Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2015 - 2016
****************************************************************
I. Điều kiện hoàn cảnh tạo ra sáng kiến:
Đảng ta đã xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát
triển xã hội. Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, cần phải có những người lao động mới phát triển toàn diện, do vậy cần
phải đổi mới giáo dục nói chung và đổi mới giáo dục phổ thông nói riêng.
Nhiệm vụ đổi mới giáo dục đã được thể hiện rõ trong các Nghị quyết của Đảng
và Quốc hội, trong Luật Giáo dục:
Mục tiêu giáo dục phổ thông đã chuyển từ chủ yếu là trang bị kiến thức cho
HS sang trang bị những năng lực cần thiết cho các em, đặc biệt là năng lực hành
động, năng lực thực tiễn. Phương pháp giáo dục phổ thông cũng đã được đổi
mới theo hướng “ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS;
phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự
học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào
thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.
Giáo dục kĩ năng sống (KNS) cho HS, với bản chất là hình thành và phát
triển cho các em khả năng làm chủ bản thân, khả năng ứng xử phù hợp với
những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống
của cuộc sống - rõ ràng là phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông, nhằm thực
hiện mục tiêu giáo dục phổ thông. Phương pháp giáo dục KNS, với các phương
pháp và kĩ thuật tích cực như: hoạt động nhóm, giải quyết vấn đề, nghiên cứu
trường hợp điển hình, đóng vai, trò chơi, dự án, tranh luận, động não, hỏi
chuyên gia, viết tích cực,... cũng là phù hợp với định hướng về đổi mới phương
pháp dạy học ở trường phổ thông.
Địa lí là môn học cung cấp cho HS những hiểu biết cả về tự nhiên và xã
hội. Vì vậy, việc giáo dục KNS trong môn Địa lí là hết sức cần thiết, nhằm giúp
HS có những kĩ năng hành động, ứng xử phù hợp với môi trường tự nhiên, với
thành cho các em khả năng thích ứng, biết cách ứng phó trước những tình huống
khó khăn và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thức tế cuộc sống của các
em, định hướng cho quá trình phát triển nhận thức và hành động của học sinh.
Vì vậy, khi dạy học địa lí nói chung và kiến thức địa lí địa phương nói riêng
giáo viên có nhiều cơ hội để kết hợp các kĩ năng sống cần thiết để giáo dục học
sinh, phù hợp với yêu cầu để có hiệu quả cao nhất. Việc sử dụng phương pháp
dạy học tích cực như phương pháp dạy học theo nhóm, phương pháp giải quyết
vấn đề,... tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các kĩ năng giao tiếp, làm
chủ bản thân, kĩ năng giải quyết vấn đề,... của học sinh. Từ đó tôi lựa chọn sáng
kiến “Tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong giảng dạy địa lí địa phương”.
II. Mô tả giải pháp kĩ thuật
II.1. Mô tả giải pháp kĩ thuật trước khi tạo ra sáng kiến
II.1.1. Mục đích, nhiệm vụ của sáng kiến
II.1.1.a. Mục đích
Trong môn Địa lí với đặc điểm về nội dung và PPDH đặc trưng sẽ góp phần vào
việc giáo dục các KNS, tập trung vào các kĩ năng nòng cốt với giáo dục phổ
thông Việt Nam như:
- Tự nhận thức: Thể hiện sự tự tin khi được trình bày ý tưởng của cá nhân
trước bạn bè, thầy cô; có nghị lực để hoàn thành các nhiệm vụ được giao… Xác
định giá trị bản thân thể hiện ở thái độ đồng tình hay phản đối trước những hành
động, hành vi tiêu cực như hành động phá hoại môi trường,…
MAI THỊ MINH THU – Giáo viên Trường THCS Lí Tự Trọng
2
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2015 - 2016
các tiết học Địa lí theo yêu cầu và nhiệm vụ mà GV giao sẽ tạo điều kiện cho HS
rèn kĩ năng đặt mục tiêu cho từng hoạt động, ví dụ phân tích lược đồ để nhận xét
sự phân bố của một số đối tượng địa lí. Tham gia hoạt động nhóm, mỗi HS nhận
nhiệm vụ theo sự phân công và việc hoàn thành nhiệm vụ sẽ luyện tập cho các
em khả năng chịu trách nhiệm (đảm nhận trách nhiệm) với công việc được giao.
Biết cân nhắc công việc và tính toán thời gian để hoàn tất nhiệm vụ, qua đó các
MAI THỊ MINH THU – Giáo viên Trường THCS Lí Tự Trọng
3
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2015 - 2016
****************************************************************
em có được kĩ năng lập kế hoạch và quản lí thời gian. Làm việc hợp tác trong
nhóm, HS sẽ trao đổi, tranh luận,…với nhau, trong bối cảnh đó HS phải biết
kiểm soát cảm xúc, giữ bình tĩnh, biết cách ứng phó với căng thẳng, tránh gây
mâu thuẫn.
Vận dụng cơ sở lí luận về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh vào giảng
dạy phần địa lí địa phương trong chương trình môn địa lí lớp 9 từ đó phát huy
được nhận thức đúng đắn của học sinh đối với việc học tập và cuộc sống. Làm
cho công việc giảng dạy của giáo viên cũng như việc học của học sinh không
còn gò bó trong việc giáo viên truyền thụ kiến thức, học sinh thụ động tiếp thu,
mà học sinh sẽ chủ động nắm bắt kiến thức, từ đó có hứng thú học tập, yêu thích
môn học hơn.
II.1.1.b. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích trên, sáng kiến tập trung giải quyết một số
nhiệm vụ sau:
HS đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định là một trong năm nội dung của
phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực” trong các
trường phổ thông giai đoạn 2008- 2013.
Thực tế cho thấy có nhiều quan niệm khác nhau về KNS :
• Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), KNS là khả năng để có hành vi thích
ứng (adaptive) và tích cực (positive), giúp các cá nhân có thể ứng xử hiệu quả
trước các nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày
• Theo Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), KNS là cách tiếp cận giúp
thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng
về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng.
• Theo Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO),
KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết (Learning to know) gồm
các kĩ năng tư duy như: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải
quyết vấn đề, nhận thức được hậu quả,…; Học làm người (Learning to be) gồm
các kĩ năng cá nhân như: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận
thức, tự tin,…; Học để sống với người khác (learning to live together) gồm các
kĩ năng xã hội như: giao tiếp, thương lượng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc
theo nhóm, thể hiện sự cảm thông; Học để làm (Learning to do) gồm kĩ năng
thực hiện công việc và các nhiệm vụ như: kĩ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách
nhiệm,…
Phân tích các quan niệm trên cho thấy: Quan niệm của WHO nhấn mạnh đến
khả năng của cá nhân có thể duy trì trạng thái tinh thần và biết thích nghi tích
cực khi tương tác với người khác và với môi trường của mình. Quan niệm này
mang tính khái quát nhưng chưa thể hiện được ngay các kĩ năng cụ thể, mặc dù
khi phân tích sâu thì thấy tương đối gần với nội hàm KNS theo quan niệm của
UNESCO. Quan niệm của UNESCO là quan niệm rất chi tiết, cụ thể, có nhấn
mạnh thêm kĩ năng thực hiện công việc và nhiệm vụ. Còn quan niệm của
UNICEF nhấn mạnh rằng kĩ năng không hình thành và tồn tại một cách độc lập
mà trong mối tương tác mật thiết và có sự cân bằng với kiến thức và thái độ. Kĩ
năng mà một người có được một phần lớn cũng nhờ có được kiến thức (ví dụ:
trình học tập, lĩnh hội và rèn luyện trong cuộc sống. Quá trình hình thành KNS
diễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục.
• KNS vừa mang tính cá nhân, vừa mang tính xã hội. KNS mang tính cá
nhân vì đó là khả năng của cá nhân. KNS mang tính XH vì KNS phụ thuộc vào
các giai đoạn phát triển lịch sử xã hội, chịu ảnh hưởng của truyền thống và văn
hóa của gia đình, cộng đồng, dân tộc.
Trong giáo dục chính quy ở nước ta những năm vừa qua, KNS thường được
phân loại theo các mối quan hệ, bao gồm các nhóm sau:
a. Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các KNS
cụ thể như: tự nhận thức, xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự
hỗ trợ, tự trọng, tự tin, ...
b. Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với người khác, bao gồm các KNS
cụ thể như: giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối,
bày tỏ sự cảm thông, hợp tác,...
c. Nhóm các kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả, bao gồm các
KNS cụ thể như: tìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo,
ra quyết định, giải quyết vấn đề,...
MAI THỊ MINH THU – Giáo viên Trường THCS Lí Tự Trọng
6
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2015 - 2016
****************************************************************
II.1.2.b. Cơ sở thực tiễn
Giáo dục KNS càng trở nên cấp thiết đối với thế hệ trẻ, bởi vì:
năng tiếp thu các nguồn kiến thức đa dạng với khối lượng tương đối lớn, cũng
như khả năng tư duy của các em sẽ tốt hơn trước. Học sinh cũng bắt đầu có ý
MAI THỊ MINH THU – Giáo viên Trường THCS Lí Tự Trọng
7
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2015 - 2016
****************************************************************
thức về tương lai và trách nhiệm của bản thân với gia đình, xã hội, định hình về
hôn nhân và kế hoạch hóa gia đình. Việc học tập trong trường trung học cơ sở là
một bước quan trọng trong đời sống của trẻ. Ở các lớp dưới trẻ học về các hiện
tượng, sự kiện, hiểu những mối quan hệ cụ thể và đơn giản giữa các sự vật và
hiện tượng đó. Ở trường trung học cơ sở việc học tập của các em phức tạp hơn,
chuyển sang nghiên cứu có hệ thống của các khoa học, các em học tập có phân
môn, mỗi môn học gồm những khái niệm, những quy luật được sắp xếp thành
một hệ thống tương đối sâu sắc, điều đó đòi hỏi các em phải tự giác và độc lập
cao. Như vậy, có thể nói rằng, về mặt tâm sinh lí, học sinh lớp 9 trung học cơ sở
có tương đối đủ điều kiện cần thiết để nhận biết được các vấn đề xảy ra trong
cuộc sống từ đó có những hướng giải quyết tích cực với định hướng của gia
đình, nhà trường và xã hội.
Thái độ học tập của học sinh cũng tăng lên rõ rệt, thái độ với môn học của
học sinh không còn phụ thuộc nhiều vào điểm số mà thay vào đó là nội dung
môn học, sự đòi hỏi phải mở rộng tầm hiểu biết chi phối, thái độ đối với môn
học đã có sự phân hóa “hay” hay “không hay”. Nội dung học tập của học sinh
đã được mở rộng, nhiều học sinh đã có yếu tố tự học, có hứng thú bền vững đối
với môn học, say mê học tập. Tuy nhiên, tính tò mò, ham hiểu biết có thể khiến
Tiến hành giảng dạy theo phương pháp dạy học truyền thống như phương
pháp thuyết trình, phương pháp trình bày,… trong đó giáo viên truyền tải kiến
thức tới học sinh, giáo viên giữ vai trò trung tâm của quá trình dạy và học, học
sinh chỉ thụ động tiếp thu các kiến thức mà giáo viên cung cấp, quá trình dạy
học của giáo viên và quá trình học tập của học sinh không đạt hiệu quả cao. Đặc
biệt trong hoàn cảnh tài liệu học tập và giảng dạy nội dung này không nhiều, có
khi chỉ có giáo viên có tài liệu chuyên ngành liên quan còn học sinh khi học
không có bất kì tài liệu nào trong tay. Điều này gây khó khăn rất lớn cho học
sinh trong quá tình theo dõi kiến thức giáo viên truyền đạt và nắm bắt được nội
dung cần thiết phải ghi nhớ. Khi học sinh thụ động tiếp thu kiến thức trong
hoàn cảnh đó thái độ học tập của học sinh cũng như kết quả học tập sẽ không
đạt chất lượng cao, các kĩ năng cần thiết học sinh không được rèn luyện. Khi
tiến hành giảng dạy thử nghiệm theo phương pháp dạy học truyền thống trong
nội dung này tôi đã tổng hợp được kết quả đánh giá về thái độ cũng như kết quả
học tập của học sinh theo bảng sau:
Bảng: Tổng hợp kết quả đánh giá thái độ của học sinh đối với tiết học
khi tiến hành học theo phương pháp truyền thống
Thái độ của HS
Hứng thú học tập
Bình thường
Không chú ý
Lớp 9A1 (42 học sinh)
0
20
22
Lớp 9A2 (37 học sinh)
0
18
19
Từ những vấn đề trên để đạt được hiệu quả học tập tốt nhất, tạo được hứng
tương ứng các nội dung là: vị trí địa lí và tài nguyên thiên nhiên, dân cư – lao
động, sự phát triển kinh tế của địa phương. Lồng ghép trong các nội dung trên là
những vấn đề về bảo vệ tài nguyên môi trường, phát triển bền vững cũng như
phương hướng phát triển trong tương lai của địa phương đó như thế nào.
Áp dụng phương pháp dạy học tích cực khi giảng dạy nội dung này vai trò
của người học sinh sẽ là trọng tâm, các em sẽ phải chủ động tìm hiểu các kiến
thức từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau dựa trên cơ sở các ý đã được đưa ra, sau
khi tìm tài liệu xong là quá trình tổng hợp phân tích, lựa chọn các tài liệu cho
phù hợp với nội dung. Cuối cùng là quá trình tổng kết, trình bày kết quả đã đạt
được. Giáo viên trong quá trình này chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, định
hướng giúp cho học sinh đi đúng hướng, đưa ra những tài liệu chính thống có
thể khai thác để học sinh tìm hiểu, tổng hợp kiến thức. Trong quá trình học sinh
thực hiện đề tài nếu có khó khăn trong việc tìm các số liệu thống kê giáo viên có
thể đưa ra một số bảng số liệu cần thiết để học sinh khai thác các kiến thức cần
thiết. Cuối cùng khi kết thúc nội dung này học sinh được hình thành, rèn luyện
một số kĩ năng sống cơ bản phù hợp với lứa tuổi của các em như kĩ năng hợp tác
làm việc theo nhóm, kĩ năng quan sát, phân tích tìm hiểu vấn đề, kĩ năng tổng
hợp, kĩ năng giao tiếp trình bày,...bên cạnh đó cũng có định hướng đúng đắn
trong quá trình hình thành các kĩ năng sống cần thiết sau này cho học sinh.
Các bước thực hiện của một tiết học kết hợp giáo dục KNS cho học sinh:
Các bước
1.
Mục đích
Mô tả quá trình Vai trò của GV và HS/
thực hiện
Gợi ý một số KTDH
Khám - Kích thích học - GV (cùng với HS) - GV đóng vai trò lập
kỹ năng…) của lý/phân tích các hiểu luận, Chơi trò chơi
HS trước khi biết
hoặc
trải tương tác, đặt câu hỏi,
giới thiệu vấn đề nghiệm của học ….
mới.
sinh, tổ chức và
phân loại chúng
2. Kết nối
Giới thiệu thông - GV giới thiệu mục - GV nên đóng vai trò
tin, kiến thức và tiêu bài học và kết của người hướng dẫn
kỹ năng mới nối chúng với các (facilitator); HS là
thông qua việc vấn đề đã chia sẻ ở người phản hồi, trình
tạo “cầu nối” bước 1
bày quan điểm/ý kiến,
liên kết giữa cái - GV giới thiệu kiến đặt câu hỏi/trả lời
“đã biết” và thức và kỹ năng mới - Một số kỹ thuật dạy
“chưa biết”. Cầu - Kiểm tra xem kiến học: Chia nhóm thảo
nối này sẽ kết thức và kỹ năng mới luận, người học trình
nối kinh nghiệm đã được cung cấp bày, khách mời, đóng
hiện có của học toàn diện và chính vai, sử dụng phương
sinh với bài học xác chưa
tiện dạy học đa chức
mới
- Nêu ví dụ khi cần năng (chiếu phim,
thiết.
băng, đài, đĩa… )
3.
Thực - Tạo cơ hội cho - GV thiết kế/chuẩn - GV nên đóng vai trò
hành/Luyện người học thực bị hoạt động mà của người hướng dẫn
học sinh thực - GV giám sát tất cả hỏi-đáp, trò chơi, thảo
hành đúng cách mọi hoạt động và luận nhóm/tranh luận…
- Điều chỉnh điều chỉnh khi cần
những hiểu biết thiết
và kỹ năng còn - GV khuyến khích
sai lệch
học sinh thể hiện
những điều các em
suy nghĩ hoặc mới
lĩnh hội được
4.Vận dụng - Tạo cơ hội cho - GV (cùng với HS) - GV đóng vai trò
học sinh tích lập kế hoạch các người hướng dẫn và
hợp, mở rộng và hoạt động đối với người đánh giá.
vận dụng kiến nhiều môn học/lĩnh - HS đóng vai trò người
thức và kỹ năng vực học tập đòi hỏi lập kế hoạch, người
có được vào các HS vận dụng kiến sáng tạo, thành viên
tình huống/bối thức và kỹ năng nhóm, người giải quyết
cảnh MỚI.
mới.
vấn đề, người trình bày
- HS làm việc theo và người đánh giá.
nhóm, cặp và cá - Một số kỹ thuật dạy
nhân để hoàn thành học: Dạy học hợp tác,
nhiệm vụ.
làm việc nhóm, trình
- GV và HS cùng bày cá nhân, dạy học
tham gia hỏi và trả dự án….
lời trong suốt quá
trình tổ chức hoạt
- Rèn kĩ năng tìm hiểu, thu thập, đánh giá kiến thức địa lí qua quá trình tìm
hiểu thực tế địa lí
1.3. Về phẩm chất và năng lực
- Giáo dục lòng yêu thiên nhiên, có ý thức xây dựng kinh tế địa phương
- Năng lực chung: tự học, giao tiếp, hợp tác, sử dụng ngôn ngữ, tính toán,
sáng tạo, tự quản lí, sử dụng CNTT.
- Năng lực chuyên biệt: tư duy tổng hợp theo lãnh thổ, sử dụng bản đồ, sử
dụng số liệu thống kê, sử dụng hình ảnh
II. CÁC KNS CƠ BẢN ĐƯỢC GIÁO DỤC TRONG BÀI
- Thu thập, xử lí thông tin, phân tích
- Đảm nhận trách nhiệm
- Giao tiếp: trình bày suy nghĩ, ý tưởng, lắng nghe, phản hồi tích cực, hợp
tác và làm việc theo nhóm
- Thể hiện sự tự tin
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP/ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC CÓ THÊ
SỬ DỤNG
MAI THỊ MINH THU – Giáo viên Trường THCS Lí Tự Trọng
13
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2015 - 2016
****************************************************************
Suy nghĩ – cặp đôi – chia sẻ, động não nhóm, thảo luận nhóm, HS làm
việc cá nhân, ...
IV. CHUẨN BỊ CỦA GIÁO VIÊN VÀ HỌC SINH
kinh tế, nội dung tìm hiểu theo những gợi ý trong sách giáo khoa
MAI THỊ MINH THU – Giáo viên Trường THCS Lí Tự Trọng
14
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2015 - 2016
****************************************************************
+ Nhóm 1: Tìm hiểu về ngành công nghiệp
+ Nhóm 2: Tìm hiểu về ngành nông nghiệp
+ Nhóm 3: Tìm hiểu về ngành dịch vụ
- Thời gian tìm hiểu: 1 tuần, học sinh tìm hiểu, thu thập các kiến thức trước ở
nhà
- Học sinh thu thập các kiến thức, số liệu, tranh ảnh, các bài báo, video,... về sự
phát triển của ngành kinh tế
- Sau đó cả nhóm tổng hợp kiến thức, tài liệu đã thu thập được thành 1 bài trình
chiếu khoảng 5 – 7 slide
- Kết quả tìm hiểu được trình bày trong tiết học về tìm hiểu các ngành kinh tế
của tỉnh Nam Định.
Bước 2: Học sinh chia nhóm tiến hành tìm hiểu ở nhà
Bước 3: Báo cáo kết quả
* Nhóm 1: Ngành công nghiệp
- Vị trí: công nghiệp có vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh
- Cơ cấu công nghiệp: ngày càng đa dạng, các ngành CN thế mạnh: dệt may, chế
biến thực phẩm, vật liệu xây dựng, cơ khí điện tử, các ngành sản xuất hàng thủ
công mĩ nghệ, ngành nghề truyền thống
- Các ngành CN truyền thống tập trung TP. Nam Định với 2 ngành chủ chốt là
Năm học 2015 - 2016
****************************************************************
- Cơ cấu:
+ Ngành trồng trọt: giữ vai trò chủ chốt, quan trọng nhất là sản xuất lương
thực mà cây lúa giữ vai trò chủ chốt (chiếm 88% diện tích cây trồng, sản lượng
đạt 1001,5 nghìn tấn, bình quân lương thực đạt 500kg/người/năm)
Lúa trồng rộng khắp các địa phương trong tỉnh. Chiếm 91,5% diện tích và
96,4% sản lượng cơ cấu cây lương thực. Ngoài ra còn cây hoa màu: ngô, khoai,
sắn; cây công nghiệp: đay, mía, lạc, cói…
+ Ngành chăn nuôi: chủ yếu nuôi lợn và gia cầm, ngoài ra có bò, trâu.
Phát triển chậm, tỉ trọng thấp
+ Ngành thủy sản; phát triển khá nhanh cả về đánh bắt và nuôi trồng. Sản
lượng và giá trị sản xuất thủy sản ngày càng tăng. Thủy sản đông lạnh là một
mặt hàng xuất khẩu quan trọng của tỉnh. Phát triển chủ yếu ở các huyện ven
biển: Hải Hậu, Giao Thủy, Nghĩa Hưng
+ Ngành lâm nghiệp: đang chú trọng phát triển trồng rừng ngập mặn ven
biển, rừng phòng hộ
- Phương hướng phát triển nông nghiệp: kết hợp trồng lúa với chăn nuôi
lợn và gia cầm, phát triển và hiện đại hóa nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy
sản. Chú trọng nâng cao giá trị mặt hàng xuất khẩu
- Một số sản phẩm nông nghiệp tiêu biểu của địa phương:
* Nhóm 3: Ngành dịch vụ
- Vị trí: chiếm tỉ trọng thấp trong cơ cấu kinh tế, chưa đáp ứng được nhu
cầu phát triển KT-XH đặc biệt ở nông thôn
- GTVT: các loại hình giao thông khá phong phú: đường biển, sông, sắt, bộ
MAI THỊ MINH THU – Giáo viên Trường THCS Lí Tự Trọng
Năm học 2015 - 2016
****************************************************************
Tượng đài Trần Hưng Đạo
Tuyến đường 52m, Khu đô thị Thống Nhất (TP Nam Định)
Hoạt động 2: Tìm hiểu thực trạng tài nguyên, môi trường của tỉnh và
phương hướng phát triển kinh tế
Bước 1: Thực trạng tài nguyên và môi trường
- GV đặt vấn đề:
“ Em có nhận xét gì về thực trạng tài nguyên môi trường của địa phương
hiện nay?”
“Để khắc phục hiện trạng đó cần có biện pháp gì?”
MAI THỊ MINH THU – Giáo viên Trường THCS Lí Tự Trọng
19
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2015 - 2016
****************************************************************
- HS tìm hiểu trước ở nhà rồi sẽ trình bày vấn đề về môi trường hiện nay
mà các em nhìn thấy, nghe thấy trong cuộc sống hàng ngày, trên ti vi, báo, đài.
HS dẫn chứng đưa ra các hình ảnh, video đã thu thập được.
“Theo báo Tin môi trường: Hiện nay, Nam Định phải đối mặt với nhiều
vấn đề về ô nhiễm môi trường cần giải quyết. Tình trạng ô nhiễm tại các làng
20
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2015 - 2016
****************************************************************
vực ruộng sau khi thu hoạch đã gây ảnh hưởng đến sức khỏe và môi trường.
Ông Phạm Văn Sơn, Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Nam Định
cho biết: “Trong hoạt động chăn nuôi, trên địa bàn tỉnh Nam Định có khoảng
138 trang trại, gia trại chăn nuôi lợn, trâu, bò gia cầm ước tính tổng lượng chất
thải rắn phát sinh khoảng 210 tấn/ngày. Một số xã, cơ sở đã được hỗ trợ xử lý
chất thải thông qua các dự án về thu gom, tái sử dụng khí sinh học, chất thải rắn,
lỏng từ các trại chăn nuôi bằng hệ thống hầm biogas. Tuy nhiên tỉ lệ xử lý bằng
biện pháp này còn thấp, số trại xử lý chất thải bằng hầm biogas chỉ chiếm 21%,
số còn lại đổ ra vườn hoặc thải trực tiếp ra ao, hồ, sông đã gây nên tình trạng ô
nhiễm môi trường khu vực”. Đối với chất thải rắn công nghiệp và thương mại,
với 1.654 cơ sở đang hoạt động trên địa bàn toàn tỉnh mỗi ngày phát sinh 23,2
tấn lượng chất thải rắn công nghiệp, trong đó chất thải phải xử lý là 5,8 tấn/ngày
và chất thải có thể tận thu là 17,4 tấn/ngày chủ yếu từ các ngành sản xuất như cơ
khí, chế tạo máy, dệt nhuộm, chế biến giấy, chế biến lâm sản, sản xuất vật liệu
xây dựng, chế biến thực phẩm…Chất thải nguy hại phát sinh hầu hết từ các cơ
sở sản xuất công nghiệp, làng nghề, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, bệnh
viện và cả từ sinh hoạt với thành phần đa dạng, lượng phát sinh không ổn định.
Đáng báo động là đối với môi trường nước. Theo kết quả quan trắc môi
trường nước tháng 3/2014, hầu hết các điểm quan trắc ở các sông lớn đều có
hàm lượng oxy hóa các chất hữu cơ và sinh hóa do vi khuẩn (BOD5) và hàm
lượng oxy hóa học (COD) đều vượt quy chuẩn cho phép. Hàm lượng tổng chất
mặt nước và nước ngầm ngày càng suy giảm đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất
lượng nguồn nước.
Đối với môi trường không khí, theo số liệu quan trắc hàng năm thì chất
lượng môi trường không khí trong toàn tỉnh tương đối tốt, nằm trong giới hạn
cho phép so với quy chuẩn môi trường hiện hành. Tuy nhiên nếu theo dõi theo
từng năm thì chất lượng môi trường không khí một số điểm quan trắc đang có
chiều hướng suy giảm do sự gia tăng các phương tiện giao thông, hoạt động xây
dựng, hoạt động sản xuất của các khu, cụm công nghiệp tập trung, đặc biệt là
hoạt động của các làng nghề như làng nghề Bình Yên, làng nghề Vân Chàng…”
GV nhận xét, tổng kết vấn đề
+ Ô nhiễm môi trường nước, không khí đặc biệt trong các thành phố, suy
giảm tài nguyên thủy sản do khai thác đánh bắt quá mức.
+ Biện pháp: Tuyên truyền bảo vệ môi trường, tổ chức các cuộc thi tìm
hiểu và bảo vệ môi trường, thực hiện nào vét kênh mương, khai thông dòng
chảy, xây dựng các khu chứa rác tập trung.
Bước 2: Phương hướng phát triển
HS đưa ra các minh chứng, chứng minh định hướng phát triển của Nam
Định hiện nay và trong tương lai
- Xây dựng vùng kinh tế thâm canh cây lương thực: Tiếp tục đầu tư cho
sản xuất nông nghiệp, quy hoạch lại các vùng sản xuất theo hướng chuyên canh,
MAI THỊ MINH THU – Giáo viên Trường THCS Lí Tự Trọng
22
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2015 - 2016
Sáng kiến kinh nghiệm
Năm học 2015 - 2016
****************************************************************
“Trên trang web chính thức của thành phố Nam Định
có bài báo với tiêu đề “Quy hoạch thành phố
Nam Định” với nội dung “Thủ tướng vừa phê duyệt đề án Quy hoạch tổng thể
phát triển thành phố Nam Định trở thành Trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của
Vùng Nam đồng bằng sông Hồng. Quy mô dân số thành phố Nam Định năm
2005 là 241.100 người, đến năm 2010 sẽ là 511.000 người, sau năm 2020 là
955.000 người. Năm 2010, diện tích đất của thành phố vào khoảng 21.406 ha;
năm 2020 đạt 45.127 ha. Kinh tế thành phố sẽ đi theo hướng xây dựng, mở rộng
nhà máy chế biến hoa quả, nước giải khát, chế biến thịt, chế biến thuỷ hải sản
xuất khẩu; phát triển ngành cơ khí đóng mới và sửa chữa phương tiện vận tải
thuỷ, lắp ráp ô tô, xe máy, cơ khí nông nghiệp, cơ khí sản xuất hàng tiêu dùng,
cơ khí dệt. Thành phố sẽ xây dựng các khách sạn đạt tiêu chuẩn cao cấp, các
khu vui chơi giải trí để phát triển thành trung tâm du lịch văn hoá của vùng. Dự
kiến đến năm 2020, Thành phố được chia thành 4 khu chức năng, gồm khu vực
trung tâm (khu các phố cũ) là nơi đặt trung tâm chính trị, hành chính, văn hóa
của Tỉnh và Thành phố. Khu phát triển mở rộng về phía Bắc: xây dựng một số
công trình có quy mô, tính chất Vùng như: công viên văn hóa - du lịch Tức Mạc,
làng cổ Tức Mạc, Khu di tích đền Trần, Chùa Tháp, Khu liên hợp thể dục - thể
thao, khu các trường đại học - trung học chuyên nghiệp và nghiên cứu khoa
học, các bệnh viện... Khu phát triển mở rộng về phía Tây và Tây Nam: bố trí
các khu công nghiệp tập trung, kho bãi, là đầu mối giao thông đường bộ, đường
MAI THỊ MINH THU – Giáo viên Trường THCS Lí Tự Trọng
- Học sinh được rèn luyện tác phong làm việc nghiêm túc, hiểu được vai trò
của cá nhân và của tập thể nhóm.
- Học sinh tự tin hơn, có thái độ tích cực hơn trong việc học, nhiều KNS
cần thiết được các em hình thành, rèn luyện, vận dụng thành thạo.
- Vai trò của người học được nâng cao, học sinh tự chủ động nắm bắt kiến
thức, hiểu và nhớ kiến thức lâu hơn. Từ đó, học sinh thêm yêu thích, say mê hơn
với môn học.
Kết quả khi áp dụng sáng kiến vào quá trình dạy học trên lớp thái độ và kết
quả học tập của học sinh đã có sự thay đổi rõ rệt so với trước kia
Bảng: Tổng hợp kết quả đánh giá thái độ của học sinh đối với tiết học khi
tiến hành dự án
Thái độ của HS
Hứng thú học tập
Bình thường
Không chú ý
MAI THỊ MINH THU – Giáo viên Trường THCS Lí Tự Trọng
25