Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức của bộ kế hoạch và đầu tư - Pdf 44

LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện khóa luận tốt nghiệp, em đã nhận được sự quan
tâm, giúp đỡ của các thầy, cô giáo và bạn bè trong và ngoài Học viện Hành
chính.
Trước tiên, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới Thạc sĩ
Phan Văn Nhự - người đã hướng dẫn tận tình đầy trách nhiệm để em có thể
hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp.
Em cũng xin chân thành cảm ơn :
Ban Lãnh đạo Học viện Hành chính ;
Các thầy, cô giáo tại khoa Tổ chức – Quản lý nhân sự đã giúp đỡ, tạo
điều kiện thuận lợi cho chúng em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp;
Các cô, các chú trong Vụ Tổ chức cán bộ- Bộ KH&ĐT đã tạo điều
kiện thuận lợi cho em có những tài liệu phục vụ cho khóa luận.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI.
Ở thời nào cũng vậy, chế độ xã hội nào cũng vậy, đất nước muốn đứng
vững và phát triển thì cần phải được xây dựng nên bởi những con người hết
sức trung thành, có trí tuệ và năng lực thực sự. Thời phong kiến đó là hệ
thống quan lại của triều đình; còn trong xã hội ngày nay, đó là đội ngũ công
chức-những người trực tiếp phục vụ cho chế độ. Đội ngũ công chức họ là
những người đại diện cho Nhà nước để xây dựng và thực thi các chủ trương,
chính sách và đồng thời là nhân tố có tính chất quyết định đối với sự phát
triển của mỗi quốc gia.
Việt Nam chúng ta đang trong thời kỳ đổi mới, huy động tất cả mọi tiềm
lực để đưa đất nước trở thành một nước có nền công nghiệp phát triển, đời
sống nhân dân được nâng cao, xã hội công bằng dân chủ văn minh đó là điều
mà chúng ta đang làm. Bên cạnh đó, chúng ta cũng luôn phải đề cao cảnh
giác, giữ vững mục tiêu XHCN. Chủ tịch Hồ CHí Minh đã từng nói “Muốn
xây dựng CHXH thì trước hết phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Như vậy,

Xuất phát từu những lý do trên, sau gần 2 tháng được thực thực tập tại
Bộ Kế hoạch và Đầu tư em đã chọn đề tai “ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CỦA BỘ KẾ HOẠCH VÀ ĐẦU TƯ ” làm đề
tài khóa luận của mình.
2. MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
2.1. Mục đích nghiên cứu:
3
Nghiên cứu nhằm: Tìm hiểu và Phân tích thực trạng chất lượng cuả đội
ngũ công chức từ đó tìm ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ
công chức cấp Bộ trong giai đoạn hiện nay và trong các giai đoạn sắp tới.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về công chức.
- Phân tích thực trạng chất lượng đội ngũ công chức của Bộ KH&ĐT
trong giai đoạn hiện nay.
- Để xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức cấp
Bộ nói chung và của Bộ KH&ĐT nói riêng.
2.3. Đối tượng nghiên cứu:
- Đội ngũ công chức Bộ KH&ĐT
- Văn bản quản lý nhà nước, báo cáo liên quan đến chất lượng đội ngũ
công chức cấp Bộ.
2.4. Phạm vi nghiên cứu:
-Do thời gian nghiên cứu có hạn nên khóa luận chỉ đề cấp đến những giải
pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức và giới hạn trong khối
quản lý nhà nước của Bộ KH&ĐT.
- Khóa luận chỉ tập trung phân tích số liệu và đánh giá số lượng, chất
lượng, cơ cấu của đội ngũ công chức làm việc tại Bộ KH&ĐT (không bao
gồm công chức làm việc tại địa phương)
- Và đề ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công chức cấp Bộ.
3. PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
3.1. Cơ sở lý luận:

niệm chung nào cho vấn đề này. Ở mỗi quốc gia khác nhau lại xem xét “công
vụ” giưới một góc độ khác nhau và ngay trong một nước thì mỗi thời kỳ lịch
sử khác nhau thì khái niệm “công vụ” cũng có những nét riêng. Ở nước ta
quan niệm về “công vụ” được nhìn nhận giưới những góc độ như sau:
Theo từ điển hành chính thì công vụ được hiểu như sau:
- Công : Nhà nước, vụ: công việc. Công vụ là công việc của nhà nước,
khi thi hành có sử dụng quyền lực nhà nước. CBCC chịu trách nhiệm trước
pháp luật về việc thi hành nhiệm vụ, công vụ của mình
Theo giáo trình Luật hành chính và tài phán hành chính Việt Nam
của Học viện hành chính Quốc gia năm 2004, thì công vụ được hiểu “
Công vụ là hoạt động mang tính nhà nước nhằm thực hiện các chức năng của
nhà nước, vì lợi ích xã hội, lợi ích nhà nước, lợi ích chính đáng của các tổ
chức, cá nhân. Hoạt động công vụ là hoạt động có tính tổ chức cao, được tiến
hành thường xuyên, liên tục theo trật tự do pháp luật quy định trên cơ sở sử
6
dụng quyền lực nhà nước và được bảo đảm bằng quyền lực của nhà nước.
Hoạt động công vụ chủ yếu do đội ngũ công chức chuyên nghiệp thực hiên “
Mới đây nhất thì Điều 2 của Luật CBCC năm 2008 có quy định: hoạt
động công vụ của CBCC được hiểu như là hoạt động của cán bộ, công chức là
việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức theo quy định của
Luật CBCC và các quy định khác có liên quan.
Như vậy, công vụ nhà nước có thể hiểu một cách đơn giản là một loại
hoạt đông của nhà nước mang tính tổ chức, quyền lực pháp lý cao và được
thực thi bởi đội ngũ công chức hay những người được nhà nước giao quyền.
Chúng ta có thể phân biệt công vụ với các hoạt động khác trong xã hội như:
sản xuất cuả cải vật chất, sáng tạo các giá trị tinh thần….
Tóm lại, Quan niệm về “công vụ” có thể chưa đồng nhất giữa các quốc
gia, ở những thời điểm khác nhau nó được xem xét giới những góc độ riêng
nhưng điểm chung nhất trong các quan niệm này là hoạt đông công vụ được
điều chỉnh bởi ý chí của nhà nước, gắn với quyền lực của nhà nước; mang

thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được
xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan nhà nước; mỗi
ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu
chuẩn riêng;
d, Thẩm phán Tòa án nhân dân, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân;
e, Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ
thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc quân đội nhân dân mà
không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm
việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc công an nhân dân mà không phải là sĩ
quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.
8
Do Pháp lệnh CBCC năm 1998 còn nhiều điểm bất cập, chưa rõ ràng
trong việc phân định các khái niệm công chức, cán bộ, và viên chức. Chưa có
những khái niệm độc lập, tách bạch nên Pháp lệnh CBCC đã được sửa đổi
năm 2000 và năm 2003.
Theo Nghị định 117/2003/NĐ-CP của Chính Phủ quy định về tuyển
dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà
nước thì có chỉ rõ đối tượng là công chức như sau: Công chức được điều
chỉnh theo Nghị định này là công dân Việt Nam trong biên chế và được
hưởng lương từ ngân sách Nhà nước được quy định tại điểm b, điểm c, điểm e
khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh CBCC làm việc trong các cơ quan nhà nước, lực
lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội sau đây gọi là công
chức:
- Văn phòng Quốc hội;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện;
- Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân các cấp;
- Đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân;
- Bộ máy giúp việc thuộc tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội ở
trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.

Theo từ điển Bách Khoa Việt Nam thì chất lượng là một phạm trù triết
học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, tính ổn định tương đối của
sự vật và phân biệt nó với sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của
sự vật. Chất lượng biểu thị ra ngoài qua các thuộc tính. Chất lượng của sự vật
bao giờ cũng gắn liền với tính quy định về số lượng của nó và không thể tồn
10
tại ngoài tính quy định ấy. Vì vậy, mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất
của chất lượng và số lượng.
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000:2000 định nghĩa về chất lượng là “Tập hợp các
đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) đó khả
năng thỏa nãm những yêu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn” . Theo đó thì chất
lượng có các đặc điểm sau:
- Mang tính chủ quan
- Không có chuẩn mực cụ thể
- Thay đổi theo thời gian, không gian và điều kiện sử dụng
- Không đồng nghĩa với “sự hoàn hảo”
Như vậy “chất lượng” ở đây gắn liền với sự thỏa mãn của khách hàng, vì
vậy nếu như sản phẩm hay dịch vụ nào không đáp ứng được yêu cầu của
khách hàng thì bị coi là kém chất lượng cho dù sản phẩm hay dịch vụ đó được
sản xuất bằng trình độ công nghệ cao.
3.1.1 Chất lượng sản phẩm
Điều 3 của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12
được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 2 thông qua vào ngày 21/11/1007 quy
định: “ Chất lượng sản phẩm hành hóa là mức độ của các đặc tính của sản
phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy
chuẩn kỹ thuật tương ứng”
3.1.2 Chất lượng dịch vụ
Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động
phía trước, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tương tác nhau. Khái
niệm “Dịch vụ” có mức độ vô hình cao bởi mục đích của nhà cung cấp dịch

Chất lượng của đội ngũ công chức phụ thuộc vào chất lượng của từng
thành viên công chức trong đội ngũ đó, và nó còn biểu hiện mối quan hệ phối
12
hợp, tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong công việc giữa họ. Mục đích của việc
đánh giá chất lượng của đội ngũ công chức là làm cơ sở để tiến hành các hoạt
động như luân chuyển, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, hay khen thưởng kỷ
luật…Như vậy, cần hết sức chú trọng đến công tác này trong hoạt động của
cơ quan nhà nước.
Chất lượng của công chức là một phạm trù khó định lượng bởi vậy đánh
giá chất lượng công chức là một điều hoàn toàn không đơn giản. Hoạt động
đánh giá con người vừa mang tính khoa học vừa đòi hỏi tính nghệ thuât; bởi
vậy đánh giá công chức đòi hỏi tính toàn diện và phải xem xét giưới nhiều
khía cạnh khác nhau. Cần phải có những tiêu chí đánh giá được lượng hóa
phù hợp, phương pháp đánh giá khách quan, khoa học có như vậy thì đánh giá
mới thực sự mang lại kết quả.
Chất lượng của đội ngũ công chức được phản ánh qua hệ thống các chỉ
tiêu : trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ ngoại ngữ tin học, trình độ
quản lý nhà nước….Ngoài các tiêu chí cứng đó ra thì còn có tiêu chí vè quá
trình hoạt động của công chức đó là mức độ dảm nhận và hoàn thành công
việc. Chất lượng công chức còn bao gồm cả yếu tố sức khỏe, kinh nghiệm
giải quyết công việc và phẩm chất đạo đức…
II. Bộ và công chức cấp Bộ
1. Bộ và vai trò của cấp Bộ trong hệ thống tổ chức hành chính nhà nước
1.1. Quan niệm chung về cấp Bộ
Điều 22 Luật Tổ chức Bộ máy nhà nước có quy định: “ Bộ, cơ quan
ngang Bộ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý đối với nhà
nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước; quản lý
nhà nước các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực; thực hiện đại diện chủ sở
hữu phần vốn của nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước theo quy định
của pháp luật “

tầm vĩ mô đòi hỏi công chức cấp Bộ phải có cái nhìn tổng quát và toàn diện ở
nhiều khía cạnh của vấn đề. Sản phẩm của họ là những chiến lược, quy hoạch,
14
kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội nói chung và của ngành, lĩnh vực mà mình
quản lý.
Họ tham mưu giúp chính phủ đưa ra các chính sách lớn hay mình đề ra
các quy định về lĩnh vực mà mình phụ trách đồng thời hướng dẫn cho cơ quan
cấp giưới thực hiện, tiến hành kiểm tra để đảm bảo cho việc thi hành được
thống nhất.
III. Một số tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ công chức
Có thể nói con người hay nguồn nhân lực chính là yếu tố quyết định đến
sự tồn tại và phát triển của mỗi tổ chức. Vì vậy đánh giá chất lượng của đội
ngũ những người lao động là nội dung hết sức quan trọng của công tác quản
lý nguồn nhân lực. Đánh giá chất lượng công chức là việc làm cần thiết, được
tiến hành một cách thường xuyên trong các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên để
cho công việc này được tiến hành một cách có hiệu quả thì phải xây dựng
được những tiêu chí đánh giá phù hợp.
Trong phạm vi khóa luận của mình em xin phép đưa ra 3 nhóm tiêu chí
cơ bản trong việc đánh giá chất lượng đội ngũ công chức nhà nước:
1. Nhóm tiêu chí về chuyên môn, nghiệp vụ
1.1. Trình độ học vấn
Có thể xem trình độ học vấn là mức độ tri thức của người công chức đạt
được thông qua hoạt động giáo dục. Giáo dục và đào tạo trong nhà trường
cung cấp cho con người những kiến thức cơ bản nhất, giúp họ hiểu được
những việc mình làm, lý giải được tại sao nên chọn cách làm này mà không
chọn cách làm khác.
Trình độ đào tạo hay nói cách khác là kết quả của quá trình đào tạo nhà
trường được thể hiện qua hệ thống các loại văn bằng chứng chỉ, bởi vậy đây
là một rong những căn cứ để đánh giá chất lượng công chức. tuy nhiên vấn
đề là không phải bao giờ văn bằng chứng chỉ cũng tương ứng với năng lực

16
Ngày nay khi mà xu thế hội nhập kinh tế quốc tế không chừa bất cứ một
quốc gia nào thì yêu cầu về trình độ ngoại ngữ cũng như tin học lại càng
được đề cao. Không riêng gì đội ngũ công chức mà bất cứ một người dân nào
cũng cần trang bị cho mình những kiến thức này. Ngoại ngữ và tin học là
những công cụ đắc lực giúp chúng ta tiếp cận với tri thức khoa học của nhân
loại, giúp chúng ta “đi tắt” “đón đầu ” như nghị quyết của Đảng đã đề ra.
Công chức và nhất là công chức cấp bộ cần phải có trình độ ngoại ngữ và tin
học phù hợp đủ để giải quyết các công việc một cách nhanh chóng.
2. Nhóm tiêu chí đánh giá chất lượng thực thi công vụ
2.1. Mức độ đảm nhận công việc
Mức độ đảm nhận công việc hay còn gọi là năng lực đảm nhận chức
trách, nhiệm vụ của công chức trên thực tế. Mỗi một công việc đều có những
yêu cầu nhất định, người công chức khi muốn hoàn thành tốt công việc của
mình thì phải đáp ứng được những yêu cầu đó. Tùy theo tính chất công việc
mà mức độ yêu cầu khác nhau và tương ứng với đó là những công chức khác
nhau sẽ có mức độ đảm nhận công việc khác nhau cho dù họ có cùng một
công việc như nhau.
2.2. Mức độ thực hiện công việc
Mức độ thực hiện công việc cho phép chúng ta đánh giá chất lượng thực tế
của công chức. Nếu như người công chức liên tiếp không hoàn thành được
công việc mà lỗi này không phải là do khách quan thì điêu đó có nghĩa là
công chức không đáp ứng được yêu cầu của công việc. Để tiến hành đánh giá
về mức độ thực hiện công việc của công chức trước hết các cơ quan nhà nước
phải tiến hành phân tích công việc và xây dựng được bản mô tả công việc.
Cần xây dựng được bản tiêu chuẩn hoàn thành công việc cho mỗi vị trí công
tác cụ thể từ đó đối chiếu xem xét cho từng trường hợp cụ thể.
2.3. Khả năng nhận thức và giải quyết các vấn đề phát sinh
17
Thực tế cho thấy người công chức khi tiến hành công việc của mình gặp

3.3. Kỹ năng thực hành
Kỹ năng thực hành là tiêu chí thể hiện tính chuyên nghiệp của công chức
khi thực thi công vụ. Muốn hoàn thành tốt công việc của mình công chức cần
phải trang bị những kỹ năng cần thiết. Đối với mỗi loại công việc khác nhau
cần những kỹ năng riêng, tựu chung lại có thể đưa ra những kỹ năng cơ bản
là: kỹ năng giao tiếp, kỹ năng truyền đạt, làm việc nhóm, kỹ năng lĩnh hội vấn
đề…
Đối với công chức làm việc trong cơ quan nhà nước ở trung ương thì kỹ
năng phân tích, tổng hợp và tư duy chiến lược là rất cần thiết. Công chức cấp
bộ cần phải có cái nhìn tổng quan và lâu dài. Điều này giúp cho họ có thể đưa
ra các chiến lược, kế hoạch , quy hoạch và dự án phát triển kinh tế xã hội. Các
kỹ năng này có thể được đào tạo tại các khóa học hay là tự bản thân công
chức rèn luyện mà có được.
3.4. Kinh nghiệm giải quyết công việc
Kinh nghiệm là những gì mà công chức đã tích lũy được trong quá trình
công tác của mình. Chính kinh nghiệm này giúp cho hiệu quả công việc tốt
hơn, công việc được giải quyết nhanh chóng hơn đồng thời góp phần hình
thành năng lực thực tiễn của công chức.
Ở một vài vị trí công tác thì đòi hởi công chức cần phải có một vài kinh
nghiệm nhất định mới có thể hoàn thành tốt công việc được. Kinh nghiệm phụ
thuộc vào thời gian công tác hay chính là thâm niên làm việc của công chức,
thế nhưng không hẳn là thời gian công tác tỷ lệ thuận với kinh nghiệm giải
quyết công việc. Kinh nghiệm công tác của công chức còn phụ thuộc vào khả
năng nhận thức, ghi nhớ và nhạy bén của công chức
19
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CỦA BỘ KẾ HOẠCH
VÀ ĐẦU TƯ.
I. Tổng quan về Bộ KH&ĐT và công chức của Bộ.
1. Khái quát về Bộ KH&ĐT

+ Đấu thầu, doanh nghiệp, đăng kí kinh doanh trong phạm vi cả nước.
- Quản lý nhà nước các dịch cụ công thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo
quy định của pháp luật.
1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ KH&ĐT
Bộ Kế hoạch và đầu tư có các nhiện vụ và kế hoạch sau đây:
- Soạn thảo trình Chính phủ, Thủ ướng Chính phủ các dự án luật, pháp
lệnh, các dự thảo văn bản Quy phạm pháp luật khác vê lĩnh vực kế hoạch và
đầu tư thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.
- Soạn thảo trình Chính phủ, Thủ ướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch
tổng thể, dự án kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, vùng lãnh
thổ, kế hoạch dái hạn, kế hoạch 5 năm và hàng năm và các cân đối chủ yếu
của nền kinh tế quốc dân, trong đó có:
+ Cân đối tài chính tiền tệ.
+ Vay, trả nợ nước ngoài, quốc gia.
+ Vốn đầu tư xây dựng cơ bản làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch tài
chính – ngân sách.
Tổ chức công bố chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã
hội của cả nước sau khi đã được phê duyệt.
21
- Ban hành các quyết định, chỉ thị, thông tư trong lĩnh vực kế hoạch và
đầu tư thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ.
- Chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm thực hiện:
+ Các văn bản Quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch sau
khi được phê duyệt và các văn bản pháp luật khác thuộc phạm vi quản lý của
Bộ.
+ Thông tin tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về các lĩnh vực
thuộc phạm vi quản lý của Bộ.
- Về quy hoạch, kế hoạch:
+ Bộ Kế hoạch và đầu tư có nhiện vụ trình Chính phủ chương trình hành
động thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội đã được Quốc hội thông

đạo hoạt động đối với các tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ.
- Quản lý nhà nước đối với hoạt động của hội, tổ chức phi chính phủ,
trong các lĩnh vực kế hoạch và đầu tư thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo quy
địng của pháp luật.
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, chống than nhũng, tiêu
cực và xử lý các vi phạm pháp luật trong các lĩnh vực kế hoạch và đầu tư
thuộc thẩm quyền của Bộ.
- Quyết định av chỉ đạo thực hiện chương trình cải cách hành chính của
bộ theo mục tiêu và nội dung, chương trình cải cách hành chính nhà nước đã
được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
- Quản lý về tổ chức bộ máy, biên chế; chỉ đạo thực hiện chế độ tiền
lương và chế dộ chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỉ luật đối với cán bộ, công
chức, viên chức nhà nước thuộc bộ quản lý; đào tạo bồi dưỡng về chuyên
23
môn, nghiệp vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức trong các lĩnh vực thuộc
phạm vi quản lý của bộ.
- Quan lý tài chính, tài sản được giao và tổ chức thực hiện ngân sách
được phân bổ theo quy định của pháp luật.
1.3. Cơ cấu tổ chức của Bộ KH&ĐT
Điều 3 Nghị định 116/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008 của Chính phủ đã
nêu rõ cơ cấu tổ chức của Bộ KH&ĐT bao gồm các đơn vị sau:
1. Vụ Tổng hợp kinh tế quốc dân.
2. Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ.
3. Vụ Tài chính, tiền tệ.
4. Vụ Kinh tế công nghiệp.
5. Vụ Kinh tế nông nghiệp.
6. Vụ Kinh tế dịch vụ.
7. Vụ Kết cấu hạ tầng và đô thị.
8. Vụ Quản lý các khu kinh tế.
9. Vụ Giám sát và Thẩm định đầu tư.

định thành lập cơ quan mới (Tổng cục thống kê)
Dưới phạm vi đề tài cảu mình em xin được trình bày thực trạng đội ngũ
công chức tại các Cục, Vụ chuyên môn của Bộ KH&ĐT
25

Trích đoạn Hoàn thiện quy trình tuyển dụng Xây dựng môi trường làm việc mang tính cạnh tranh trong các cơ quan hành chính nhà nước. Hoàn thiện chế độ đãi ngộ đối với công chức.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status