BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI
NGŨ CÔNG CHỨC PHÒNG GIÁO DỤC- ĐÀO TẠO
TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGHỆ AN - 2014
TRẦN KHÁNH THỤC
i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO
TẠO TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn: PGS.TS Đinh Xuân Khoa
NGHỆ AN - 2014
TRẦN KHÁNH THỤC
ii
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu đề tài và viết luận văn tôi đã
nhận được sự hướng dẫn, quan tâm, giúp đỡ, chỉ bảo nhiệt tình của quý thầy
cô trường Đại học Vinh.
Với tình cảm chân thành tôi xin cảm ơn BGH, các thầy cô giáo khoa
Sau đại học, phòng Quản lí khoa học, Khoa Giáo dục - Trường Đại học Vinh,
các cán bộ và giảng viên đã tham gia quản lí, giảng dạy và giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình học tập, nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Phó giáo sư - Tiến sĩ Đinh
Bảng số 2.9: Bảng khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các giải pháp
luận văn đưa ra 79
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng số 2.1: Bảng tổng hợp số lượng cán bộ, công chức hành hành chính nhà
nước cấp tỉnh, tỉnh Nghệ An theo giới tính: (đơn vị tính: người) 32
Bảng số 2.2: Bảng tổng hợp số lượng cán bộ, công chức hành hành chính nhà
nước cấp tỉnh, tỉnh Nghệ An theo độ tuổi (đơn vị tính: người) 33
Bảng số 2.3: Bảng tổng hợp số lượng công chức PGDĐT tỉnh Nghệ An theo
ngạch công chức 34
Bảng số 2.4: Bảng tổng hợp trình độ đào tạo chuyên môn nghiệp vụ của công
chức PGDĐT tỉnh Nghệ An. Đơn vị tính: (người) 37
Bảng số 2. 5: Bảng tổng hợp trình độ lý luận chính trị của công chức PGDĐT
tỉnh Nghệ an (đơn vị tính: người) 39
Bảng số 2.6: Bảng tổng hợp trình độ quản lý hành chính nhà nước công chức
PGDĐT tỉnh Nghệ An 40
Bảng số 2.7: Bảng tổng hợp trình độ tin học của công chức PGDĐT tỉnh
Nghệ An 42
Bảng số 2.8: Bảng tổng hợp trình độ ngoại ngữ của công chức PGDĐT tỉnh
Nghệ An 43
Bảng số 2.9: Bảng khảo sát mức độ cần thiết và tính khả thi của các giải pháp
luận văn đưa ra 79
v
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI đã đề ra mục tiêu, đến năm 2020
nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để đạt được
mục tiêu đó, chúng ta phải vượt qua nhiều khó khăn lớn mà một trong số đó là
sự thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH
đất nước. Sự thiếu hụt đó không chỉ là khó khăn của giai đoạn hiện tại mà cả
chức phòng giáo dục và đào tạo, tỉnh Nghệ An.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ công chức phòng giáo dục và đào
tạo trong giai đoạn hiện nay.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức phòng giáo
dục và đào tạo, tỉnh Nghệ An.
4. Giả thuyết khoa học
Nếu áp dụng đồng bộ hệ thống giải pháp của chúng tôi đề xuất thì chất
lượng đội ngũ công chức Phòng giáo dục Đào tạo ở Nghệ An sẽ được nâng
cao góp phần phá triển giáo dục và đào tạo.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ
công chức phòng giáo dục và đào tạo.
5.2. Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ
công chức phòng giáo dục và đào tạo tỉnh Nghệ An.
2
5.3. Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức
phòng giáo dục và đào tạo tỉnh Nghệ An.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1. Nh>m phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin lý luận để xây dựng
cơ sở lý luận của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận có các
phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp tài liệu
- Phương pháp khái quát hóa các nhận định độc lập.
6.2. Nh>m phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Nhóm phương pháp này nhằm thu thập các thông tin thực tiễn để xây
dựng cơ sở thực tiễn của đề tài. Thuộc nhóm phương pháp nghiên cứu thực
- Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ
công chức phòng giáo dục và đào tạo
- Chương 2: Cơ sở thực tiễn của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ
công chức phòng giáo dục và đào tạo tỉnh Nghệ An.
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ công chức
phòng giáo dục và đào tạo tỉnh Nghệ An.
4
Chương 1
Cơ sở lý luận của vấn đề nâng cao chất lượng đội ngũ công chức phòng
giáo dục và đào tạo
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài
Quản lý nhân sự trong lĩnh vực công trên thế giới được nhiều công trình
nghiên cứu đề cập tới như:
Tác giả George Bardwell “Tuyển dụng công chức ở Vương Quốc Anh”,
theo đó cách tuyển dụng công chức ở nước Anh được dựa trên các nguyên tắc
cạnh tranh công bằng, công khai, chống phân biệt đối xử; tuyển dụng dựa trên
bằng cấp và phải qua các trung tâm đánh giá kiểm định độc lập; các thông tin
tuyển dụng được công khai rộng rãi. Đặc biệt là thông qua các trung tâm đánh
giá độc lập, không bị sức ép từ bất kỳ cơ quan hành chính nhà nước nào….
Pháp là một quốc gia có nền hành chính lâu đời và vững mạnh. Quản lý
nhân sự của Pháp đến nay đã đạt đến trình độ cao, đặc biệt với vai trò là thành
viên quan trọng trong liên minh Châu Âu, Cộng Hòa Pháp luôn xây dựng cho
mình một hệ thống hành chính vững mạnh trong đó yêu cầu đội ngũ công
chức có trình độ, chuyên nghiệp và có phẩm chất đạo đức tốt. Việc tuyển
dụng công chức Pháp không chỉ giới hạn là công dân Pháp mà còn thu hút
thống, tác giả đã đưa ra những đánh giá sát thực về tình hình cán bộ nước
ta hiện nay, đề xuất những giải pháp cụ thể, có tính khả thi để góp phần
kiện toàn, nâng cao chất lượng cán bộ, công chức các cấp.
“Luận chứng khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
6
trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, là đề tài cấp
nhà nước do GS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm làm chủ
nhiệm. Đề tài này có ý nghĩa rất quan trọng. Trên cơ sở các quan điểm lý
luận, tổng kết thực tiễn và kế thừa kết quả của nhiều công trình đi trước, các
tác giả đã phân tích, lý giải, hệ thống hoá các căn cứ khoa học của việc nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ. Từ đó, đưa ra hệ thống các quan điểm, phương
hướng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, trong đó có đội
ngũ công chức hành chính nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế trong
những thập niên đầu của thế kỷ XXI;
TS. Ngô Thành Can- Học viện Hành chính, Học viện Chính trị -Hành
chính quốc gia Hồ Chí Minh có bài viết cải cách đào tạo bồi dưỡng cán bộ
công chức. Tác giả đã đánh giá toàn diện, trung thực về thực trạng đào tạo bồi
dưỡng cán bộ, công chức của Việt Nam hiện nay, tập trung phân tích để chỉ ra
những điểm mạnh điểm yếu trong công tác đào tạo cán bộ công chức trên các
lĩnh vực hệ thống các quy định về đào tạo bồi dưỡng, nội dung, hình thức,
phương pháp, hiệu quả, chất lượng. Ngoài ra tác giả còn tham khảo về kinh
nghiệm đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức của một số nước từ đó đề xuất
những giải pháp, định hướng manh tính đồng bộ, có tính khả thi cao.
Đề tài: "Năng lực, hiệu quả, hiệu lực quản lý hành chính nhà nước; thực
trạng, nguyên nhân và giải pháp” của Ban chỉ đạo cải cách hành chính Chính
phủ. Đề tài này đã tập trung nghiên cứu về hiệu lực, hiệu quả quản lý Hành
chính nhà nước (HCNN), trong đó đặt công chức HCNN trong mối quan hệ
với việc nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý HCNN;
Tác giả Trần Anh Tuấn - Nguyên Vụ trưởng vụ công chức viên chức,
8
chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo dục; tiêu chuẩn cơ sở vật
chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và cấp văn bằng,
chứng chỉ; bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tạo.
Phòng Giáo dục và Đào tạo có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài
khoản riêng; chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và nhiệm vụ công
tác của UBND cấp huyện; đồng thời chịu sự hướng dẫn, kiểm tra về chuyên
môn, nghiệp vụ của Sở Giáo dục và Đào tạo.
Phòng Giáo dục và Đào tạo thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu như sau:
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan trình UBND cấp huyện
dự thảo các văn bản hướng dẫn thực hiện cơ chế chính sách, pháp luật, các
quy định của UBND cấp tỉnh về hoạt động giáo dục trên địa bàn; dự thảo
quyết định, chỉ thị, quy hoạch, kế hoạch 05 năm, hàng năm và chương trình,
nội dung cải cách hành chính nhà nước về lĩnh vực giáo dục trên địa bàn;dự
thảo quy hoạch mạng lưới các trường trung học cơ sở, trường phổ thông có
nhiều cấp học, trong đó không có cấp học trung học phổ thông; trường phổ
thông dân tộc bán trú; trường tiểu học; trường mầm non, nhà trẻ, nhóm trẻ,
trường, lớp mẫu giáo, không bao gồm nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục
(gọi chung là cơ sở giáo dục mầm non) và trung tâm học tập cộng đồng trên
địa bàn theo hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo và UBND cấp huyện.
Chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan trình Chủ tịch UBND
cấp huyện: Dự thảo các quyết định thành lập (đối với các cơ sở giáo dục công
lập), cho phép thành lập (đối với các cơ sở giáo dục ngoài công lập), sáp
nhập, chia, tách, giải thể các cơ sở giáo dục (bao gồm cả các cơ sở giáo dục
có sự đầu tư của các tổ chức, cá nhân nước ngoài): trường trung học cơ sở;
trường phổ thông có nhiều cấp học, trong đó không có cấp học trung học phổ
thông; trường phổ thông dân tộc bán trú; trường tiểu học; cơ sở giáo dục mầm
9
non; trung tâm học tập cộng đồng; các cơ sở giáo dục có tên gọi khác (nếu có)
thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyện.
đồng quản trị, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các cơ sở giáo dục ngoài công lập
thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyện theo quy định của pháp luật
và ủy quyền của UBND cấp huyện.
Hướng dẫn các cơ sở giáo dục xây dựng, lập dự toán ngân sách giáo
dục hàng năm; tổng hợp ngân sách giáo dục hàng năm để cơ quan tài chính
cùng cấp trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; quyết định giao dự toán chi
ngân sách giáo dục cho các cơ sở giáo dục khi được cơ quan có thẩm quyền
phê duyệt; phối hợp với Phòng Tài chính - Kế hoạch xác định, cân đối ngân
sách nhà nước chi cho giáo dục hàng năm của địa phương, trình cơ quan có
thẩm quyền phê duyệt; hướng dẫn, kiểm tra việc sử dụng ngân sách nhà nước
và các nguồn thu hợp pháp khác cho giáo dục đối với các cơ sở giáo dục
thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyện.
Phối hợp với Phòng Nội vụ, Phòng Tài chính - Kế hoạch giúp UBND
cấp huyện kiểm tra, thanh tra thực hiện việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
các cơ sở giáo dục công lập thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyện.
Thực hiện cải cách hành chính, công tác thực hành, tiết kiệm, phòng
chống tham nhũng, lãng phí; công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại,
tố cáo, kiến nghị có liên quan đến giáo dục và xử lý vi phạm theo quy định
của pháp luật.
Thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo định kỳ và hàng năm,
báo cáo đột xuất về tổ chức và hoạt động giáo dục theo hướng dẫn của Sở
Giáo dục và Đào tạo và UBND cấp huyện.
11
Quản lý tài chính, tài sản, cơ sở vật chất được giao theo quy định của
pháp luật và của UBND cấp huyện; thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch
UBND cấp huyện giao.
1.2.2. Công chức và đội ngũ công chức phòng giáo dục và đào tạo
Vào khoảng giữa những năm nửa cuối thế kỷ XIX, tại nhiều nước
Phương Tây đã thực hiện chế độ công chức và xuất hiện thuật ngữ này.
Đến nay hầu hết các nước trên thế giới đều sử dụng khái niệm công chức
nhiệm quán triệt, chấp hành chính sách và pháp luật”.[31, tr.268].
Hàn Quốc và Nhật Bản chia công chức thành 2 loại chính gồm công
chức nhà nước và công chức địa phương.
Tại Việt Nam chúng ta, khái niệm công chức lần đầu tiên được quy
định tại Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 do Chủ tịch Hồ Chí
Minh ký ban hành. Tại Điều 1, mục 1 công chức được định nghĩa “ Là công
dân Việt Nam, được chính quyền nhân dân tuyển dụng để giữ một vị trí
thường xuyên trong các cơ quan của Chính phủ ở trong hay ngoài nước”. Tuy
nhiên, Sắc lệnh này ra đời trong điều kiện chiến tranh. Do đó, những nội dung
quy định tại văn bản này không được thực hiện đầy đủ và không được áp
dụng rộng rãi.
Văn bản luật quan trọng được quy định về công chức phải kể đến đó là
Pháp lệnh cán bộ công chức được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành ngày
26-12-1998. Pháp lệnh gồm 7 chương và 48 điều. Sau đó đã được sửa đổi, bổ
sung, phù hợp với điều kiện phát triển của nền hành chính. Lần thứ nhất sửa
đổi vào ngày 28-4-2000 và lần thứ 2 sửa vào ngày 29-4-2003).
Thực hiện đường lối hội nhập và phát triển và yêu cầu hoàn thiện hệ
thống văn bản Luật. Đến năm 2008, Quốc hội thông qua “Luật cán bộ, công
13
chức”. Năm 2008, Luật cán bộ, công chức đã được ban hành. Tại Luật này
công chức được quy định là những đối tượng sau:
- Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào
ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân
chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an
nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ
máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản
Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị
sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước;
Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính
hoặc tương đương;
Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc
tương đương;
Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương
đương và ngạch nhân viên.
Căn cứ vào vị trí công tác, công chức được phân loại:
Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý;
Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
1.2.3. Chất lượng và chất lượng đội ngũ công chức phòng giáo dục và
đào tạo
Theo triết học, chất lượng biểu thị những thuộc tính bản chất của sự
vật, chỉ rõ nó là cái gì làm cho nó chính là nó và phân biệt với những cái khác.
Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, nó biểu hiện bên ngoài qua các
15
thuộc tính. Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó sự
vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật. Sự
vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó. Sự
thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi cả sự vật về căn bản. Chất lượng của
sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính qui định về số lượng của nó và không
thể tồn tại ngoài tính qui định ấy. Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất
của chất lượng và số lượng.
Từ điển Bách khoa Việt Nam quy định: “Chất lượng, phạm trù triết học
biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định
tương đối của sự vật, phân biệt hóa với các sự vật khác. Chất lượng là đặc
tính khách quan của sự vật. Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc
tính. Nó liên kết các thuộc tính của sự vật lại là một, gắn bó sự vật như một
tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không thể tách khỏi sự vật. Sự vật trong
khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó. Sự thay đổi
chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản.
ngũ công chức.
+ Chất lượng người công chức là tổng hợp các yếu tố: Phẩm chất chính
trị đạo đức, trình độ đào tạo, kỹ năng chuyên môn của người công chức.
+ Cơ cấu của đội ngũ công chức PGDĐT gồm các yếu tố: Độ tuổi, giới
tính, dân tộc, tôn giáo, ngach, bậc, trình độ đào tạo, Các yếu tố cơ cấu hợp lý
hay không hợp lý có ảnh hưởng đến chất lượng đội ngũ công chức PGDĐT vì
vậy sẽ ảnh hưởng quyết định đến chất lượng hoạt động của PGDĐT và chính
quyền cấp cấp huyện.
17
1.2.4. Giải pháp và giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công
chức phòng giáo dục và đào tạo
Theo đại Từ điển Tiếng Việt thì “giải pháp” nghĩa là: Cách giải quyết một
vấn đề; tìm giải pháp cho từng vấn đề. [24,tr. 727].
Giải pháp là phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó, là cách
thức tác động nhằm thay đổi, chuyển biến một hệ thống, một quá trình, một
trạng thái nhất định, nhằm đạt được mục đích. Giải pháp càng thích hợp, càng
tối ưu, giúp giải quyết nhanh chóng những vấn đề đặt ra. Nhưng để có các
giải pháp tốt phải xuất phát trên những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn tin
cậy.
Như vậy giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức
PGDĐT là những cách thức, phương pháp nhằm thay đổi chất lượng theo
chiều hướng đi lên bao gồm chất lượng của từng công chức và của cơ cấu.
Hay nói cách khác nâng cao chất lượng công chức PGDĐT là các hoạt động
của cơ quan tổ chức quản lý và sử dụng công chức sử dụng các biện pháp
trong công tác cán bộ làm cho chất lượng công chức nâng lên một mức mới
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
- Chủ thể có trách nhiệm tiến hành việc nâng cao chất lượng đội ngũ
công chức PGDĐT ở Nghệ An là:
+ Cấp ủy các cấp từ tỉnh đến huyện có trách nhiệm lãnh đạo việc xây
dựng chất lượng đội ngũ công chức PGDĐT.
Hiện nay công chức Phòng Giáo dục Đào tạo chưa có quy định về tiêu
chuẩn riêng. Tiêu chuẩn công chức ngành Giáo dục Đào tạo áp dụng theo tiêu
19
chuẩn ngạch của công chức hành chính nhà nước được quy định tại Quyết
định số 414/TTCP-CV ngày 29/5/1993 của Ban Tổ chức cán bộ chính phủ
nay là Bộ Nội vụ. Theo Quyết định này công chức PGDĐT giữ ngạch công
chức nào thì phải đáp ứng tiêu chuẩn ngạch công chức đó (bao gồm các
ngạch: Chuyên viên cao cấp, chuyên viên chính, chuyên viên, cán sự).
Nâng cao chất lượng Phòng Giáo dục và Đào tạo bao gồm các nội dung
cơ bản sau:
1.3.2.1. Tuyển dụng
Tuyển dụng là quá trình tuyển dụng những người phù hợp và đáp ứng
được yêu cầu vị trí công việc cụ thể. Việc tuyển dụng công chức PGDĐT
đúng người, đáp ứng yêu cầu công việc là một trong những khâu quan trọng
đối với hoạt động của cơ quan PGDĐT hiện nay. Tuyển dụng là khâu ban
đầu, quan trọng, quyết định tới chất lượng của đội ngũ công chức PGDĐT,
Tuyển dụng tốt đồng nghĩa với việc lựa chọn được những người thực sự
có năng lực, có phẩm chất đạo đức tốt để bổ sung cho lực lượng công chức
của PGDĐT. Ngược lại, nếu việc tuyển dụng không được quan tâm đúng mức
sẽ không lựa chọn được những người có đủ năng lực và phẩm chất đạo đức
tốt bổ sung cho lực lượng này.
Tuy nhiên, việc tuyển dụng công chức PGDĐT dù bằng bất kỳ hình
thức nào thì cũng phải tuân thủ và đảm bảo các nguyên tắc sau:
Một là, tuyển dụng công chức PGDĐT phải căn cứ vào nhu cầu, yêu
cầu của vị trí việc làm của cơ quan, đơn vị. Tiêu chuẩn quan trọng nhất khi
tuyển dụng công chức là phải đáp ứng được yêu cầu của công việc.
Hai là, tuyển dụng công chức phải đảm bảo tính dân chủ, khách quan và
chính xác, tuân thủ những quy định của Nhà nước và phù hợp với định hướng
của Đảng; lựa chọn được những người đủ tiêu chuẩn, năng lực và phẩm chất
vào những vị trí nhất định của bộ máy hành chính nhà nước. Để thực hiện