Khoá luận tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thị Mai Ngân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Dịch hại (sâu bệnh, cỏ dại, chuột v.v...) luôn là đối tượng gây cản trở hoạt
động sản xuất nông nghiệp, chúng không chỉ làm giảm năng suất, chất lượng
sản phẩm mà còn làm tăng chi phí sản xuất do các hoạt động phòng trừ mang
lại. Cùng với việc áp dụng hàng loạt các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông
nghiệp đặc biệt là cuộc cách mạng về giống và phân bón, sản xuất nông
nghiệp ở nước ta trong những năm gần đây đã đạt được nhiều thành tựu to
lớn. Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, chúng ta đã vươn lên trở thành nước
xuất khẩu hàng đầu thế giới về lúa gạo, cà phê, điều v.v…Tuy nhiên, một
nghịch lý đang đặt ra cho sản xuất nông nghiệp nước ta đó là đi đôi với việc
tăng năng suất, vấn đề chất lượng sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm
đang trở nên cấp bách và được cả xã hội quan tâm. Do trình độ sản xuất còn
hạn chế, chưa làm chủ được các công nghệ tiên tiến trong nông nghiệp cũng
như công tác tổ chức sản xuất còn nhiều điểm bất hợp lý, nên chất lượng sản
phẩm của chúng ta còn thấp, khó giám sát chất lượng và đặc biệt còn bị nhiễm
bẩn bởi dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV), nitrat, vi sinh vật hay các
kim loại nặng, trong đó rau đang là sản phẩm được cả xã hội quan tâm.
Mặc dù cho đến nay đã có nhiều chương trình quản lý dịch hại tổng hợp
(IPM) được ứng dụng, song hiệu quả của các biện pháp phối hợp vẫn rất hạn
chế và đôi khi tính khả thi không thực sự cao đối với nông dân khi triển khai
trên diện rộng. Để đối phó với sâu, bệnh hại và bảo vệ sản xuất, nông dân hiện
chủ yếu vẫn dựa vào các thuốc hoá học. Việc sử dụng lâu dài các thuốc hoá
học đã gây nên tính kháng của sâu hại đối với thuốc, làm cho hiệu quả phòng
trừ giảm, do đó nông dân phải tăng dần nồng độ, lượng thuốc dùng và sử dụng
các thuốc có độ độc cao. Trong khi đó, các quy trình sử dụng an toàn và hiệu
quả thuốc BVTV còn thiếu tính thực tiễn, đòi hỏi khả năng vận dụng cao,
nông sản an toàn phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước cũng như xuất
khẩu. Để góp phần đẩy nhanh việc ứng dụng các thuốc trừ sâu sinh học vào
sản xuất, đáp ứng nhu cầu sản phẩm an toàn trong nông nghiệp, chúng tôi tiến
hành thực hiện đề tài: “Đánh giá thực trạng sử dụng các thuốc trừ sâu sinh
học và nghiên cứu định hướng sử dụng thuốc trừ sâu sinh học trong sản
xuất rau ăn quả an toàn tại Hà Nội ”
K10 – Công nghệ Sinh học
2
Khoá luận tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thị Mai Ngân
2. Mục tiêu đề tài
Mục tiêu chung: Xác định được thực trạng sử dụng và các yếu tố cản trở về
mặt kỹ thuật, kinh tế, xã hội của việc ứng dụng các thuốc trừ sâu sinh học
trong sản xuất rau an toàn, từ đó đề xuất được phạm vi và định hướng ứng
dụng chúng trong sản xuất rau an toàn tại Hà Nội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu: Các sản phẩm trừ sâu sinh học hiện có trong
nước (kể cả sản phẩm phát triển trong nước và sản phẩm nhập nội đã được
đăng ký sử dụng ở Việt Nam).
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Địa bàn: Hà Nội, Hà Nam và Vĩnh Phúc.
- Cây trồng: Trên đối tượng cây rau.
K10 – Công nghệ Sinh học
[23] [24]. Hiện trạng dư thuốc BVTV trong rau trong cả nước gần đây đáng lo
ngại (Viện BVTV, trung tâm kiểm định thuốc BVTV phía Bắc) [25]. Vì vậy
việc hạn chế sử dụng thuốc hoá học trong sản xuất rau hiện nay là vấn đề cấp
thiết. Trong việc hạn chế sử dụng thuốc hoá học trên cây trồng đã có nhiều
công trình nghiên cứu như [25] [23] [24]… Để giảm thiểu sử dụng thuốc hoá
K10 – Công nghệ Sinh học
4
Khoá luận tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thị Mai Ngân
học BVTV trong nông nghiệp, một trong những hướng đi của ngành BVTV là
nghiên cứu sản xuất và sử dụng các chế phẩm sinh học, thảo mộc có thể thay
thế thuốc hoá học phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng, an toàn với người, sinh
vật có ích và môi trường. Các chế phẩm sinh học BVTV được sử dụng rộng
rãi sẽ góp phần tích cực vào chiến lược quản lý dịch hại tổng hợp trong nền
nông nghiệp đa dạng hiện đại và bền vững. Trong những năm qua, các chế
phẩm sinh học đã chứng minh được những ưu điểm nổi bật đó là có khả năng
phòng trừ dịch hại cao, thân thiện với môi trường và sức khoẻ con người.
Tuy nhiên, các thuốc trừ sâu sinh học đều được sản xuất từ các cơ thể sống
hay sản phẩm của chúng, do đó để chúng có thể phát huy được hiệu lực cần
phải có những điều kiện sinh thái phù hợp. Do đó, các thuốc sinh học thường
chỉ phát huy được hiệu quả trong những phạm vi nhất định về điều kiện thời
tiết, khí hậu, giai đoạn sinh trưởng cây trồng, đối tượng sâu hại cũng như mật
độ và giai đoạn phát dục của chúng. Bên cạnh đó cũng có hàng loạt các yếu tố
khác như giá thành, kỹ thuật sử dụng, nhận thức và thói quen của nông dân có
thể ảnh hưởng tới quá trình xâm nhập của các thuốc trừ sâu sinh học vào sản
trừ sâu sinh học. Trong 10 năm qua, Viện Bảo Vệ Thực Vật đã được Bộ Nông
Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn, Bộ Khoa Học và Công Nghệ giao chủ trì để
phối hợp với nhiều cơ quan và Bộ nghành khác nhau để nghiên cứu, phát triển
và ứng dụng các sản phẩm công nghệ sinh học. Trong giai đoạn này đã thu
được một số sản phẩm khoa học nổi bật sau:
1. Đã thu thập hàng nghàn mẫu vi sinh vật từ các nguồn trong nước, phân
lập được trên 500 chủng bổ xung vào các nguồn trong nước và nhập nội đã có
từ các giai đoạn trước. Thiết lập được 21 bộ mẫu vi sinh vật, trong đó có
nhiều chủng có hoạt lực cao với sâu bệnh, bảo quản lưu giữ làm nguồn giống
gốc để sản xuất các chế phẩm sinh học BVTV.
2. Hoàn thiện 13 quy trình công nghệ và xây dựng được 8 pilot sản xuất các
chế phẩm sinh học BVTV, trong đó có 2 quy trình công nghệ và 1 pilot sản
xuất chế phẩm NPV, NPV-Bt, trừ sâu hại rau màu; 4 quy trình công nghệ và 2
pilot sản xuất các chế phẩm Bt(Bacillus thuringiensis) trừ sâu hại cây trồng; 4
quy trình công nghệ và 2 pilot sản xuất các chế phẩm nấm côn trùng
Beauveria & Metarhizium trừ sâu hại cây trồng; quy trình công nghệ và pilot
sản xuất chế phẩm tuyến trùng có ích Biostar trừ sâu hại cây trồng; quy trình
công nghệ và pilot sản xuất chế phẩm hóa sinh Momosertatin trừ sâu hại rau.
K10 – Công nghệ Sinh học
6
Khoá luận tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thị Mai Ngân
Các chế phẩm được sản xuất đã tiến hành đánh giá hiệu quả với sâu bệnh
hại và cung cấp cho các địa phương thuộc vùng dự án sử dụng trong hệ thống
SV: Nguyễn Thị Mai Ngân
Theo Nguyễn Thị Nhung (2000) [18] các chế phẩm sinh học và thảo mộc
được đánh giá có hiệu lực đối một số loại sâu hại trên cây đậu ăn quả. Chế
phẩm Defil WG, Dipel 3.2 WP, Xentari 35 WDG dùng để phòng trừ sâu đục
quả đậu. Chế phẩm Vertimex 1.8EC dùng để phòng trừ sâu đục lá có hiệu quả
cao. Chế phẩm thảo mộc Artoxid (dạng dịch chiết cây thanh hao) có hiệu lực
cao với dệp đậu màu đen.
Tuy còn nhiều hạn chế về phạm vi ứng dụng, kỹ thuật sử dụng, giá thành
v.v…song các thuốc trừ sâu sinh học cũng có khá nhiều ưu điểm:
- Thuốc trừ sâu sinh học thuận tiện cho người sử dụng, giảm chi phí bảo
quản và vận chuyện, không gây độc cho người sử dụng, không làm bẩn nông
sản và gây ô nhiễm môi trường.
- Sử dụng thuốc trừ sâu sinh học trên rau có thể có thể phát huy hiệu quả
khá dài do nguồn vi sinh vật được nhân lên trên đồng ruộng, do đó đã làm
giảm đáng kể số lần phun thuốc. Tuy chi phí cho một lần phun có cao hơn
nhưng tổng chi phí thuốc BVTV sẽ giảm hơn thuốc hóa học.
Ưu điểm nổi bật của việc sử dụng thuốc trừ sâu sinh học là tạo điều kiện
thuận lợi cho việc cho việc giám sát chất lượng nông sản, giảm đáng kể chi
phí phân tích dư lượng thuốc BVTV, do đó thận lợi cho tổ chức sản xuất và
giám sát chất lượng nông sản an toàn.
1.2.2. Một số tác nhân sinh học và chế phẩm chủ yếu được sử dụng trong BVTV
1.2.2.1. Vi rút và chế phẩm của vi rút
Trên thế giới vi rút gây hại đối với sâu hại được phát hiện đầu tiên trên sâu
non sâu xanh ở miền nam Châu Phi năm 1891 (Maleg 1891 – 1892) nhưng
mãi đến năm 1936 mới xác định được nguyên nhân bệnh sau một thời gian dài
có nhiều tác giả đã nghiên cứu và xác định bệnh này ( Swcest wan 1936,
Stakler 1939, Coaker 1935, Stcimans 1949, 1957…)
Kể từ năm 1987 đến nay, ở nước ta cũng đã có khá nhiều công trình
nghiên cứu vi rút để trừ sâu hại cây trồng. Viện bảo vệ thực vật đã nghiên cứu
sử dụng vi rút sâu đo xanh (Anomis flava) để trừ sâu đo xanh hại cây đay tại
Hải Hưng. Nghiên cứu sử dụng vi rút sâu xanh (Heliothis armigera) trừ sâu
xanh hại bông tại Trung tâm Bông Nha Hố - Ninh Thuận (1991-1992), nghiên
K10 – Công nghệ Sinh học
9
Khoá luận tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thị Mai Ngân
cứu sử dụng vi rút của sâu khoang (Spodoptere litura) trừ sâu khoang trên đậu
đỗ, trên rau.
Ở trong nước cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu để sản xuất ra các
chế phẩm sinh học để phòng trừ sâu hại từ virus. Trần Đình Phả và CTV [9],
đã đưa ra quy trình sản xuất thuốc trừ sâu sinh học ViHa, ViS 1, V-Bt là hỗn
hợp của virus NPV và vi khuẩn Bt.
Nguyễn Văn Tuất và CTV đã nghiên cứu đưa ra quy trình sản xuất các
loại chế phẩm NPV, V-Bt dạng bột đưa vào phòng trừ một số loại sâu tơ hại
rau.
1.2.2.2. Vi khuẩn và chế phẩm vi khuẩn :
Từ năm 1968, Taylor đã công bố vi khuẩn Bacillus thuringiensis berl.có
triển vọng dùng để phòng trừ sâu đục quả đậu Maruca vitrata ở Nigeria (dẫn
theo Waterhouse và CTV, 1987) [5]. Karel và CTV (1986) cũng kết luận vi
khuẩn Bt có khả năng trừ sâu đục quả đậu. Ở Tanzania đã dùng chế phẩm Bt
trừ sâu M.Vitrata trên đậu cô ve có hiệu quả (Karel,1984). [19]
và ứng dụng rộng rãi nhất. Người ta dùng nấm Trichoderma thí nghiệm trong
nhà luới, nhà kính để trừ nấm cho cà chua, dưa chuột, ớt, cải tím, rau diếp …Trong
một số trường hợp hiệu lực của nấm Trichoderma khá cao (Sesan et al,1995).
Nấm này có thể bảo vệ cà chua không bị thối thân do Sclerotium rolfssi gây ra
trong nhà lưới ở Thái Lan (Deema et al, 1990). [15]
Tuy nhiên khi sử dụng trên đồng ruộng ở nhiều nước lại cho thấy hiệu quả
của nấm Trichoderma có sự thay đổi. Có những trường hợp hiệu quả rất cao,
nhưng cũng có trường hợp hiệu quả thấp thậm chí không có hiệu quả. Nấm
Trichoderma viride làm giảm đáng kể tỷ lệ bệnh thán thư do C.truncatum trên
đậu đũa ở Nigeria (Bankole et al, 1996). Ở Ấn Độ, nấm T.viride có thể ức chế
sự phát triển của bệnh R.solani gây ra trên khoai tây, hiệu quả ức chế tối đa là
83,4% (Sing at al,1991). Nấm T.viride có khả năng bảo vệ hoàn toàn cà chua
không bị thối thân do S.rolfssi gây ra. Cây sống sót ở nơi sử lý nấm T.viride
đạt 100%, còn đối chứng chỉ đạt 61,9% (Deema et al, 1991) [21].
Sử dụng nấm Trichoderma có tác dụng làm tăng năng suất cây trồng, làm
cây trồng khỏe hơn, tăng sức đề kháng với vi sinh vật gây bệnh, kích thích
sinh trưởng đối với các cây trồng (Buimisatru, 1979; chet, 1990; Elad et
al,1980; Jarosik et al, 1996; Kohl et al, 1990; Udaidullavev et al, 1979; Wu,
1996).
K10 – Công nghệ Sinh học
11
Khoá luận tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thị Mai Ngân
Theo Seiketov, 1982 khi sử dụng Trichoderma, năng suất cà rốt có thể tăng
Khoá luận tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thị Mai Ngân
Ở nước ta, Viện bảo vệ thực vật và các viện nghiên cứu khác như Viện KH
Nông nghiệp Việt Nam hay Trường ĐH Cần Thơ đã nghiên cứu và sản xuất
thành công sản phẩm Trichoderma để trừ nhiều đối tượng bệnh hại đặc biệt là
bệnh lở cổ rễ cây con trên rau, bệnh khô vằn hại lúa, ngô.v.v…Qua kết quả
cho thấy, hiệu quả trừ bệnh của Trichoderma khá cao song đôi khi hiệu lực
trên đồng ruộng cũng thiếu ổn định.
1.2.2.3.2.Nấm gây bệnh côn trùng
Theo Phạm Thị Thùy và Ngô Tự Thành(2005)[10], nấm Metarhizium
flavoviride có tác dụng diệt 3 loài sâu hại rau là sâu tơ (Plutella xylostella),
sâu xanh bướm trắng (Pieris rapae), sâu khoang (Spodoptera litura). Cũng
theo Phạm Thị Thùy (2004) [12], nấm bột Nomuraea rileyi diệt trừ được các
loài sâu xanh, sâu khoang và một số loại sâu hại rau khác với tỷ lệ khá cao .
Hiện nay ở trong nước, Viện Bảo vệ thực vật đã nghiên cứu và sử dụng
thành công nấm Bạch cương Beauveria bassiana và nấm lục cương
Metarhizium anisopliae để phòng trừ nhiều đối tượng sâu bệnh hại bộ cánh
vẩy(sâu tơ, sâu xanh, sâu khoang ), cánh cứng (sung hại gốc )hay cánh thẳng
(châu chấu) .v.v…
Theo các nhà khoa học, những bào tử nấm Bạch cương dính vào côn trùng,
gặp điều kiện thích hợp sẽ nảy mầm và mọc thành sợi nấm đâm xuyên qua vỏ
kitin phát triển ngay trong cơ thể côn trùng, côn trùng phải huy động hết các
tế bào bạch huyết (lympho-cyte) để chống đỡ, nấm bạch cương đã sử dụng
độc tố Boverixin, proteaza và một số chất khác làm cho tế bào bạch huyết của
sâu không chống đỡ nổi nên lần lượt bị hủy diệt, côn trùng bị chết, cơ thể côn
trùng bị cứng lại là do các sợi nấm đan xen lại với nhau. Còn khi nấm lục
cương Metarhizium anisopliae bám lên cơ thể côn trùng trong khi gặp các
vai trò ký sinh và mang theo vi khuẩn cộng sinh vào trong cơ thể côn trùng, vi
khuẩn đóng vai trò sản sinh độc tố để gây bệnh và giết chết côn trùng.
1.2.2.7. Các thuốc thảo mộc trừ sâu hại
Hiện nay, việc sử dụng các thuốc thảo mộc trong phòng trừ sâu hại đã trở
thành xu hướng phổ biến trong sản xuất. Các nước trên thế giới đã nghiên cứu
và sản xuất thành công nhiều sản phẩm thảo mộc trừ sâu như Rotenon chiết
xuất từ cây Deris; Altermisia chiết xuất từ cây thanh hao hoa vàng,
K10 – Công nghệ Sinh học
14
Khoá luận tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thị Mai Ngân
Azadrachtin chiết xuất từ cây xoan Ấn Độ, Metrin chiết xuất từ cây khổ
sâm .v.v….
Là một nước nhiệt đới, thành phần cây độc ở nước ta khá phong phú. Theo
Nguyễn Duy Trang và CTV (1996) thì hiện nước ta có tới 53 loài cây độc có
thể khai thác sử dụng làm thuốc thảo mộc trừ sâu hại, trong đó có nhiều loài
cây độc có độc tính cao, dễ trồng và khai thác nguyên liệu do đó có tiềm năng
lớn trong khai thác và sử dụng phát triển thuốc thảo mộc. Trong số đó có các
cây dây mật; cây thanh hao; cây củ đậu; cây xoan Ấn Độ (Neem); cây thuốc
lá;cây trẩu; cây sở .v.v…
Hiện nay Viện Bảo vệ thực vật và Trung tâm KH Tự nhiên và công nghệ
Quốc gia đã nghiên cứu sản xuất thành công nhiều sản phẩm thảo mộc từ các
loài cây độc trên và sử dụng có hiệu quả cao để trừ sâu hại trên rau như các
sản phẩm từ hạt Neem, từ cây dây mật hay hạt củ đậu. v.v…Để trừ sâu đục
là chúng ta chưa có được quy trình ứng dụng và phối hợp đồng bộ giữa các
sản phẩm sinh học với nhau cũng như kết hợp giữa các thuốc sinh học với
thuốc hóa học ít độc hại. Các quy trình ứng dụng cho đến nay mới chỉ đề cập
chung hoặc riêng lẻ cho từng loại thuốc. Bên cạnh đó, các nguyên nhân về
kinh tế như giá thành sản phẩm đầu ra và đầu vào cũng khiến người dân phải
tính toán kỹ lưỡng trước khi ứng dụng các thuốc trừ sâu sinh học.
K10 – Công nghệ Sinh học
16
Khoá luận tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thị Mai Ngân
CHƯƠNG 2
VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1.1. Địa điểm thực hiện đề tài
- Tại một số tỉnh trồng rau ở đồng bằng sông Hồng như Hà Nội, Vĩnh
Phúc,H và Hà Nam.
2.2.2.Vật liệu nghiên cứu
- Thí nghiệm được tiến hành trên đối tượng rau ăn quả chính là đậu đũa
và cà chua.
- Các dụng cụ nghiên cứu trong phòng: ống nghiệm, hộp nhựa, hộp Petri,
chậu vại, dụng cụ thử thuốc, bình phun thuốc …
- Các loại chế phẩm trừ sâu sinh học trong thí nghiệm.
2.2. NỘI DUNG ĐỀ TÀI
1- Điều tra thực trạng việc ứng dụng các thuốc trừ sâu sinh học trong sản xuất
2.3.1.2. Đánh giá và lựa chọn 1 số thuốc trừ sâu sinh học mới để ứng dụng
trong sản xuất rau ăn quả an toàn
Tiến hành thí nghiệm trình diễn trên diện rộng để đánh giá ảnh hưởng đến
sinh trưởng cây trồng sau khi phun và hiệu lực của các chế phẩm trừ sâu sinh
học mới đối với dòi đục lá cà chua (Liriomyza sativae Blanch) và sâu đục quả
đậu đũa (Maruca vitrata).
Địa điểm triển khai: Các thí nghiệm được tiến hành tại Vân Nội- Đông
Anh- Hà Nội trong vụ Đông 2006 và vụ Xuân 2007.
2.3.1.2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
- Thí nghiệm được tiến hành trên quy mô diện rộng, không nhắc lại. Quy
mô thí nghiệm từ 300 – 500 m2/ ô.
- Các sản phẩm được sử dụng là sản phẩm thương mại đại diện cho các
hoạt chất trừ sâu mới bắt đầu được đăng ký sử dụng ở Việt Nam.
+ Hoạt chất Abamectin: Là sản phẩm được chiết suất từ độc tố của nấm
Steptomyces avermitilis tồn tại trong đất. Hợp chất này chứa 80% avermectin
B1a và 20% avermectin B1b. Đây là hoạt chất được sử dụng trừ sâu và nhện
hại.
Sản phẩm đại diện được sử dụng trong nghiên cứu là: Binhtox 1.8EC,
Binhtox 3.6 EC và Binhtox 4.2 EC.
K10 – Công nghệ Sinh học
18
Khoá luận tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thị Mai Ngân
+ Hoạt chất Emamectin benzoate: Là 1 hỗn hợp có chứa 8 – 9% Benzoate
19
Khoá luận tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thị Mai Ngân
Ca là mật độ sâu sống ở công thức đối chứng trước phun
Cb là mật độ sâu sống ở công thức đối chứng sau phun
* Phương pháp điều tra
Mỗi ô điều tra 20 điểm ngẫu nhiên, mỗi điểm 1 cây cố định, trên cây lấy 4
lá tính từ lá thứ 3 từ ngọn trở xuống. Tính tổng số lá hại và số lá điều tra, sau
đó phân cấp hại theo phương pháp sau :
Cấp 1: Không có vết hại, diện tích lá bị hại = 0
Cấp 2: Vết hại ít, rải rác, lẻ tẻ, diện tích lá bị hại từ 1- 10%
Cấp 3: Vết hại nhiều, lá chưa bị biến dạng, diện tích lá bị hại từ 11-30%
Cấp 4: Vết hại nhiều, lá biến dạng, diện tích lá bị hại từ 31- 50%
Cấp 5: Lá khô, nhăn nheo, co dúm lại, diện tích lá bị hại từ 51% trở lên
Xử lý số liệu:
Tỷ lệ lá bị hại được xác định theo công thức:
Số lá bị hại
Tỷ lệ lá bị hại(%) = -----------------------------------x 100
Tổng số lá điều tra
Chỉ số lá hại được xác định theo công thức:
5n5 + 4n4 + 3n3 + 2n2 + 1n1
Chỉ số lá bị hại = ------------------------------------- x 100
5N
Trong đó: n5 là số lá bị hại ở cấp 5
n4 là số lá bị hại ở cấp 4
n3 là số lá bị hại ở cấp 3
mô hình với quy mô diện tích là 0,5ha.
* Chỉ tiêu và phương pháp đánh giá:
+ Hiệu quả trừ sâu hại của các thuốc thí nghiệm: Được xác định thông qua
hiệu quả trừ dịch hại ở từng mô hình.
+ Hiệu quả kinh tế: Xác định chi phí sản xuất và thu nhập ở các mô hình
+ Hiệu quả về mặt môi trường: Xác định dư lượng các thuốc hóa học (nếu
có) trong nông sản.
2.3.2. Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thí nghiệm được xử lý theo phương pháp thống kê trong nông
nghiệp của Gomez.K.A và Gomez (1983). Các bước xử lý số liệu được thực
hiện trong chương trình IRRISTAT.EXCEL trên máy tính. [3]
K10 – Công nghệ Sinh học
21
Khoá luận tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thị Mai Ngân
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Kết quả điều tra thực trạng sử dụng thuốc trừ sâu sinh học trong sản
xuất rau
Sâu bệnh hại là nguyên nhân quan trọng, đồng thời cũng là khó khăn lớn
nhất để tăng năng suất và chất lượng của các loại rau ở nước ta. Những tác hại
do sâu bệnh đã gây hại nặng ở tất cả các vùng và các vụ mùa trồng rau, làm
giảm năng suất từ 10- 46,5%.
Qua thực tế điều tra ở trên 6 tỉnh Hà Nội, Hà Nam, Hà Tây, Hải Dương,
khăn trong công tác phòng trừ
( Số liệu điều tra tại Hà Nội, Hà Nam và Vĩnh Phúc 12/2006)
STT
1
2
3
Loại sâu hại
Bắp cải
Bọ nhảy Phyllotreta
++
Spodoptera litura Fabr.
Sâu tơ Plutella
xylostella (L.)
Đậu
++
++
-
++
++
-
++
-
++
++
++
++
+
+
-
-
-
+++
5
Rệp Brevicoryne
brassicae (L.)
Dòi đục lá
6
Lyriomyza sativae
Blanch
7
Bọ phấn Bemisia
myricae Kuw
Sâu xanh đục quả
8
cà chua
-
-
-
++
9
+ gây nhẹ
K10 – Công nghệ Sinh học
++ gây hại trung bình
+++ gây hại nặng
24
Khoá luận tốt nghiệp
SV: Nguyễn Thị Mai Ngân
Hiện nay để phòng trừ các đối tượng sâu gây hại trên cây rau việc sủ
dụng thuốc bảo vệ thực vật là điều tất yếu và cần thiết trong việc hạn chế
sâu bệnh gây thiệt hại cho mùa màng và tăng hiệu quả kinh tế. Bảng 3.2 là
kết quả điều tra tại địa phương là Hà Nội, Hà Nam, Hải Dương, Hà Tây,
Hải Phòng và Vĩnh Phúc chỉ ra các loại thuốc trừ sâu hoá học và thuốc trừ
sâu sinh học đang được nhân dân trồng rau sử dụng phổ biến hiện nay.
Bảng 3.2 Các thuốc trừ sâu đang được nhân dân các vùng trồng rau sử
dụng (Số liệu điều tra tại Hà Nội, Hà Nam và Vĩnh Phúc 12/ 2006)
Tên cây trồng
Rau thập tự
(Cải xanh, cải ngọt,
xu hào, bắp cải, xúp
lơ, cải ngồng…)
Rau ăn quả (đậu
Tập kỳ
Lộc Sơn
Soka
Sokupi
V-BT
Kuraba
Abamectin
Sokupi
Kuraba
Kasuran
25