TRUNG TÂM HỌC LIỆU HÓA HỌC TRỰC TUYẾN
CHỌN LỌC-ĐẦY ĐỦ-CHẤT LƯỢNG
http://HOAHOC.edu.vn ─ http://LUUHUYNHVANLONG.com
“Học Hóa bằng sự đam mê”
Thầy LƯU HUỲNH VẠN LONG
(Giảng viên Trường ĐH Thủ Dầu Một – Bình Dương)
TUYỂN CHỌN VÀ GIỚI THIỆU
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐẠT GIẢI CÁC CẤP MÔN
HÓA HỌC 12
KHÔNG tức giận vì muốn biết thì KHÔNG gợi mở cho
KHÔNG bực vì KHÔNG hiểu rõ được thì KHÔNG bày vẽ cho
Khổng Tử
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THCS & THPT BÀU HÀM
Mã số: ................................
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
PHƯƠNG PHÁP PHỤ ĐẠO HỌC SINH YẾU KÉM
MÔN HOÁ HỌC LỚP 12
Người thực hiện: Nguyễn Thị Lam Hồng
Lĩnh vực nghiên cứu:
triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Tiếp tục nâng cao chất lượng
giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy học ”.
Trong thời gian qua Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có nhiều chủ trương, biện pháp
tích cực để nâng cao chất lượng dạy và học. Đặc biệt là thực hiện các cuộc vận động
lớn như : "Hai không", "Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự học và sáng tạo", "Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực". Qua thực hiện các cuộc vận động này
đã làm thay đổi khá nhiều về chất lượng giáo dục. Tuy có nhiều tiến bộ nhưng chất
lượng thật sự của giáo dục hiện nay ở bậc THPT còn khá nhiều yếu kém . Yêu cầu đặt
ra cho chúng ta là phải tìm những nguyên nhân yếu kém một cách chính xác, phải
nhìn thẳng vào sự thật một cách khách quan.Từ đó bình tỉnh đưa ra những giải pháp
tích cực sát với thực tế để từng bước nâng cao chất lượng. Vấn đề này cần phải có
thời gian, công sức của mọi người trong toàn xã hội.
Trong những năm qua, một thực trạng là càng ngày tính đa dạng về trình độ học
sinh trong các lớp càng tăng. Do đó, làm cách nào để có thể giúp cho học sinh khai
thác tối đa bài giảng của thầy, nhất là đối với học sinh yếu. Ở các em có sự khác biệt
về: khả năng tiếp thu bài, phong cách nhận thức, sức khoẻ… so với những học sinh
khác. Cần xem xét những học sinh này với những đặc điểm vốn có của các em để tìm
ra những biện pháp nhằm dẫn dắt các em đạt đến kết quả tối đa, tránh cho các em bị
rơi vào những khó khăn thường trực trong học tập. Đó chính là điều mà bản thân
muốn trao đổi, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm từ đồng nghiệp để giúp đỡ đối tượng học
sinh yếu.
Vấn đề học sinh yếu hiện nay luôn được xã hội quan tâm và tìm giải pháp để
khắc phục tình trạng này. Để đưa nền giáo dục nước nhà phát triển toàn diện thì người
giáo viên không những chỉ biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát
huy tính tích cực của học sinh và hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu. Vấn đề nêu trên cũng
là khó khăn với không ít giáo viên. Nhưng ngược lại, giải quyết được điều này là góp
phần xây dựng trong bản thân mỗi giáo viên một phong cách và phương pháp dạy học
hiện đại, giúp cho học sinh có hướng tư duy mới trong việc lĩnh hội kiến thức.
Việc vận dụng sự đổi mới công tác dạy và phụ đạo học sinh yếu không chỉ là
trách nhiệm mà còn là bổn phận, nghĩa vụ của người thầy. Mặc khác, nếu quan tâm
độc lập cao trong tư duy nhận thức sẽ thúc đẩy học sinh học tập tiến bộ …Trên cơ sở
đó giáo viên đề xuất thêm một số kiến nghị sư phạm nhằm thực hiện tốt hơn nữa nội
dung giáo dục toàn diện học sinh và hướng nghiệp cho học sinh .
Phụ đạo kiến thức cho học sinh yếu kém là giáo viên phải bổ sung được những
“lỗ hổng” kiến thức cho học sinh (chủ yếu là những kiến thức có trong sách giáo khoa
Hoá học) để giải quyết, để giành lại kiến thức mà các em chưa lĩnh hội hết trong tiết
dạy chính trên lớp. Từ đó học sinh có thể hòa nhập theo kịp với các bạn trong tiết học
đang diễn ra trên lớp .
Muốn làm tốt hoạt động này thì bản thân giáo viên cần phải nắm bắt chính xác
và đánh giá được mức độ kiến thức đọng lại ở mỗi học sinh trong mỗi tiết dạy để
chuẩn bị lên kế hoạch phụ đạo, thiết kế nội dụng tiết phụ đạo sao cho có hiệu quả
nhất, muốn vậy thì cần phải biết rõ căn cứ, hiểu và kết hợp giải quyết được các vấn đề
sau:
- Tìm hiểu tại sao học sinh sợ, chán, học yếu kém học môn Hoá học và tìm cách
giải tỏa tâm lí này ở một số em.
3
- Hướng dẫn học sinh tự đánh giá hiểu biết của bản thân về môn học và tự rèn
luyện ý thức học tập.
- Giáo viên xác định được khối lượng kiến thức đối với từng bài học cụ thể cho
đối tượng học sinh yếu kém, để đề ra nội dung, hình thức và phương pháp dạy thích
hợp nhất.
Như vậy cần ở học sinh phải hoàn toàn tự giác cao trong suy nghĩ và hành động,
tích cực phối hợp với giáo viên, có suy nghĩ, cân nhắc kĩ lưỡng những thông tin nhận
được để “vá lại lỗ hổng kiến thức” và phản hồi lại kiến thức một cách chính xác, khoa
học nhất. Muốn vậy giáo viên là người rất quan trọng cần phải có các hướng dẫn cụ
thể để giúp học sinh .
Phụ đạo cho học sinh yếu là một hoạt động bình thường và không thể thiếu được
trong bất kỳ trường THPT nào. Đây chính là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của
Giúp đỡ học sinh yếu kém được gắn với cuộc vận động “Xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực” và “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học
và sáng tạo”. Thực hiện nghiêm túc cuộc vận động “Hai không” do Bộ GD-ĐT phát
động, cương quyết ngăn chặn, xử lý nghiêm các hiện tượng tiêu cực trong các lần tổ
chức kiểm tra - thi cử trong toàn ngành.
Việc phụ đạo kiến thức cho học sinh yếu kém bộ môn là một trong những vấn đề
rất quan trọng, cấp bách, cần thiết và không thể thiếu trong mỗi môn học ở các cấp
học. Nhất là trong cuộc vận động “Hai không “ hiện nay, đòi hỏi giáo viên và học
sinh phải dạy thực chất và học thực chất. Song song với vấn đề trên, học sinh phải
nhanh chóng tiếp cận được phương pháp dạy học mới đang được triển khai, hiện
hành: “Học sinh học theo hướng tích cực: độc lập, chủ động, nghiên cứu, tìm tòi, sáng
tạo …để lĩnh hội, vận dụng kiến thức”. Và trong các môn học thì bộ môn Hóa Học rất
cần phải phụ đạo cho một số học sinh chưa nắm bắt kịp, vận dụng được kiến thức bài
học.
2. Nội dung, biện pháp thực hiện các giải pháp của đề tài
2. 1. Xác định thực trạng
2.1.1. Đặc điểm tình hình nhà trường
a. Thuận lợi
- Nhà trường có đủ số lượng giáo viên : 100% đạt chuẩn trở lên, trong đó có
25% đạt trên chuẩn.
- Trường có chi bộ Đảng lãnh đạo, gồm 10 Đảng viên.
- Lực lượng giáo viên còn rất trẻ, đặc biệt là giáo viên khối THPT, nhiệt tình,
tâm huyết, năng động, có quyết tâm thay đổi
- Được nhà nước quan tâm đầu tư nên số phòng học, các phòng chức năng và
tài chính nhìn chung là đảm bảo ở mức tối thiểu.
- Nhà trường có uy tín kể từ ngày thành lập (5 năm), nhiều năm liền được công
nhận là đơn vị tiên tiến, hằng năm đều có giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh, huyện, có học
sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh .
2.2.2. Nguyên nhân chất lượng học tập của học sinh yếu kém ở Trường
THCS & THPT Bàu Hàm – Trảng Bom – Đồng Nai
a. Đối với học sinh
- Học sinh chưa tự giác học, chưa có động cơ học tập, chưa có quyết tâm học tập,
mất căn bản kiến thức ngay từ lớp dưới. Nhiều học sinh đuối sức trong học tập, không
theo kịp các bạn, thiếu kiến thức, kỹ năng, khả năng để học tập lớp đang học (ngồi
nhầm lớp), sinh ra chán học, sợ học (hội chứng sợ học).
- Khả năng phân tích tổng hợp, so sánh còn hạn chế, chưa mạnh dạn trong học
tập do hiểu chưa sâu, nắm kiến thức chưa chắc, thiếu tự tin. Khả năng chú ý và tập
trung vào bài giảng của giáo viên không bền, lười suy nghĩ, còn trông chờ thầy cô giải
giúp, trình độ tư duy, vốn kiến thức cơ bản lớp dưới còn hạn chế, chưa biết phát huy
khả năng của mình. Khả năng học tập của học sinh rất khác nhau, cùng một độ tuổi và
1 lớp nhưng trình độ các em có thể chênh nhau khá lớn. Đọc chậm, đọc sai, viết chậm,
viết sai đặc biệt là môn ngoại ngữ bởi vì hầu hết các em là dân tộc Hoa, Nùng, Sán
Chỉ… Không biết làm tính, yếu các kỹ năng tính toán cơ bản, cần thiết.
- Một số học sinh đi học thất thường đặc biệt học sinh vắng nhiều vào các buổi
chiều, ham chơi, la cà quán xá.
- Học sinh chưa có phương pháp học tập khoa học, hầu hết là học thụ động, lệ
thuộc vào các loại sách bài giải (chép bài tập vào vở nhưng không hiểu gì cả ), học
vẹt, không có khả năng vận dụng kiến thức, trong thi cử thì quay cóp và tài liệu.
Có một bộ phận học sinh theo phong trào nên tham gia học thêm quá nhiều, mất rất
nhiều thời gian nhưng không có hiệu quả, học sinh không "tiêu hóa" hết sinh ra uể
oải, nhàm chán. Còn phân biệt môn chính, môn phụ nên học lệch. Nhà trường tổ chức
phụ đạo cho học sinh yếu kém nhưng chính các học sinh yếu này lại không chịu đi
học phụ đạo.
- Học sinh lười học: Qua quá trình giảng dạy, bản thân nhận thấy rằng các em
học sinh yếu là những học sinh cá biệt, vào lớp không chịu chú ý chuyên tâm vào việc
6
ảnh hưởng không nhỏ là ở người giáo viên. Thầy hay thì mới có trò giỏi. Ngày nay,
để có thể thực hiện tốt trong công tác giảng dạy thì đòi hỏi giáo viên phải không
ngừng học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. Tuy nhiên, ở đây không phải
giáo viên nào có trình độ học vấn cao, tốt nghiệp giỏi thì sẽ giảng dạy tốt mà ở đây
giáo viên phải biết lựa chọn phương pháp dạy học nào là phù hợp với từng đối tượng
học sinh và với từng nội dung kiến thức. Qua quá trình công tác bản thân nhận thấy,
vẫn còn một bộ phận nhỏ giáo viên chưa chú ý quan sát đến các đối tượng học sinh,
đặc biệt là học sinh yếu. Chưa tìm tòi nhiều phương pháp dạy học mới kích thích tính
tích cực, chủ động của học sinh. Chưa thật sự quan tâm tìm hiểu đến hoàn cảnh gia
đình của từng học sinh. Trên đây là một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng học sinh
7
học yếu mà bản thân nhận thấy trong quá trình công tác. Qua việc phân tích những
nguyên nhân đó, bản thân đưa ra một số biện pháp để giáo dục, phụ đạo học sinh yếu.
- Đa số đều tận tụy với công tác giảng dạy, chăm chút học sinh nhưng cũng có
trường hợp chỉ thành công trong đối tượng là học sinh khá trở lên.
- Trước đây khi chưa triển khai chương trình thay Sách Giáo Khoa và sử dụng
phương pháp mới (dạy, học theo hướng tích cực ) thì phương pháp giảng giải nêu vấn
đề thường là phương pháp chủ đạo làm cho học sinh tiếp nhận kiến thức một cách thụ
động nên rất dễ quên kiến thức nếu không học thuộc lòng, học bài thường xuyên.
- Mặt khác thông qua việc đọc cho học sinh ghi nội dung kiến thức làm cho học
sinh không tự rèn luyện được tính làm việc độc lập, tự nghiên cứu có hiệu quả, thậm
chí học sinh không quan tâm giáo viên giảng bài như thế nào mà khi đọc cho ghi thì
mới ghi vào vở, kiến thức ghi có thể không chính xác do nghe lộn dẫn đến hiểu sai
lệch kiến thức, lâu dần sẽ mất căn bản môn học.
- Bên cạnh đó thêm một tồn tại đó là khi giáo viên đưa ra câu hỏi thì lập tức học
sinh cắm cúi vào sách giáo khoa, không có sự linh động, sáng tạo trong đầu, có khi
còn sợ bị gọi trả lời, làm tiết học trở nên trầm trầm rời rạc. Kết quả là giáo viên
thường xuyên bị “ cháy” giáo án, học sinh nắm bài hời hợt trở thành yếu kém làm
lượng học tập của học sinh, còn tâm lí trông chờ chỉ đạo của cấp trên.
- Tinh thần trách nhiệm chưa cao, thiếu quyết tâm, bệnh thành tích, không đánh
giá đúng thực chất của lớp mình giảng dạy.
Tóm lại, việc phụ đạo cho học sinh yếu kém là một giải pháp rất chính đáng,
thực sự cần thiết và cần được đổi mới phương pháp, hình thức phụ đạo mở rộng trong
tất cả các môn học khác dưới sự giúp đỡ của nhà trường và sự đồng tình ủng hộ của
các giáo viên khác trong và ngoài nhà trường.
d. Môi trường xã hội:
- Tình hình kinh tế xã hội của địa phương nhìn chung có đi lên nhưng không ổn
định, theo mùa vụ. Thu nhập của người dân chủ yếu dựa vào các cây trồng như tiêu,
cà phê, nhiều gia đình có người thân ở nước ngoài hay nhiều gia đình cho con gái kết
hôn với người nước ngoài như Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc…gây tâm lí ỷ lại
cho học sinh, tạo cho học sinh suy nghĩ rằng không cần học cũng có cuộc sống thoải
mái, sung túc.
- Môi trường xung quanh của nhà trường ngày càng phức tạp, ngày càng nhiều
các hàng quán như quán café, quán ăn…Thanh thiếu niên bỏ học nhiều, tụ tập tại các
quán xá, lôi kéo, rủ rê học sinh.
- Chính quyền địa phương chưa có các biện pháp thật sự hữu hiệu để tạo môi
trương sống lành mạnh cho người dân.
2.2. Phân loại học sinh yếu kém môn Hoá học 12
- Căn cứ 1: Điểm bộ môn năm học qua, tham khảo thêm điểm một số môn học có liên
quan hoặc gần gũi ví dụ như Toán, Lý.
- Căn cứ 2: Điểm khảo sát chất lượng học sinh đầu năm.
- Căn cứ 3: Những biểu hiện và quá trình học tập trên lớp, các con điểm hiện tại.
Căn cứ vào những khía cạnh trên, học sinh yếu kém môn Hoá học 12 có thể chia
thành những nhóm sau:
Nhóm 1: Học sinh mất căn bản kiến thức chung nhưng có khả năng tiếp thu bài.
Nhóm 2: Có ý thức học tập nhưng khả năng tiếp thu bài chậm so với học sinh bình
thường.
Nhóm 3: Có ý thức học tập nhưng chưa có phương pháp học tập đúng đắn.
cực. Ví dụ như giáo viên nên thay chê bai bằng khen ngợi, giáo viên tìm những việc
làm mà em hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi các em. Đặc biệt đối với
môn Hoá học, hình thức kiểm tra chủ yếu hiện nay là trắc nghiệm khách quan nên khi
chấm trả bài giáo viên thường hay bỏ qua phần nhận xét bài làm. Giáo viên cần có sự
quan tâm, đối với những học sinh có tiến bộ, giáo viên phải nhận ra và động viên kịp
thời, có thể nhận xét trực tiếp vào bài làm hoặc khen ngợi trực tiếp trước lớp sau mỗi
bài kiểm tra.
Giáo viên có thể giới thiệu cho học sinh một cuốn sách hay “Bách khoa toàn thư
về những học trò lười”. Sách kể về những tên tuổi như Einstein, Disney, Darwin và
Picasso…được thế giới biết đến như những thiên tài nhưng không phải ai cũng biết họ
từng là những học sinh lười biếng, không có gì nổi bật khi cắp sách đến trường nhưng
họ đã để lại dấu ấn sáng chói trong lịch sử văn minh loài người. Câu chuyện trên là
một thông điệp mà giáo viên gởi tới các em học sinh, các bậc phụ huynh, quí thầy cô,
những người luôn có ước vọng nuôi dưỡng tài năng tiềm tàng chứ không đơn thuần
chỉ đặt niềm tin vào những điểm số nổi bật trong lớp.
Tuy nhiên đối với một số đối tượng học sinh, ở một số tình huống cụ thể nào đó,
giáo viên cũng cần thể hiện sự nghiêm khắc, răn đe để đưa các em vào nề nếp, khuôn
khổ. Điều quan trọng là giáo viên phải tác động được vào ý thức của học sinh, học
sinh hiểu rằng sự nghiêm khắc ấy nhằm mục đích giáo dục, vì bản thân các em, không
có sự trù dập hay phân biệt đối xử với học sinh.
* Giáo viên phân loại các đối tượng học sinh
10
Giáo viên cần xem xét, phân loại những học sinh yếu đúng với những đặc điểm
vốn có của các em để lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc điểm chung và
riêng của từng em. Một số khả năng thường hay gặp ở các em là: Sức khoẻ kém, khả
năng tiếp thu bài, lười học, thiếu tự tin, nhút nhát…
Trong thực tế người ta nhận thấy có bao nhiêu cá thể thì sẽ có chừng ấy phong
cách nhận thức. Vì vậy hiểu biết về phong cách nhận thức là để hiểu sự đa dạng của
sinh đã học yếu, khả năng tiếp thu, phân tích, kết luận hạn chế, khi được phân công
vào nhóm có các học sinh khá hơn thì học sinh yếu sẽ thụ động hẳn đi, không tự tin
nêu ra ý kiến của mình, ý lại vào các bạn học khá hơn sẽ đại diện cho nhóm nên học
sinh yếu không muốn hoạt động. Bên cạnh đó việc đổi mới phương pháp này đòi hỏi
11
học sinh phải tự giác, tự học rất cao, mà đối tượng học sinh yếu kém lại rất hạn chế ở
khả năng này.
Vì thế theo ý kiến của cá nhân, tôi nhận thấy rằng đối với lớp có nhiều đối tượng
học sinh yếu như lớp 12A2 không nên tổ chức học tập bằng phương pháp thảo luận
nhóm trong các bài quan trọng, có tính chất tiền đề cho những bài học sau .
Ví dụ đối với bài Este ở chương 1 hoặc phần học về dãy điện hoá của kim loại
giáo viên chỉ nên triển khai bài dạy theo phương pháp đặt vấn đề, gợi mở để học sinh
suy nghĩ sau đó giáo viên hướng dẫn thì học sinh yếu kém có thể tiếp thu bài một cách
xuyên suốt hơn.
* Giáo viên bộ môn phối hợp chặt chẽ với các lực lượng giáo dục trong và
ngoài nhà trường
- Giáo viên bộ môn thường xuyên trao đổi với giáo viên chủ nhiệm và các giáo
viên bộ môn khác để có thêm được nhiều thông tin về học sinh, đồng thời cũng là
người cung cấp các thông tin để giáo viên chủ nhiệm quản lí học sinh chặt chẽ hơn,
phát hiện kịp thời các biểu hiện sa sút của học sinh. Từ đó giáo viên chủ nhiệm liên hệ
với phụ huynh, kết hợp giáo dục học sinh kịp thời.
- Bên cạnh đó tôi thường xuyên trao đổi, thống nhất với giáo viên cùng dạy môn
Hoá 12 để tìm hiểu thêm về tình hình học tập của các lớp 12 khác nói chung và môn
Hoá nói riêng để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp.
- Giáo viên bộ môn thường xuyên trao đổi với tổ trưởng chuyên môn để đề xuất
với nhà trường tổ chức phụ đạo cho học sinh yếu kém ngoài giờ chính khoá nhằm tạo
điều kiện cho các học sinh này theo kịp chương trình học, từ từ nâng dần chất lượng
học tập của học sinh.
+ Ôn tập tính chất hoá học cơ bản của ancol trong đó có phản ứng este hoá, đặc
biệt là phản ứng hoà tan Cu(OH)2 tạo ra dung dịch màu xanh lam của glixerol.
+ Ôn tập tính chất hoá học cơ bản của andehit trong đó nhấn mạnh phản ứng tráng
gương gây ra bởi nhóm chức – CHO, tính chất hoá học cơ bản của axit cacboxylic
tương tự như tính chất hoá học của một axit vô cơ.
Đối với Phần kim loại ở học kì II, chính vì học sinh sẽ được học lại tính chất của
kim loại nên tôi không dành nhiều thời gian để ôn tập mà chỉ dành 2 tiết để ôn tập lại
các kiến thức về cấu tạo nguyên tử, viết cấu hình electron nguyên tử, cách sắp xếp các
nguyên tồ vào bảng tuần hoàn, từ cấu hình electron suy ra vị trí của nguyên tố và
ngược lại, từ cấu tạo nguyên tử của nguyên tố suy ra tính chất hoá học và ngược lại.
Sau khi ôn tập các kiến thức cơ bản sau mỗi phần, tôi dành 1 tiết để kiểm tra những
nội dung ôn tập đó và thông báo với học sinh rằng tôi có thể kiểm tra các kiến thức cơ
bản này bất kì khi nào cần thiết.
- Khi triển khai bài mới, xác định rõ kiến thức trọng tâm, kiến thức nền (những
kiến thức cơ bản, có nắm được những kiến thức này mới giải quyết được những câu
hỏi và bài tập) trong tiết dạy cần cung cấp, truyền đạt cho học sinh, tôi chốt ngắn gọn
các kiên 1thức này vào một góc bảng, sau tiết học điểm lại các ý trên bảng để học sinh
nắm lại kiến thức, đối với học sinh yếu tôi chỉ yêu cầu nắm được những ý thật cơ bản
này. Đối với học sinh yếu kém, mỗi giáo viên nên coi trọng tính vững chắc của kiến
thức, kỹ năng hơn là chạy theo mục tiêu đề cao mở rộng kiến thức.
Ví dụ: Khi học bài Amino axit, giáo viên chỉ cần chốt các kiến thức sau:
CTTQ của amino axit no, có 1 nhóm – NH2 và 1 nhóm –COOH:
CnH2n(NH2)(COOH) (n ≥ 1) hay CaH2a+1O2N (a ≥ 2).
Tên
Tên thay thế
Tên bán hệ thống
thường
H2N- CH2-COOH
Glyxin Axit 2-aminoetanoic
Axit aminoaxetic
X
X
với dd
AgNO3/NH3
Phản ứng thuỷ
X
X
X
phân
Làm mất
Phản ứng
Phản ứng
Phản ứng với
màu dd
riêng
màu với Iot
HNO3
Brom
- Khi hướng dẫn học sinh luyện tập, tôi đặc biệt chú ý đến các điều sau:
+ Đối với học sinh yếu chỉ nên yêu cầu các em làm các dạng toán thật cơ bản,
tính toán đơn giản, dựa vào tính chất hoá học, không nên đưa ra các dạng bài phức tạp
cần sử dụng các phương pháp giải nhanh, các định luật Hoá học…
+ Đảm bảo học sinh hiểu đề bài: Học sinh yếu kém nhiều khi vấp ngay từ bước
đầu tiên: không hiểu đề toán nói gì, không nắm được các chất phản ứng như thế nào,
chất nào được tạo thành, không viết được phương trình hoá học do không nắm được
tính chất hoá học của các chất do đó không thể tiếp tục quá trình giải toán. Vì vậy,
đầu tiên tôi giúp các em hiểu rõ đầu bài, hướng dẫn các em dựa vào tính chất hoá học
để viết phương trình phản ứng nếu cần thiết, nắm được dữ kiện đã cho, yêu cầu cần
tìm tạo điều kiện cho các em vượt qua sự vấp váp đầu tiên đó, từ đó giúp học sinh giải
được bài toán. Một điều quan trọng nữa là đối với đối tượng học sinh này, giáo viên
nhóm, theo dõi sát trong quá trình học cũng như sau mỗi bài kiểm tra, nếu nhóm nào
tiến bộ tôi tuyên dương và cộng điểm thưởng nhóm trưởng.
- Do thực hiện tăng thời gian nên giáo viên có điều kiện giảm tốc độ triển khai
bài mới, giãn chương trình do có các tiết tăng tiết. Theo chủ trương chung của nhà
trường, nhóm bộ môn thống nhất với nhau soạn phân phối chương trình riêng của nhà
trường căn cứ trên phân phối chương trình chung của Bộ, của Sở phù hợp với đặc
điểm tình hình nhà trường. Giáo viên sẽ bố trí thêm các tiết tăng vào khung giới hạn
thời gian cho một chương, sau đó phân bố lại, chú trọng dành nhiều thời gian hơn cho
những bài quan trọng.
Ví dụ: Giáo viên dành nhiều thời gian hơn để triển khai và luyện tập các bài như:
Este (chương 1), Glucozơ (chương 2), Tính chất của kim loại – Dãy điện hoá của kim
loại (chương 5).
- Giáo viên tổ chức cho học sinh luyện tập ở nhà kết hợp với các giờ luyện tập
trên lớp.
Ví dụ: Trong khi giảng dạy, tôi kết hợp cùng với giáo viên dạy cùng khối soạn
hệ thống câu hỏi trắc nghiệm để học sinh có tài liệu luyện tập thêm ở nhà. Đối với giờ
luyện tập trên lớp, tôi chỉ hướng dẫn học sinh làm một vài bài trong sách giáo khoa
bởi vì số lượng bài tập trong sách giáo khoa Hoá học 12 rất ít, không có nhiều bài tập
đi sâu vào kiến thức trọng tâm, rất ít bài tập phù hợp với trình độ của học sinh yếu
kém. Vì thế, trong giờ luyện tập trên lớp, tôi tổ chức cho học sinh học theo nhóm, trả
lời các câu hỏi trong tài liệu, chú trọng vào câu hỏi lý thuyết bởi vì tôi chỉ yêu cầu đối
15
tượng học sinh yếu chỉ cần nắm được lý thuyết là đạt yêu cầu, bên cạnh đó cũng bởi
vì chủ yếu thi Tốt nghiệp THPT có đến 80% là câu hỏi lý thuyết. Sau khi cho các em
học theo nhóm, tôi yếu cầu học sinh lần lượt đứng tại chỗ trả lời các câu hỏi, cách tổ
chức này vửa tạo cho học sinh làm việc tích cực, giúp đỡ lẫn nhau, vừa tiết kiệm thời
gian, trong 1 tiết có thể sửa được 30 đến 40 câu hỏi lý thuyết trong chương. Còn đối
với bài tập, nếu có thời gian tôi yêu cầu học sinh lên bảng giải một số bài tập đơn
giản nhằm giúp các em nắm được kiến thức cơ bản, cho các em làm đi làm lại nhiều
lần một dạng bài tập để học sinh yếu kém có thể hình thành được kỹ năng giải bài tập.
Khi ứng dụng một công thức phải hướng dẫn các em cách hoán đổi các đại lượng
trong công thức, đổi đơn vị từ ml ra lít… nếu được có thể yêu cầu các em học thuộc
các công thức.
16
m
M
V
Từ công thức tính số mol chất khí ở điều kiện tiêu chuẩn n =
→ V = n . 22,4
22,4
Ví dụ: Từ công thức tính khối lượng m = n . M → n =
(V: thể tích chất khí đo ở điều kiện tiêu chuẩn)
- Bên cạnh phương pháp giảng dạy, xác định trọng tâm trong từng bài, giáo viên
phải xác định kiến thức cơ bản tổng quát nhất của chương trình, tóm tắt lại những gì
cốt lõi mà học sinh cần nắm. Không yêu cầu cao nơi các em, chỉ yêu cầu những cái
thật cơ bản theo chuẩn kiến thức, kỹ năng ở mức độ biết, hiểu.
Ví dụ: Khi học bài Kim loại kiềm, giáo viên chỉ yêu cầu học sinh biết được :
Vị trí, cấu hình electron lớp ngoài cùng của kim loại kiềm.
Hiểu được :
Tính chất vật lí (mềm, khối lượng riêng nhỏ, nhiệt độ nóng chảy thấp).
Tính chất hoá học : Tính khử mạnh nhất trong số các kim loại (phản ứng với
nước, axit, phi kim).
Trạng thái tự nhiên của NaCl.
Phương pháp điều chế kim loại kiềm (điện phân muối halogenua nóng
có thể sữa chữa những con điểm xấu, từ đó tạo tâm lí cho học sinh cảm thấy có động
lực học và thấy bản thân có khả năng học nên sẽ cố gắng hơn trong thời gian tới.
- Giao bài tập về nhà, số lượng phù hợp, mức độ cơ bản. Tiết học sau yêu cầu
học sinh làm, nếu học sinh chưa làm yêu cầu ở lại sau tiết học, làm xong các bài tập
thì học sinh mới được về.
Ví dụ: Giáo viên phối hợp chặt chẽ với giáo viên được nhà trường phân công
kiểm tra bài cho học sinh sau buổi học thông qua sổ theo dõi với những thông tin sau:
Stt
Môn
Mã số HS
Nội dung cần học lại
Xác nhận của
GV phụ trách
- Khi giảng dạy, tôi thường xuyên theo dõi sự chú ý của học sinh yếu kém, kiểm
tra kịp thời sự tiếp thu bài giảng phần hướng dẫn bài tập tôi thường làm cụ thể hơn đối
với các học sinh này.
- Mọi nhiệm vụ được giao cho các em cần được kiểm tra cụ thể, các sai lầm mắc
phải luôn được tôi phân tích và sữa chữa. Khuyến khích, động viên đúng lúc khi các
em đạt kết quả (dù khiêm tốn), đồng thời cũng phải phân tích, phê phán đúng mức
thái độ vô trách nhiệm hoặc lơ là đối với nhiệm vụ học tập được giao. Nhưng giáo
viên phải cố gắng tránh thái độ, lời nói chạm tới lòng tự ái hoặc mặc cảm của học
sinh.
- Đối với học sinh lười học, để kích thích việc học tập của các em thì người giáo
viên phải tạo những tình huống có vấn đề, là mâu thuẫn giữa kiến thức cần phải đạt
đến với những kiến thức đã có, gây nên cho các em một trạng thái tâm lý cảm thấy vô
tượng tiếp thu, hình thành giáo án theo hướng phát huy tính tích cực chủ động của học
sinh, phải mang tính hợp lý và hài hoà, nhẹ nhàng, đôi lúc có khôi hài nhưng sâu sắc,
vẫn đảm nhiệm được mục đích học môn Hoá học. Tuy nhiên thời gian dành cho vấn
đề này là không nhiều, "nó như thứ gia vị trong đời sống không thể thay cho thức ăn
nhưng thiếu nó thì kém đi hiệu quả ăn uống ".
Ví dụ: Khi học bài bài Peptit và Protein, giáo viên có thể cung cấp một số thông
tin gây hứng thú, tò mò cho học sinh như: Một số thức ăn không nên dùng chung với
nhau:
+ Đậu nành ăn với mật ong
Ai cũng biết mật ong là thực phẩm và cũng là vị thuốc bổ tuyệt vời. Nhiều chị
dùng sữa bò trộn mật ong đắp lên mặt thì da mịn màng, trắng sáng. Nhưng nếu lấy
mật ong hòa chung với sữa đậu nành để uống thì mật ong sẽ làm đông vón protein
trong đậu nành. Đang từ một loại sữa dễ tiêu hóa nay hỗn hợp cứ “đứng” trong bao tử
tạo ra trạng thái “Đi cũng dở, ở không xong” mà cứ “lình bình”, khiến ai nấy đều ở
trong trạng thái “tức thở”. Hai món này được xếp vào hệ “tương khắc”.
19
Không nên uống sữa đậu nành chung với mật ong
Có người nấu sữa đậu nành nhưng đã không đun đến nhiệt độ sôi. Trong đậu nành
sống chứa enzym ngăn cản sự hoạt động của trypsin và còn có soyin là một protein có
độc tính ức chế hoạt động của hoocmon tuyến giáp, bởi vậy người ta bảo đậu nành
gây bướu cổ. Nhưng nếu nấu chín thì những chất này đều bị nhiệt phân hủy.
+ Chiên trứng vịt với tỏi
Từ lâu, dân ta vẫn truyền miệng rằng chiên trứng vịt không được dùng tỏi. Lí do là
tỏi có chứa một lượng tinh dầu tạo mùi khi gặp albumin của lòng trắng sẽ kết hợp sinh
ra sản phẩm độc. Alixin là một kháng sinh có tác dụng diệt khuẩn trong tỏi khi trộn
với lòng trắng trứng thì nó bị mất tác dụng hoàn toàn.
Đầu tiên, giáo viên bộ môn nói chung cũng như giáo viên Hoá học nói riêng tìm hiểu
thông qua Phiếu ý kiến của học sinh về các khó khăn của các em khi học môn Hoá
học, những nội dung nào cảm thấy khó hiểu, những kỹ năng nào không biết, phương
pháp dạy của giáo viên có phù hợp với trình độ chung của lớp chưa. Sau đó giáo viên
tự điều chỉnh những hạn chế chủ quan của bản thân nếu có đ6ng2 thơi phân công cho
một số học sinh khá trong lớp hoặc một số học sinh giỏi ở lớp 12A1 chuẩn bị và trao
đổi với các bạn trong lớp, trong khối về cách học từng bộ môn nói chung và môn Hoá
học nói riêng dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Ví dụ: Giáo viên có thể hướng dẫn học sinh đặc biệt là đối với học sinh yếu kém
cần chú trọng các vấn đề sau khi học môn Hoá như sau:
Học các vấn đề lý thuyết của hóa học : Cần nắm định nghĩa, khái niệm, quan
trọng hơn là phải hiểu được bản chất của vấn đề.
Bài học về các chất :
Cách học từng phần :
Tên gọi : nắm được cách gọi tên các chất (một chất có thể nhiều cách gọi tên :
Tên thông thường, tên thay thế).
Lí tính : thông thường ta chú ý nhớ trạng thái (rắn, lỏng , khí), màu sắc, tính tan,
mùi…
Cấu tạo : biết được đặc điểm cấu tạo của từng loại hợp chất, liên kết trong phân
tử của nó. Viết được công thức cấu tạo cho từng loại.
Hóa tính :
+ Dựa vào đặc điểm cấu tạo để suy ra các tính chất cơ bản. Từ hóa tính của chất tiêu
biểu, suy nghĩ để khái quát lên tính chất chung cho loại hợp chất đó. Ngược lại từ tính
chất chung suy ra tính chất của các chất cụ thể.
Ví dụ: Sau khi học chương Đại cương kim loại, học sinh biết vận dụng kiến thức
chung ở bài Tính chất của kim loại – Dãy điện hoá, Điều chế kim loại để suy ra tính
chất của các kim loại kiềm, kiềm thổ, Al, Fe và phương pháp điều chế chúng.
+ Với những chất tiêu biểu, khi học Hóa tính ta cần nhớ kĩ loại chất đó có thể cho
những loại phản ứng nào đặc trưng, tác dụng được với các loại chất nào.
Điều chế :
qua một năm thực nghiệm giảng dạy, tôi đã thấy có sự chuyển biến rõ rệt ở các học
sinh yếu kém. Các em đã nắm được những kiến thức tối thiểu của chương trình dành
cho học sinh. Các em đã mạnh dạn phát biểu ý kiến, biết cách tính toán. Đặc biệt, các
em đã bỏ qua được mặc cảm tự ti, biết trao đổi với cô giáo những chỗ mình chưa hiểu.
Sự tiến bộ của các em biểu hiện cụ thể qua điểm số, qua việc học sinh có ý thức học
bài ở lớp cũng như ở nhà. Vì thế cha mẹ học sinh yên tâm, tin tưởng vào nhà trường,
tích cực ủng hộ việc dạy học của nhà trường.
Trên đây là một số biện pháp mà tôi đã áp dụng để giúp học sinh của mình vượt
qua được tình trạng yếu kém môn Hoá học. Qua quá trình thực hiện tôi đã rút ra cho
mình một số bài học kinh nghiệm như sau:
- Để khắc phục tình trạng học sinh yếu kém ta vừa phải cố gắng nâng cao hiệu
quả giảng dạy ở trên lớp vừa phải tăng cường phụ đạo giúp đỡ riêng các học sinh yếu
kém ( ngoài giờ chính khóa) theo từng hóm đối tượng riêng. Lý do là vì trong các lớp
đồng loạt, dù giáo viên có cố gắng giảng dạy sát bốn loại đối tượng trên đến đâu đi
nữa thì việc truyền thụ kiến thức và luyện tập cũng cần phải được tiến hành theo trình
độ và nhịp chung của cả lớp, nếu quá chú ý đến đối tượng học sinh yếu, kém thì các
em khá, trung bình sẽ buồn chán, không muốn học, sinh ra các ý nghĩ và hành động
tiêu cực và dễ gây tâm lí chủ quan cho các em học sinh này vì nghĩ rằng mình đã hơn
các bạn khác.
22
- Giáo viên phải là người chịu khó, kiên trì, không nản lòng trước sự chậm tiến
của học sinh, phải biết phát hiện ra sự tiến bộ của các em cho dù là rất nhỏ để kịp thời
động viên khuyến khích làm niềm tin cho các em cầu tiến. Giáo viên phải là người
nhiệt tình, có trách nhiệm cao, cố gắng vì học sinh bởi vì việc thực hiện phụ đạo kèm
cặp cho học sinh tốn nhiều thời gian, công sức và tâm huyết.
- Nói tóm lại, kết quả tiến bộ của học sinh phụ thuộc chủ yếu vào năng lực và sự
nhiệt huyết của người giáo viên. Vì vậy, mỗi người giáo viên chúng ta cần cố gắng
hết mình để giáo dục con em trở thành những con người có ích cho xã hội.
phát huy khả năng tự học của mình. Cùng với lòng nhiệt thành của người thầy và sự
cố gắng, nỗ lực của chính bản thân các em thì chúng ta tin tưởng vào kết quả học tập
tốt nhất sẽ đến với các em.
23
Một số kinh nghiệm bản thân ghi ra ở đây với hy vọng rằng: Đây sẽ là một tài
liệu nhỏ để các quý đồng nghiệp có thể tham khảo, vận dụng trong những tình huống
sư phạm thích hợp. Hơn thế nữa, giúp đỡ học sinh yếu là nghĩa vụ, trách nhiệm của
người thầy. Hãy làm hết trách nhiệm bằng cái tâm của người thầy và hãy nhận lấy
trách nhiệm về mình.
Qua nhiều năm tận tụy với nghề, hết lòng yêu nghề, mến trẻ. Thực hiện phương
châm “Tất cả vì học sinh thân yêu”, kết hợp với kinh nghiệm của bản thân và sự chia
sẻ của bạn bè đồng nghiệp, bản thân luôn hoàn thành tốt việc giúp đỡ đối tượng học
sinh yếu. Đây là một trong những tác động lớn đưa bản thân đến việc tìm hiểu đề tài
thiết thực hơn và thực hiện viết sáng kiến kinh nghiệm đạt kết quả cao nhất.
Qua quá trình thực hiện ở lớp 12A2 năm học 2011 – 2012, tôi nhận thấy rằng các
em rất hứng thú với các thông tin thực tế, tiến bộ hơn trong việc vận dụng lý thuyết để
giải thích các hiện tượng thực tế, thu được kết quả cụ thể như sau:
KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN HOÁ CỦA HỌC SINH YẾU KÉM LỚP 12A2
Stt Họ và tên
Điểm KS Bài 1 Bài
Thi Bài 1 Bài 1 Thi
chất lượng tiết
1 tiết HK tiết
tiết
HK
đầu năm
lần 1 lần 2 I
lần 3 lần 4 II
5.7
5.5
5
Choóng Tịch Coỏng
3.0
3.3
3.7
4.0 4.0
4.7
5.5
6
Hoàng Nàm Cú
2.5
3.0
3.0
3.5 4.3
5.0
6.0
7
Chu Trí Cường
2.0
2.7
3.0
5.0 4.7
5.3
6.0
8
Lầm Mằn Dếnh
2.5
3.3
4.7
5.5
13 Lìu Cỏn Hếnh
2.5
4.0
5.0
5.5 5.0
5.3
5.5
14 Vòng Gia Hào
1.5
3.5
5.0
5.0 4.7
5.0
5.5
IV. ĐỀ XUẤT, KHUYẾN NGHỊ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
- Tuyển dụng đủ giáo viên để mỗi giáo viên chỉ dạy đúng số tiết theo quy định,
giáo viên có thời gian và công sức tập trung cho công tác phụ đạo học sinh yếu kém.
- Do nhà trường tổ chức học hai buổi nên nhiều giáo viên mặc dù rất nhiệt tình
nhưng không thể thực hiện liên tục nên nhà trường tiếp tục duy trì việc phân công
giáo viên kiểm tra bài đối với những học sinh không học bài, không làm bài tập sau
mỗi buổi học ở các năm học tới. Nhà trường có thể huy động nguồn kinh phí hỗ trợ từ
Hội Cha mẹ học sinh để duy trì công tác này xuyên suốt năm học.
24