1910) và của Hoffman (1936). Cuốn từ điển từ đồng nghĩa của
Hoffman cỡ nhỏ, gồm 4.000 từ được xếp theo thứ tự chữ cái. Tác giả đã đưa
vào cuốn từ điển này các từ đồng nghĩa được quan niệm khá rộng, cụ thể là cả
những từ có ý nghĩa gần nhau nhưng khác nhau về cách sử dụng; hoặc những
từ khác nhau về nghĩa và cách sử dụng, nhưng được thống nhất theo cùng một
chủ đề.
Năm 1974, Herbent Gurner und G'unter Kempske đã xuất bản cuốn "Từ
điển từ đồng nghĩa" (Synonyms worte buch) dày 643 trang. Cuốn từ điển này
xác định từ đồng nghĩa theo nguyên tắc sau: chọn một từ làm từ chính của dãy
đồng nghĩa rồi dựa trên cơ sở các nghĩa khác nhau của nó mà đưa ra các từ
đồng nghĩa với từng ý nghĩa.
Như vậy, thành tựu chủ yếu về từ đồng nghĩa ở phương Tây là biên soạn
các từ điển từ đồng nghĩa. Các công trình nghiên cứu riêng về lí thuyết từ đồng
nghĩa chưa có nhiều.
8
Thành tựu nghiên cứu về lí thuyết từ đồng nghĩa và biên soạn các từ điển từ
đồng nghĩa nhiều nhất là ở nước Nga, đặc biệt là ở thời kì Xô viết.
Công trình đầu tiên ít nhiều đề cập đến vấn đề từ đồng nghĩa là cuốn "Từ
điển Nga Slavơ và tường giải các tên gọi" do P. Berưnđa biên soạn và được
xuất bản ở Kiép năm 1627. "Từ điển" này chỉ mới là thử nghiệm đầu tiên
nghiên cứu về các từ đồng nghĩa.
Năm 1783, D. I. Fônvizin xuất bản cuốn "Thử nghiệm từ điển từ đồng
Trong thời kì Xô viết, sự quan tâm tới vấn đề từ đồng nghĩa đã tăng lên đặc
biệt. Năm 1953 ở Svéclốp đã xuất bản cuốn khảo luận của V. K. Favôrin "Các
từ đồng nghĩa trong tiếng Nga". Khảo luận gồm có các phần sau đây:
1. Thành phần từ vựng và các từ đồng nghĩa;
2. Các từ đồng nghĩa chính xác;
3. Các từ đồng nghĩa thể loại;
4. Các từ đồng nghĩa biểu cảm;
5. Các từ uyển ngữ;
6. Những nhận xét bổ sung cho sự phân loại các từ đồng nghĩa.
Cơ sở phân loại của V. K. Favôrin là phân chia các từ đồng nghĩa thành
những từ đồng nghĩa thuộc cùng một đối tượng (ví dụ: sân bay-phi trường) và
những từ đồng nghĩa thuộc những đối tượng khác nhau (ví dụ: ao, hồ...; đánh,
đấm, đạp...; buồn, chán ...).
Khi tách ra các từ đồng nghĩa thuộc những đối tượng khác nhau với tư cách
là những từ biểu thị các khái niệm khác nhau nhưng gần gũi, V. K. Favôrin
không xác định rõ tiêu chí về mức độ gần gũi này là như thế nào.
Trong bài viết của A. B. Sapir "Một số vấn đề lí thuyết từ đồng nghĩa" ,
tác giả đã định nghĩa hiện tượng đồng nghĩa như một hệ thống và đặt ra hàng
loạt vấn đề: từ đồng nghĩa và thuật ngữ, hiện tượng đồng nghĩa và tính đa
nghĩa, kiểu từ đồng nghĩa từ vựng - ngữ pháp, dãy đồng nghĩa. Trong công
trình này A. B. Sapir đã có nhiều quan sát có giá trị về các sự kiện của tiếng
Nga hiện đại. (dẫn theo [66, tr.40]).
Năm 1956, ở Nga đã xuất bản cuốn "Từ điển giản yếu từ đồng nghĩa tiếng
Nga" của V. N. Kliueva (năm 1961 in lại lần thứ 2 có sửa đổi và bổ sung). Đây
là cuốn từ điển từ đồng nghĩa tiếng Nga đầu tiên rất tiện lợi đối với việc sử
dụng thực hành. Các từ được tập hợp thành các dãy đồng nghĩa dựa trên cơ sở
những nguyên tắc nhất định và có lập luận chặt chẽ.
Các từ đồng nghĩa được định nghĩa là các từ - khái niệm phản ánh bản
chất của cùng một hiện tượng của hiện thực khách quan, khu biệt bởi những
11
gồm có các phần: "Định nghĩa khái niệm từ đồng nghĩa"; "Vấn đề từ đồng
12
nghĩa trong sách ngôn ngữ học hiện nay". "Giải thích như thế nào về sự có mặt
các từ đồng nghĩa trong ngôn ngữ"; "Ý nghĩa của hiện tượng đồng nghĩa";
"Phải chăng tất cả các từ của ngôn ngữ đều có các từ đồng nghĩa?". "Những
nguồn gốc của hiện tượng đồng nghĩa"; "Dãy đồng nghĩa"; "Tính biến đổi lịch
sử của các dãy đồng nghĩa"; "Các từ điển đồng nghĩa"; "Sự sử dụng có tính
phong cách các từ đồng nghĩa và các từ đồng nghĩa có tính chất cá nhân - tác
giả". V. A. Sirôtina định nghĩa từ đồng nghĩa là các từ biểu thị theo cách khác
nhau cùng một hiện tượng của hiện thực khách quan. Tác giả đã chú ý nhiều
hơn tới những sự khác biệt của các từ đồng nghĩa. Trong một dãy từ đồng
nghĩa, tác giả tách ra hạt nhân chung của ý nghĩa cùng những sắc thái và thuộc
tính khác nhau không động chạm đến hạt nhân lô gích - sự vật tính của ý nghĩa
các từ đồng nghĩa riêng biệt. V. A. Sirôtina đã có nhận xét khá tinh tế rằng các
từ đồng nghĩa rất thường hay khác nhau đồng thời cả ở các phẩm chất cảm xúc
- biểu cảm, phong cách và cả ở các sắc thái ý nghĩa của chúng. Điều rất có giá
trị trong công trình của V. A. Sirôtina là bà không chỉ đưa ra định nghĩa dãy từ
đồng nghĩa mà còn xem xét các quá trình diễn ra trong dãy từ đồng nghĩa ở
bình diện phát triển lịch sử của ngôn ngữ. (Dẫn theo [66, tr.4748]).
Đặc biệt, năm 1974, Ju.D. Apresjan đã xuất bản công trình “Ngữ nghĩa từ
vựng (các phương tiện đồng nghĩa của ngôn ngữ)" (Nxb Khoa học, M.). Sau
đó công trình được tái bản có bổ sung vào năm 1995. Đây là một trong những
tác phẩm ngôn ngữ học đáng kể nhất của những năm 1970 đã trở thành “sách
giáo khoa ngữ nghĩa” đặc sắc trong suốt nhiều năm để mở đầu và làm cương
lĩnh cho các công trình nghiên cứu trong tương lai cho hàng loạt tập thể các nhà
ngôn ngữ học. Trong chuyên luận này, Ju.D. Apresjan đã đưa ra các yếu tố
ngôn ngữ ngữ nghĩa để miêu tả ý (smysl’) của các từ ngôn ngữ tự nhiên.Trên
cơ sở này ông đã miêu tả được các phương tiện đồng nghĩa của ngôn ngữ, trong
minh hoạ. Quan niệm của tác giả về từ đồng nghĩa như sau: "Là những từ có
cùng một ý nghĩa từ vựng, chỉ khác nhau về các sắc thái ý nghĩa, màu sắc biểu
cảm và tính chất sở thuộc một lớp phong cách nào đó của ngôn ngữ và chúng
có khả năng kết hợp trùng nhau dù chỉ là một phần, bởi vì chỉ trong trường hợp
này chúng mới có thể thay thế nhau trong các ngữ cảnh thực tế". Tác giả cũng
không coi các từ gắn bó với nhau theo quan hệ "loại - chủng" là những từ đồng
14
nghĩa. (Dẫn theo [66, tr.52-53]).
Các nghiên cứu về đồng nghĩa từ vựng ở Liên Xô trước đây cho phép quy
tất cả các định nghĩa về từ đồng nghĩa được đưa ra trong các công trình khoa
học vào hai loại:
- Loại 1. Định nghĩa các từ đồng nghĩa là những từ có âm khác nhau, gần
gũi nhưng không đồng nhất về ý nghĩa của chúng. Loại định nghĩa từ đồng
nghĩa này đã được đưa ra từ cuối thế kỉ XVIII và vẫn còn tồn tại cho đến ngày
nay.
-Loại 2. Định nghĩa từ đồng nghĩa là những từ biểu thị cùng một hiện
tượng của hiện thực khách quan, nhưng khác nhau về sắc thái ý nghĩa, thuộc
tính phong cách, v.v...
1.2.2 .Nghiên cứu về từ đồng nghĩa trong tiếng Anh
Ở Anh -Mỹ cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu và biên soạn từ điển từ
đồng nghĩa được xuất bản, trong đó có bàn về từ đồng nghĩa. Chẳng hạn, “Từ
điển từ đồng nghĩa” (Dictionary of Synonyms) của Webster được xuất bản ở
Mỹ năm 1984 quan niệm “từ đồng nghĩa là hai hoặc nhiều từ trong tiếng Anh
có nghĩa giống nhau hoặc nghĩa cơ bản rất gần giống nhau ... Thông thường các
từ đồng nghĩa phân biệt nhau bởi một ý nghĩa bổ sung, hoặc chúng có thể khác
nhau trong sự sử dụng thành ngữ hoặc trong cách chúng được sử dụng " [113,
tr. 24] .
Trong phần này, chúng tôi sẽ trình bày công trình của một số nhà ngôn
Cuối cùng, hai từ đồng nghĩa có thể khác nhau theo các giá trị xã hội
học, nghĩa là sự đồng hóa của một từ Mỹ vào tiếng Anh Anh có thể thay đổi
theo tuổi người sử dụng nó: ví dụ: thế hệ trẻ có nhiều khả năng sử dụng tiếng
Anh kiểu Mỹ, trong khi thế hệ lớn tuổi thích các từ ngữ truyền thống. Cũng
trong cùng một loại tiếng Anh, tức là tiếng Anh Mỹ, từ (gần) đồng nghĩa rất
nhiều. Von Schneidemesser (1980) [132, tr.74-76] đã chú ý đến
từ ví
(purse) và từ đồng nghĩa của nó, và bằng cách tham khảo từ điển của Mỹ trong
khu vực Anh và bằng cách phân tích bình luận thông tin về việc sử dụng các từ
đồng nghĩa như vậy, tác giả Von Schneidemesser thấy rằng purse - ví đồng
nghĩa với pocketbook - ví tiền, handbag - túi xách , wallet - ví, change purse ví đựng tiền lẻ và coin purse – ví đựng tiền xu dao động theo sự phân bố địa lý
của việc sử dụng chúng. Von Schneidemesser nhấn mạnh rằng các từ đồng
16
nghĩa trên được coi là
chuẩn mực và do đó chúng đã được dùng khắp
đất nước: đặc biệt là từ purse - ví được dùng thường xuyên hơn trên bờ biển
phía Tây và từ pocketbook – ví tiền thì lại được dùng trên bờ biển phía Đông,
trong khi từ handbag –túi xách được sử dụng thường xuyên hơn ở Maryland,
và việc sử dụng nó liên quan đến tuổi của người nói (phổ biến hơn ở người từ
sáu mươi tuổi trở lên). Wallet (ví) được sử dụng nhiều hơn ở California và khu
vực Đông Bắc của Liên bang, thông thường truyền tải ý nghĩa 'bưu phẩm bằng
da' (leather billfold); tuy nhiên, từ billfold - ví được một số người cung cấp
thông tin coi là thuật ngữ lâu đời nhất đề cập đến cái gì đó có thể được mang
bên trong pocketbook - ví tiền hoặc handbag –túi xách và chỉ trong một số
Turow “ Coi là vô tội”, how about (theo cách gì) được sử dụng trong100 trang
đầu tiên như là một thiết bị tạo kiểu để mô tả các phương pháp tiếp cận rập
khuôn xác định kẻ giết người thực sự, nhưng từ chương 23 trở đi, how about
(theo cách gì) được sử dụng để thực hiện yêu cầu và phát ngôn nhắc nhở. Vẫn
đối với những văn bản này, ông cũng nhấn mạnh những khó khăn gặp phải bởi
các dịch giả khi xây dựng các cấu trúc này bằng tiếng Đức. Vì vậy, Gottschlank
cho thấy chỉ đôi khi mới có thể nhận thấy sự chồng chéo trong cuộc đối thoại
và đưa ra nghĩa của các cụm từ và người nói ưa lựa chọn sử dụng what about
(cái gì) hơn là how about (theo cách gì) để truyền đạt sắc thái nghĩa khác nhau.
Church và các cộng sự (1994) [87, tr.1-35] đã nghiên cứu các từ đồng
nghĩa ask for (yêu cầu) và request (yêu cầu), họ so sánh bằng cách sử dụng
thesauri và corpora. Các tác giả tìm thấy một số sự khác biệt giữa các từ ngữ
này bằng cách xem chúng có thể được thay thế bằng động từ nào, các đối tượng
trực tiếp có thể lược bỏ và tần số xuất hiện của chúng. Với sự tham khảo các
động từ có thể thay thế, họ lên danh sách inquire (hỏi), demand (yêu cầu),
claim (khiếu nại), ask for (yêu cầu) và request (yêu cầu); hơn nữa, ask for (yêu
cầu) và request (yêu cầu) không chỉ có sự chồng chéo lớn đối với các đối tượng
trực tiếp, mà còn có sự chồng chéo đối với các sự phân bố đối tượng tương tự
và ý nghĩa; Cả hai đều đi kèm với danh từ hành động hoặc các trạng thái công
việc và một số ít các danh từ chỉ các đại lý hoặc cơ quan, con người; cuối
cùng, request (yêu cầu) được dùng thường xuyên hơn so với ask for (yêu cầu).
18
Atkins và Levin (1995) đã tham khảo ý kiến các tập đoàn điện tử và từ điển
tiếng Anh để phân tích các động từ diễn tả khái niệm về shaking (rung lắc), cụ
thể là quake (động đất ), quiver (rung), shake (lắc)), shiver (rùng mình),
shudder (rùng mình), tremble (run rẩy) và vibrate (rung động). Họ kiểm tra sự
sử dụng cú pháp các từ, nhận thấy những động từ thường được coi là không
liên quan, ví dụ: "Thang máy rung mạnh anh ta lên tới tầng thứ sáu"(An