skkn kinh nghiệm phụ đạo học sinh yếu kém môn ngữ văn 9 - Pdf 45

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số……………
1.Tên sáng kiến: Kinh nghiệm phụ đạo học sinh yếu- kém môn Ngữ văn 9
2.Lĩnh vực áp dụng: chuyên môn
3.Mô tả bản chất của sáng kiến
3.1 Tình trạng giải pháp đã biết
- Xuất phát từ một thực trạng là học sinh yếu-kém của học sinh lớp 9 ngày

càng tăng. Đặc biệt là môn Ngữ Văn. Do đó, làm thế nào để có thể giúp cho học
sinh nắm vững được những kiến thức cơ bản của môn học, nhất là đối với học sinh
yếu. Ở các em có sự khác biệt nhau về: khả năng tiếp thu bài, phong cách nhận
thức, sức khoẻ.v.v... Cần xem xét những học sinh này với những đặc điểm vốn có
của các em để tìm ra những biện pháp nhằm dẫn dắt các em đạt đến kết quả tối đa,
tránh cho các em bị rơi vào những khó khăn thường trực trong học tập. Đó chính là
điều mà bản thân tôi muốn trao đổi, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp để
giúp đỡ đối tượng học sinh yếu, kém;
- GV bộ môn dựa trên số điểm khảo sát chất lượng đầu năm lập danh sách
HS yếu- kém và trình lãnh đạo trường phê duyệt. Sau khi lập danh sách,GV tiến
hành phụ đạo.
*Những ưu, khuyết điểm của giải pháp đã – đang được áp dụng tại cơ
quan, đơn vị
Thứ nhất: HS yếu hiện nay luôn được xã hội quan tâm và tìm giải pháp để
khắc phục tình trạng này. Để đưa nền giáo dục nước nhà phát triển toàn diện thì
người giáo viên không những chỉ biết dạy mà còn phải biết nghiên cứu những
phương pháp tối ưu nhất, nhằm phát huy tính tích cực của học sinh và hạ thấp dần
tỉ lệ học sinh yếu, kém. Vấn đề nêu trên cũng là khó khăn với không ít giáo viên nói
GV: Nguyễn Văn Phi


môn;

GV: Nguyễn Văn Phi

2

Trường THCS Đồng Khởi


- Nâng cao chất lượng môn Ngữ văn nói riêng và chất lượng hiệu quả đào tạo
của nhà trường nói chung.
3.2.2 Nội dung áp dụng giải pháp
a. Những điểm khác biệt, tính mới của giải pháp so với giải pháp đã,
đang được áp dụng:
Để nghiên cứu đề tài này một cách khoa học và đạt kết quả cao, tôi đã vạch
ra các nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu điều kiện, hoàn cảnh học tập của học sinh. Đi sâu vào các nội
dung có liên quan đến việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tự học của học sinh,
cũng như việc xây dựng và thực hiện kế hoạch phụ đạo học sinh yếu- kém môn
Ngữ văn lớp 9;
Tìm hiểu và phân tích thực trạng của những hạn chế trong quá trình tự học
của học sinh;
Định hướng cụ thể và có hệ thống về nội dung, phương pháp, cách thức tiến
hành tuyển chọn HS yếu- kém;
Trên cơ sở xác định được những nguyên nhân chính, bản thân đề ra những
giải pháp tích cực nhằm giúp đỡ học sinh lĩnh hội tri thức một cách dễ dàng.
b. Mô tả chi tiết bản chất của giải pháp:
b.1 Giáo viên xây dựng môi trường học tập thân thiện
Sự thân thiện của giáo viên là điều kiện cần thiết để những biện pháp đạt
hiệu quả cao. Thông qua cử chỉ, lời nói, ánh mắt, nụ cười… giáo viên tạo sự gần

hợp, có trọng tâm, bằng phương pháp trực quan sinh động, giảng dạy vấn đáp, chơi
trò chơi văn học, thi đua, trò chơi tiếp sức … phối hợp đang xen nhau tạo hứng thú
cho các em tiếp thu bài tốt hơn;
Khi phụ đạo, cho các em làm việc nhóm. Đôi lúc tổ chức cho các em thi tìm
nhanh kiến thức;
c) Xây dựng kế hoạch phụ đạo HS yếu-kém
Sau khi đã Phát hiện và lập danh sách HS yếu- kém,công việc tiếp theo
là xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch phụ đạo (Bao gồm: cung cấp kiến thức
bị hỏng, hướng dẫn tự học và rèn luyện kỹ năng). Các khâu trên càng thực hiện chu
đáo bao nhiêu, kết quả càng tốt bấy nhiêu. Trong phạm vi sáng kiến kinh nghiệm
này tôi chỉ xin tập trung trình bày, trao đổi một vài kinh nghiệm trong việc rèn

GV: Nguyễn Văn Phi

4

Trường THCS Đồng Khởi


luyện kỹ năng làm văn (mà chủ yếu là kĩ năng phần cảm thụ văn học) cho HS yếukém.
d) Xây dựng nội dung trọng tâm phụ đạo HS yếu-kém
- Về kiến thức: Ôn tập và hệ thống lại các kiến thức đã học,nhắc lại những
kiến thức tiếp thu trên lớp. Tăng cường thực hành ( ở phân môn TLV) để học sinh
luyện kĩ năng viết tốt hơn.Nội dung cụ thể là:
+ Tiếng Việt: Hệ thống lại kiến thức về từ vựng, nghĩa của từ, cấp độ khái
quát nghĩa của từ,trường từ vựng, sự phát triển từ vựng, các biện pháp tu từ, kiến
thức về câu phân theo cấu tạo và mục đích nói.( chương trình 6,7,8,9 );
+ Tập làm văn: Nắm được phương pháp làm văn ở từng thể loại, từng dạng
bài như: Tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận. Rèn kĩ năng tạo lập văn
bản, kĩ năng phân tích đề, tìm ý, lập dàn ý, cách lập luận, tìm lý lẽ, chọn dẫn chứng,

nếu học sinh không hiểu thì đề bài yêu cầu gì đi nữa thì học sinh yếu- kém đều
phân tích được.
e2. Hướng dẫn học sinh yếu- kém cách làm và viết đoạn văn nghị luận
văn học:
Hướng dẫn học sinh chi tiết viết bài văn phải có bố cục đầ đủ gồm ba phần:
mở bài, thân bài, kết bài;
Đối với HS yếu, muốn cảm thụ được bài thơ thì HS phải xác định được bố
cục. Phân tích theo lối cắt ngang ở từng đoạn thơ, khổ thơ;
Từ văn bản thơ, học sinh tiến hành chia đoạn và tìm những ý chính của mỗi
đoạn. đối với từng khổ thơ, đoạn thơ, câu thơ vẫn có thể chia tách ra thành các ý
nhỏ được. sau khi tìm được ý chính câu mỗi đoạn thì biến những ý chính ấy thành
các luận điểm;
Ban đầu tập cho học sinh phân tích một câu, rồi đến hai câu. Từ hai câu rồi
đến một khổ thơ, từ khổ thơ (đoạn thơ) rồi đến bài thơ.
Ví dụ: Khổ thơ đầu của bài thơ “Đoàn thuyền đánh cá” của Huy Cận:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then, đêm sập cửa
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi
Câu hát căng buồn cùng gió khơi.
Giáo viên tâp cho học sinh phân tích câu thơ thứ nhát, rồi đến câu thơ thứ
hai. Phân tích một lượt hai câu (một và hai). Trong khi hướng dẫn học sinh phân
GV: Nguyễn Văn Phi

6

Trường THCS Đồng Khởi


tích lưu ý cho học sinh không thể cắt ngang câu 3 vì câu thơ thứ 3 và câu thư 4
cùng nói về hoàn cảnh đoàn thuyền ra khơi, còn câu 1 và 2 là cảnh thiên nhiên khi

của Nguyễn Thành Long.
GV: Nguyễn Văn Phi

7

Trường THCS Đồng Khởi


Nguyễn Thành Long là một cây truyện ngắn. truyện ngắn “Lạng lẽ Sa Pa”
được sáng tác vào mùa hè năm 1970, trong một chuyến đi lên Lào Cai của tác giả.
Nhân vật chính trong truyện là anh thanh niên. Dù được miêu tả nhiều hay ít, trực
tiếp hay gián tiếp, anh thanh niên vẫn hiện lên trong lòng nguwoif đọc với bao vẻ
đẹp đáng yêu, đáng khâm phục. (Câu cuối có thẻ viết: Anh thanh niên nỏi bật
những phẩm chất tốt đẹp của con người trong giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội
và chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ).
Đề 2: Phân tích bài thơ “Sang thu” của Hữu Tỉnh.
Hữu Thỉnh vốn rất gắn bó với cuộc sống nông thôn. Ông có nhiều bài thơ
hay về con người và cuộc sống nông thôn, về mùa thu. Bài thơ “Sang thu” được
Hữu Thỉnh sáng tác gần cuối năm 1977, giới thiệu lần đầu tiên trên báo Văn nghệ.
Bài thơ là những cảm nhận, suy tư của nhà thơ về sự biến chuyển của đất trời từ hạ
sang thu.
Từ hai đề trên, giáo viên cho học sinh đối chiếu với phần mở bài ở tùng kiểu
bài thì học sinh dễ dàng viết đoạn mở bài. Cách mở bài này dành cho đối tượng học
sinh từ trung bình trở xuống.
* Thân bài:
* Nghị luận về một tác phẩm truyện hoặc trích:
Giáo viên hướng cho học sinh viết đoạn theo cách trình bày nội dung đoạn
văn theo lối diễn dịch hoặc quy nạp. Giáo viên cho học sinh nắm cách trình bày nội
dung diễn dịch hoặc quy nạp bằng sơ đồ để học sinh dễ nhận biết hơn.
Diễn dịch:

Như vậy:

Câu (1) là câu chủ đề luận điểm;
Câu (2) là câu chuyển để đưa dẫn chứng;
Câu (3), (4) là dẫn chứng gián tiếp từ tác phẩm;
Câu (5) và (6) là những câu phân tích, nhận xét từ dẫn chứng

của người viết;
Cái khó là học sinh không biết phân tích, nhận xét nên giáo viên cho học
sinh đặt câu hỏi để trả lời. như: Vì sao anh lại giới thiệu những con người khác ở Sa
Pa? Anh nghĩ điều gì mà giới thiệu như vậy? Học sinh trả lời đúng, nghĩa là học
sinh đã biết nhận xét, đánh giá;
Học sinh xác định được đặc điểm, tính cách của nhân vật theo trình tự diễn
biến của truyện thì học sinh lần lượt viết được đoạn văn ở phần thân bài.
* Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ:
Đối với HS yếu-kém,đầu tiên, giáo viên phải hình thành cho học sinh quy
trình xây dựng đoạn khi phân tích một đoạn thơ, khổ thơ như sau:
(1) Nhận xét khái quát về nội dung của đoạn thơ, khổ thơ ấy (câu này gọi là
câu dẫn) -> (2) Dẫn chứng đoạn thơ, khổ thơ -> (3) Giảng giải, cắt nghĩa (từ, ngữ,
câu thơ) -> (4) Liên hệ, mở rộng, so sánh -> (5) Nhận xét cách sử dụng nghệ thuật
GV: Nguyễn Văn Phi

9

Trường THCS Đồng Khởi


và phân tích nghệ thuật ấy (chú ý vào các chi tiết nghệ thuật tiêu biểu, mà ở đó, các
ý nghĩa độc đáo, tài năng nghệ thuật của tác giả được bộc lộ- lựa chọn chi tiết
không dàn trải) -> (6) Nhận xét, đánh giá về nội dung của đoạn thơ, khổ thơ (phần

10

Trường THCS Đồng Khởi


(4’) Nếu khi bắt đầu vào bài thơ, nhà thơ xưng tôi “Tôi đưa tay tôi hứng” thì
giờ đây, tác giả đã chuyển sang ta. Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên. Với chữ ta
vừa là số ít vừa là số nhiều, tác giả có thể nói được cái riêng biệt, cá thể, đồng thời
lại nói được cái khái quát, cái chung ;
(5) Cách sử dụng điệp ngữ “ta làm” láy di láy lại thật tha thiết, chân thành ;
(6) Nhà thơ có một ước nguyện nhỏ bé, một phương châm sống thật cao đẹp
được hòa nhập và cống hiến cho đời.
Từ đoạn văn trên, học sinh sẽ nhận thấy như quy trình trên :
Câu (1) nhận xét khái quát về nội dung của đoạn thơ, khổ thơ ấy ;
Câu (2) dẫn chứng đoạn thơ, khổ thơ ;
Câu (3) giảng giải, cắt nghĩa ;
Câu (4), (4’) là liên hệ, mở rộng, so sánh ;
Câu (5) là nhận xét cách sử dụng nghệ thuật ;
Câu (6) là nhận xét, đánh giá về nội dung ;
Đối với học sinh yếu- kém thì không thể thực hiện những câu (4), (4’) mà
dành cho học sinh khá, giỏi. Khi học sinh đã quen thì hướng dẫn cho đối tượng
trung bình, yếu thực hiện những câu (4), (4’).
* Kết bài:
Theo sách giáo khoa phần kết bài ở mỗi kiểu bài như sau:
- Nghị luận về một tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích): Nhận định đánh giá
chung của mình về tác phẩm truyện (hoặc đoạn trích).
- Nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ: Khái quát giá trị, ý nghĩa của đoạn thơ
bài thơ. Phần này giáo viên cần cụ thể hơn để học sinh yếu- kém hiểu:
3. 3 Khả năng áp dụng của giải pháp:
Đề tài có thể áp dụng cho tất cả các giáo viên dạy Ngữ Văn lớp 9;

Kinh nghiệm trên là rút từ thực tế khi hướng dẫn HS trong giảng dạy và tiếp
tục hướng dẫn HS kĩ năng làm bài văn nghị luận. Kinh nghiệm đã giúp học sinh có
kĩ năng làm bài, gỡ bí cho học sinh yếu-kém, từng bước nâng cao chất lượng học
tập của HS ở bộ môn Ngữ văn;
Tuy nhiên, đó chỉ là kinh nghiệm mang tính chất chủ quan, rất mong sự
đóng góp ý kiến, trao đổi, bổ sung của bạn đồng nghiêp.

GV: Nguyễn Văn Phi

12

Trường THCS Đồng Khởi


3. 4 Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng
giải pháp:
Qua quá trình thực hiện công tác phụ đạo HS yếu- kém theo những kinh
nghiệm nêu trên, bản thân người viết đã thu được một số hiệu quả như sau:
- Các giờ dạy phụ đạo trở nên linh hoạt, ít gò bó nhưng vẫn đạt hiệu quả khá
tốt;
- HS có tâm lí thoải mái, nhẹ nhàng trong học tập;
- Khả năng học tập của HS được nâng lên một bước, kiến thức của phần lớn
HS trở nên rộng rãi và toàn diện, không xơ cứng mà trở nên mềm mại, mang tính
ứng dụng cao.
Qua cách thức thực hiện như trên, năm học 2013 – 2014, nhà trường không
hụt chỉ tiêu yếu- kém so với kế hoạch năm học đề ra .Cụ thể đạt kết quả như sau:
- NH 2013 – 2014: tỉ lệ HS yếu- kém 1,85 % - so với chỉ tiêu của trường 5%.
3. 5 Tài liệu kèm theo:
- Bồi dưỡng tiếng việt- văn học trung học cơ sở ( Tác giả Hoàng Đức Huy)
Nhà xuất bản đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status