NCKH Giảm tỉ lệ học sinh yếu kém môn Ngữ văn 12 qua hướng dẫn phương pháp tự học bộ môn - Pdf 28

Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
I.TĨM TẮT ĐỀ TÀI:
Trước tình hình dạy và học hiện nay, việc đổi mới phương pháp giảng dạy
mơn Ngữ văn đang thực sự là yếu tố quyết định hiệu quả cho tiết dạy. Phương pháp
giảng dạy mới các phương pháp giảng dạy truyền thống cơ bản ở mối quan hệ giữa
giáo viên và học sinh trong giờ học. Người giáo viên khơng còn là người truyền thụ
kiến thức một chiều mà là người hướng dẫn học sinh chủ động trong q trình lĩnh
hội kiến thức, rèn luyện tồn vẹn về tư duy, tình cảm, tâm hồn.
Song, việc thực hiện phương pháp tự học cho học sinh lớp 12 khơng dễ dàng
trong q trình dạy mơn Ngữ văn. Đặc biệt cho học sinh yếu kém ở trường Nguyễn
Trung Trực càng gặp nhiều khó khăn trong việc phát huy tính tích cực chủ động của
học sinh. Học sinh thường thụ động khơng thích học mơn Ngữ văn, khơng cảm thấy
hứng thú đối với tiết học. Tình hình thực tế đó đòi hỏi người giáo viên phải suy
nghĩ, tìm tòi những biện pháp cụ thể làm cho tiết dạy Ngữ văn lơi cuốn học sinh,
phát huy được tính tích cực chủ động của người học hướng đến hiệu quả tối đa của
tiết dạy. Từ thực tế giảng dạy chúng tơi nhận thấy muốn tiết dạy đạt hiệu quả cao
cho học sinh yếu kém lớp 12, người giáo viên tìm cách khơi dậy được phương pháp
học tập và làm thế nào để các em nắm vững kiến thức một cách chắc chắn vận dụng
vào làm văn, từ đó mới phát huy thực sự tính chủ động, tích cực, sáng tạo của học
sinh, thực tế đã chứng minh rằng khi giáo viên khơi gợi được hứng thú phương
pháp học tập thì hiệu quả tiết dạy trên lớp được nâng cao, học sinh thực sự tích cực
chủ động trong q trình tự học.
Với những mục tiêu trên đã thơi thúc tơi viết đề tài này nhằm nâng cao chất
lượng học sinh lớp 12 thi tốt nghiệp, phạm vi đề tài đề cập đến một số phương pháp
tự học của học sinh vận dụng vào việc giảng dạy phần văn học Việt Nam lớp 12 là
nhiệm vụ quan trọng của chương trình. Nghiên cứu được tiến hành trên 2 lớp tương
đương của trường THPT Nguyễn Trung Trực (lớp 12C
1
là lớp thực nghiệm, lớp
12C
5

– Học sinh chưa tự giác xây dựng bài mới.
– Khả năng suy nghĩ độc lập phát biểu chưa cao.
– Học sinh thiếu chủ động, sáng tạo soạn bài tham gia xây dựng bài học.
Ngay từ khi được phân cơng dạy lớp 12C
1
, 12C
5
từ năm 2014 - 2015 tơi đã
được thực nghiệm đề tài nghiên cứu khoa học 2 lớp nhiều điểm tương đồng. Như
vậy, qua thực nghiệm những gì rút ra được ở 2 lớp này tơi mạnh dạn áp dụng
nghiên cứu đề tài này nhằm nâng cao kết quả học tập của học sinh. Để nắm được
thực trạng tình hình học tập nhất là phương pháp tự học mơn Ngữ văn tơi đã vận
dụng một số giải pháp, kết hợp kết quả học tập của 2 lớp đầu năm học 2014 - 2015.
Lớp TS Kém Yếu
Trung
bình
Khá Giỏi
12C
1
36 02 13 21 0 0
12C
5
35 0 14 19 02 0
3.Giải pháp thay thế.
Người thực hiện: Nguyễn Thò Thùy Phương Trang 2
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên sử dụng một số biện pháp: soạn hệ thống câu hỏi tự học và đáp án,
phổ biến hệ thống câu hỏi đến học sinh và hướng dẫn các em làm đề cương Giáo
viên kết hợp ra câu hỏi cụ thể áp dụng tốt ở tiết dạy bồi dưỡng giúp học sinh học tốt
mơn Ngữ văn.

kiểm tra trước tác động).
Lớp Số học sinh Nam Nữ
12C
1
36 15 21
12C
5
35 17 18
Ý thức học tập tại lớp: Ngoan, tích cực, chủ động tham gia học tập. Bên cạnh 2
lớp còn nhiều học sinh tư duy còn hạn chế, ít tham gia các hoạt động chung của lớp.
Ở thiết kế này, tơi sử dụng kiểm chứng T-test độc lập.
2.Thiết kế nghiên cứu: Kiểm tra trước và sau tác động các lóp tương đương.
– Bài kiểm tra trước tác động: Bài kiểm tra học kì I do Sở Giáo dục và Đào tạo
Tây Ninh ra đề - đáp án.
– Bài kiểm tra sau tác động: Bài kiểm tra tập trung giữa HKII, thời gian 90
phút do tổ chun mơn thống nhất.
Người thực hiện: Nguyễn Thò Thùy Phương Trang 3
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
– Tiến hành kiểm tra tập trung và chấm bài.
KT trước tác
động
Tác động
KT sau tác
động
Lớp 12C
1
O1
Thiết kế bài dạy có sử dụng phương
pháp tự học.
O3

đối chứng 12C
5
Lớp
thực nghiệm 12C
1
P sau tác động 0.0001
Người thực hiện: Nguyễn Thò Thùy Phương Trang 4
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Độ lệch chuẩn 0.87 0.92
Giá trị trung bình 5.45 6.33
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD 0.94
* Biểu đồ:
Biểu đồ so sánh điểm trung bình trước tác động và sau tác động
của nhóm thực nghiệm và lớp đối chứng.
Từ kết quả nghiên cứu, ta thấy kết quả 2 lớp trước tác động là hồn tồn tương
đương. Sau khi có tác động “Phương pháp tự học Ngữ văn lớp 12C
1

. Kết quả hồn
tồn khả quan. Bằng phép kiểm chứng T-test để kiểm chứng điểm trung bình cho
kết quả P = 0.0001 thấy độ lệch trung bình có ý nghĩa. Điều này minh chứng điểm
trung bình lớp thực nghiệm là 6.33, cao hơn lớp đối chứng là 5.45 khơng phải ngẫu
nhiên mà do có tác động. Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 0.94 mức độ
ảnh hưởng là rất lớn.
Tổng hợp phần trăm kết quả theo thang bậc: Kém, yếu, trung bình, khá, giỏi,
kết quả lớp thực nghiệm lớp 12C
1
.
Lớp 12C
1

– Việc xây dựng phương pháp tự học cần được tiến hành tất cả các khâu trong
q trình dạy và học: từ khâu rèn cho các em thói quen tích luỹ tư liệu văn học; thói
quen đọc, tóm tắt ghi chép tư liệu, ghi chép bài giảng một cách sáng tạo, thói quen
rèn kỹ năng viết - nói - đọc từ đúng đến hay. Đó là con đường ngắn nhất để đi tới
chất lượng học tập mơn Ngữ văn hiện nay.
– Tuỳ theo từng đối tượng cụ thể, mỗi thầy cơ giáo cần có những giải pháp cụ
thể phù hợp với thực tế học sinh của mình. Riêng với học sinh THPT Nguyễn Trung
Trực, tơi cho rằng bằng phương pháp tự học đã làm chất lượng mơn Ngữ văn nâng
lên, số lượng học sinh yếu kém giảm xuống nhiều.
2.Kiến nghị:
2.1.Đối với cấp lãnh đạo:
Cần quan tâm, động viên thêm những giáo viên có nhiều thành tích thi đua
trong việc dạy và học.
2.2.Đối với giáo viên:
Tích cực tự học, sưu tầm tài liệu trên Internet và tự bồi dưỡng thơng tin phải
khơng ngừng học tập và nâng cao trình độ chun mơn nghiệp vụ.
Người thực hiện: Nguyễn Thò Thùy Phương Trang 7
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ GD&ĐT: Tài liệu tập huấn nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng của
Bộ Giáo dục và Đào tạo (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội)
2. Sách giáo khoa Ngữ văn 12 - Tập 1,2 Trần Đăng Suyền (Nhà xuất bản Giáo
dục)
3. Sách giáo viên Ngữ văn 12 - Tập 1,2 Trần Đăng Suyền (Nhà xuất bản Giáo
dục)
4. Đổi mới việc dạy và học mơn Ngữ văn "Lấy học sinh làm trọng tâm) Hội
Giáo dục Đại học Quốc gia trường ĐHSP.

Người thực hiện: Nguyễn Thò Thùy Phương Trang 8
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng

+ Văn xi: Tóm tắt truyện, kèm theo chi tiết tiêu biểu.
Sau khi ghi chép xong, lưu trữ trong “túi”, “sổ tay”. Cho đến nay qua 2
vòng thi khảo sát chất lượng, các em ở lớp tơi dạy ít nhất 1 túi, 2 tập sổ tay trở lên.
Người thực hiện: Nguyễn Thò Thùy Phương Trang 9
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
c.Kế hoạch kiểm tra:
Cuối tuần, giáo viên thu “sổ tay”, để kiểm tra các em có thực hiện đúng “tiến
độ” ghi chép tích luỹ theo qui định hay khơng? Và để kiểm tra xem HS có “hiểu”
được những gì đã sưu tầm và tự học khơng? Sau đó giáo viên hướng dẫn các em lại,
cùng sửa chữa đóng góp trong tập thể và chỉ ra nét đặc sắc nghệ thuật - nội dung
của văn bản. Làm tốt khâu này là có tác dụng khuyến khích các em có hăng hái
"sưu tầm" và động viên các em thêm bằng cách cho điểm vào sổ điểm.
d.Ví dụ minh họa: “Rừng xà nu” (Nguyễn Trung Thành)
Sau khi đọc tác phẩm xong, học sinh tóm được ý chính, kèm theo chi tiết qua
tác phẩm, phần minh họa như sau:
* Tóm tắt:
– Truyện kể về Tnú, sau 3 năm đi lực lượng về phép thăm nhà gặp Bé Heng
đưa đến bn làng. Tối đó, cụ Mết tập trung dân làng ở nhà ưng kể cho dân làng
nghe.
– Tnú mồ cơi cha mẹ từ nhỏ, sớm gắn bó với cách mạng, nhiều lần hồn thành
tốt cơng việc giao liên. Có lần Tnú bị bắt nhưng quyết định khơng khai.
– Sau đó, Tnú vượt ngục về cùng cụ Mết tập hợp dân làng vùng lên đánh giặc.
Thời gian đó giặc càn qt bắt mẹ con Mai đánh đến chết, Tnú xơng ra và bị giặc
bắt Tnú đốt 10 đầu ngón tay.
– Đêm đó dân làng vùng lên cứu Tnú.
* Lưu trữ ghi chép tư liệu để vận dụng vào bài làm:
– Nhân vật Tnú:
+ Gan góc: “Khi còn nhỏ cùng Mai vào rừng tiếp tế cho cán bộ Quyết”
+ Lòng trung thành với cách mạng: “bị giặc bắt, tra tấn, lưng Tnú ngang
dọc vết dao chém của kẻ thù nhưng anh vẫn gan góc trung thành”.

b.Khâu ghi bài:
Giáo viên hướng dẫn các em một số ý sau:
– Khi nghe ý kiến học sinh trình bày, lời chốt lại của giáo viên về ý chính,
khơng cần ghi từng câu, chữ, mà chỉ ghi ý chính của thầy, còn lời văn diễn đạt là
của mình.
– Khi học bài, có thể nhìn ý chính "phác thảo" sơ đồ bài giảng trên lớp của
thầy cơ lại, cách ghi chép này cũng tạo cho việc tự học của học sinh tốt nhất.
– Để ghi bài nhanh, giáo viên hướng dẫn học sinh một số "tín hiệu" hoặc kí tự
khi chép, ví dụ cụ thể bằng cách dấu câu đầu dòng.
Ví dụ: Luận điểm: " - " ; Luận cứ: "+"
Bước 3: Hướng dẫn học sinh học bài và giáo viên kiểm tra:
a. Học sinh học bài:
Người thực hiện: Nguyễn Thò Thùy Phương Trang 11
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Giáo viên lưu ý học sinh học bài nên chú ý vấn đề sau đây: Học sinh học theo
từng phần, trong một phần chia theo từng cụm câu hỏi hoặc dàn ý đại cương của các
bài học có dạng giống nhau để học sinh học dễ thuộc, tránh hiện tượng tượng học
tủ, lệch. Thường học sinh hay có ý nếu nhìn thấy nội dung bài nhiều ngán bỏ qua
ln, nên giáo viên hướng dẫn học sinh phương pháp tự học bộ mơn
Ví dụ minh họa: “Vợ chồng A Phủ” (Tơ Hồi) phần văn học Việt Nam.
Nhân vật Mị:
Gợi ý:
– Cảnh ngộ của nhân vật Mị
+ Mị là con dâu gạt nợ của nhà thống lí: cha mẹ nghèo, khơng trả được nợ
(món nợ từ ngày cưới, lớn dần lên vì nặng lãi). Mị phải làm dâu gạt nợ cho cha mẹ.
+ Ở nhà thống lí, Mị phải sống kiếp trâu ngựa, suốt ngày “lầm lũi như con
rùa trong xó cửa” Thực chất Mị là một thân phận nộ lệ.
– Tâm trạng và hành động của Mị cho thấy, trong Mị có một sức sống tiềm
tàng vẫn ln âm ỉ, đó là khát vọng tự do, khát vọng hạnh phúc dẫu còn tự phát và
bản năng. Khát vọng đó rất mãnh liệt và khi có cơ hội sẽ bùng phát.

+ Rượu là chất xúc tác trực tiếp để tâm hồn u đời, khát sống của Mị trỗi
dậy. “Mị đã lấy hũ rượu uống ừng ực từng bát một”. Mị vừa như uống cho hả giận
vừa như uống hận, nuốt hận. Hơi men đã dìu tâm hồn Mị theo tiếng sáo.
+ Trong đoạn diễn tả tâm trạng hồi sinh của Mị, tiếng sáo có một vai trò đặc
biệt quan trọng.
“Mị nghe tiếng sáo vọng lại, thiết tha, bồi hồi. Mị ngồi nhẩm thầm bài hát
của người đang thổi”. “Ngày trước, Mị thổi sáo giỏi Mị uốn chiếc lá trên mơi,
thổi lá cũng hay như thổi sáo. Có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi
theo Mị hết núi này sang núi khác”.
“Tiếng sáo gọi bạn cứ thiết tha, bồi hồi”, “ngồi đầu núi lấp ló đã có tiếng
ai thổi sáo”, “tai Mị vẳng tiếng sáo gọi bạn đầu làng”, “mà tiếng sáo gọi bạn u
vẫn lửng lơ bay ngồi đường”, “Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị đi theo những cuộc
chơi, những đám chơi”, “trong đầu Mị rập rờn tiếng sáo”
Tơ Hồi đã miêu tả tiếng sáo như một dụng ý nghệ thuật để lay tỉnh tâm hồn
Mị. Tiếng sáo là biểu tượng của khát vọng tình u tự do, đã theo sát diễn biến tâm
trạng Mị, là ngọn gió thổi bùng lên đống lửa tưởng đã nguội tắt. Thoạt tiên, tiếng
sáo còn “lấp ló” , “lửng lờ” đầu núi, ngồi đường. Sau đó, tiếng sáo đã thâm nhập
vào thế giới nội tâm của Mị và cuối cùng tiếng sáo trở thành lời mời gọi tha thiết để
rồi tâm hồn Mị bay theo tiếng sáo.
– Diễn biến tâm trạng Mị trong đêm tình mùa xn:
+ Dấu hiệu đầu tiên của việc sống lại đó là Mị nhớ lại q khứ, nhớ về hạnh
phúc ngắn ngủi trong cuộc đời tuổi trẻ của mình và niềm ham sống trở lại “Mị thấy
phơi phới trở lại, lòng đột nhiên vui sướng như những đêm tết ngày trước”, “Mị
còn trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ lắm. Mị muốn đi chơi”. Mị đã ý thức được tình cảnh đau
xót của mình: “nếu có nắm lá ngón trong tay. Mị sẽ ăn cho chết”.
Người thực hiện: Nguyễn Thò Thùy Phương Trang 13
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
+ Từ những sơi sục trong tâm tư đã dẫn Mị tới hành động “lấy ống mỡ xắn
một miếng bỏ thêm vào đĩa dầu”. Mị muốn thắp lên ánh sáng cho căn phòng bấy
lâu chỉ là bóng tối. Mị muốn thắp lên ánh sáng cho cuộc đời tăm tối của mình.

Người thực hiện: Nguyễn Thò Thùy Phương Trang 14
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
– Học sinh thường ngại học thuộc lòng, tuy thế việc học bằng dàn ý chuẩn bị
các tài liệu photo của bạn, nên tơi kiên quyết kiểm tra từng em một.
– Một bảng đen tơi chia 6 cột, giáo viên gọi 6 học sinh lên bảng ghi với u
cầu mà giáo viên đặt ra.
– Học sinh lên bảng ghi xong, giáo viên gọi tiếp học sinh ngồi dưới nhận xét
đúng sai rồi giáo viên kết luận cho điểm cả 2 học sinh.
– Trong kiểm tra từng câu hỏi, giáo viên bộ mơn hướng dẫn học sinh có sổ
theo dõi từng câu, đánh vào ơ đó, câu nào khơng thuộc giờ sau kiểm tiếp.
* Kiểm tra nhóm:
– Buổi chiều tiết học bồi dưỡng, giáo viên bộ mơn phân loại 2 đối tượng: một
nhóm học sinh trung bình, khá và một nhóm yếu, kém.
+ Nhóm trung bình, khá: 5,0 điểm trở lên.
+ Nhóm yếu, kém: 5,0 điểm trở xuống.
– Mục đích phân loại là giáo viên kiểm nhóm yếu, kém; nhóm trung bình, khá
giáo viên phân chéo 2 học sinh kiểm với nhau. Trong kiểm tra có khen và đánh giá
cho điểm để khích lệ trong học tập, tránh hiện tượng lười học.
* Kiểm tra đi, kiểm tra lại:
– Việc này giống như trò chơi ú tim, thường học sinh có điểm rồi hay chủ
quan, trò chơi này buộc học sinh thường xun học bài.
* Kết hợp kiểm tra với động viên:
– Động viên kịp thời, hình thức khen đúng chỗ, bằng cách thưởng điểm. Nếu
giáo viên khen đúng chỗ thì cũng có thể khích lệ sự tự học của các em, có khi phát
hiện chỗ nhỏ (đối với học sinh yếu) cũng học thuộc thì giáo viên khen ngay để học
sinh thấy bản thân khơng q yếu như thế gieo được hy vọng, hơn nữa giáo viên
làm như vậy mà các em phấn khởi trong việc tự học ngày càng cao hơn.
Ví dụ: Trường hợp em Nguyễn Thanh Tuấn lớp 12C
5
tơi chủ nhiệm, trong một

Ví dụ: Lớp 12C
1
có 36 HS, 12C
5
có 35 HS, giáo viên sẽ chia lớp 12C
1
thành 4
nhóm (mỗi nhóm có 09 HS), riêng 12C
5
có 01 nhóm 08 HS). Trong 08 HS của một
nhóm sẽ có 04 HS giỏi khá 01 HS khá làm trưởng nhóm. Từ 09 HS nhóm lớn chia
thành 4 cặp đơi nhỏ.
Câu hỏi truy bài chéo nhau, giáo viên đưa ra cụ thể trong hai tiết học phải dò
xong 5 câu hỏi có điểm giống nhau về dạng câu hỏi nhưng nội dung trả lời khác
nhau.
Ví dụ: Cặp đơi (2HS) truy bài:
– Trúc – Cẩm Xn.
– Kim Giàu- Thanh Tuấn
– Cẩm Tú – Thanh Duy.
Ví dụ: Câu hỏi có dạng giống nhau - nội dung bài học khác nhau:
– “Nghệ thuật đặc sắc” của 5 bài một lượt, như vậy học sinh sẽ truy bài hết
một lần trong 2 tiết học.
Người thực hiện: Nguyễn Thò Thùy Phương Trang 16
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
Như bài: Vợ chồng A Phủ (Tơ Hồi), Vợ nhặt (Kim Lân), Rừng xà nu
(Nguyễn Trung Thành), Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi), Chiếc thuyền
ngồi xa (Nguyễn Minh Châu),
Câu hỏi: Em hãy trình bày nghệ thuật đặc sắc của bài “Rừng xà nu” của
Nguyễn Trung Thành?
Đáp án:

đúng và tập soạn bài đầy đủ tốt, giáo viên nêu tun dương trước lớp và cho điểm
tối đa.
+ Nếu học sinh khơng làm đề cương: Giáo viên cần tìm ngun nhân, lí do
để uốn nắn kịp thời. Nếu lí do lười học thật sự, giáo viên có biện pháp như sau:
Cho chép phạt 5 lần nội dung đã học và buộc học thuộc (khi học sinh nộp
phạt, giáo viên cần kiểm tra chữ viết của học sinh) báo cho giáo viên chủ nhiệm
biết.
Nếu tái phạm (lần 2,3), giáo viên bộ mơn trao đổi với giáo viên chủ
nhiệm, nêu tên trước lớp 2 lần mời phụ huynh học sinh vào để trao đổi.
– Kiểm tra khâu soạn bài:
+ Học sinh soạn theo phần hướng dẫn học bài sách giáo khoa.
+ Soạn sạch đẹp, giáo viên động viên bằng cách cho điểm, tun dương.
+ Nếu khơng soạn bài thì chép 2 lần nộp vào tiết dạy tới.
– Kiểm tra khâu xây dựng bài trên lớp:
+ Học sinh yếu kém phát biểu ít nhất 1 lần/1 tuần học.
+ Học sinh trung bình phát biểu ít nhất 1 lần/1 tiết.
+ Nếu học sinh thụ động, giáo viên gợi ý dẫn dắt câu hỏi để học sinh dễ
dàng phát biểu tránh thụ động.
– Kiểm tra việc ghi bài trên lớp:
+ Ghi theo kí hiệu giáo viên quy định khi học bộ mơn.
+ Nếu khơng chép bài thì giáo viên nhắc nhở.
+ Nếu tái phạm thì bị chép phạt.
* Những phương pháp đã áp dụng cho đề tài này:
– Phương pháp trình bày trực quan.
Cho học sinh quan sát dạng tư liệu liên quan đến bài học như: nhận dạng tác
giả, tư liệu các nhân vật trong tác phẩm. Đối với học sinh “trăm nghe khơng bằng
mắt thấy” sẽ là đối tượng sâu sắc về bài học. Việc sử dụng phương pháp trực quan
sẽ giúp các em có chỗ dựa theo hoạt động tư duy.
Ví dụ: Tiết 58-59 bài: “Vợ nhặt” của Kim Lân.
Người thực hiện: Nguyễn Thò Thùy Phương Trang 18

KT
sau

1 Nguyễn Văn Anh 5 6 1 Nguyễn Thị Ngọc ánh 4 7
2 Phạm Thị Kim Anh 5 7 2 Đỗ Hồng Quốc Bảo 6 6.5
3 Trần Dun Anh 3.5 6 3 Trịnh Phát Bền 7 7
4 Lê Ngọc Duy 6 7.5 4 Lê Quốc Cường 5 5
5 Trương Bá Duy 5 7 5 Châu Thanh Duy 5 6.5
6 Lê Thị Mỹ Dun 4.5 6 6 Nguyễn Tấn Nhật Duy 5.5 5
7 Nguyễn Thị Bích Dun 2 4.5 7
Ngơ Quốc Dũng
5 4
8 Nguyễn Thị Mỹ Dun 6 8 8 Bùi Minh Đạt 5.5 5
9 Đặng Minh Dương 5 6 9 Võ Phước Đức 5 5.5
10 Phạm Thị Thùy Dương 4.5 6.5 10 Lê Thị Ngọc Giàu 6 7
11 Trần Minh Giàu 5 6 11 Phan Thị Kim Giàu 4.5 6
12 Huỳnh Minh Hằng 4 7 12 Trần Cơng Hậu 6.5 5.5
13 Trần Thị Ngọc Hân 4 6 13 Nguyễn Tấn Lực 5 5.5
14 Nguyễn Trường Khang 4 6.5 14 Nguyễn Thị Trúc Mai 4 6
15 Huỳnh Tấn Lộc 3 4.5 15 Nguyễn Thị Xn Mai 4 5.5
16 Nguyễn Minh Ln 5 6 16 Bùi Quốc Nghĩa 5 5
17 Lê Thị Ngọc Ngân 6 7.5 17 Lê Minh Nhân 5 6
18 Trần Lý Ngọc Ngân 5 6 18 Phạm Thị Hạnh Như 5 5.5
19 Phạm Anh Ngun 4.5 6.5 19 Nguyễn Thị Mỹ Oanh 3.5 4
20 Nguyễn Hồng Nhân 5.5 6 20 Trần Văn Phi 4 6.5
21 Phạm Tú Nhi 5 6 21 Huỳnh Thị Mỹ Phương 5 7.5
22 Nguyễn Thị Hồng Nhung 4.5 5.5 22 Nguyễn Hồng Sang 4 5
23 Trần Thị Mai Như 5 6 23 Huỳnh Phương Thanh 5 5
24 Đinh Thanh Nhựt 6 7 24 Võ Minh Thư 4 4.5
25 Nguyễn Minh Nhựt 4 5 25 Phan Thị Mến Thương 3.5 4.5

Những ngả đường bát ngát
Những dòng sơng đỏ nặng phù sa
Nước chúng ta
Nước những người chưa bao giờ khuất
Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất
Những buổi ngày xưa vọng nói về
(Đất Nước - Nguyễn Đình Thi, Ngữ văn 12,
Tập một, NXB Văn học, Hà Nội, 1997, tr.125)
Đọc đoạn thơ trên và thực hiện các u cầu sau:
1. Đoạn thơ thể hiện tâm tư, tình cảm gì của tác giả? (0,5 điểm)
2. Nêu ý nghĩa tu từ của từ láy “rì rầm” trong đoạn thơ (0,5 điểm)
3. Xác định các dạng của phép điệp trong đoạn thơ và nêu hiệu quả nghệ thuật của
chúng (1,0 đểm)
Câu 2. (8 điểm)
Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong truyện ngắn “Vợ chồng
A Phủ” của nhà văn Tơ Hồi. Qua đó anh (chị) hãy cho biết suy nghĩ của mình về
cuộc sống của người phụ nữ xưa và nay?
Người thực hiện: Nguyễn Thò Thùy Phương Trang 22
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
ĐÁP ÁN:
Câu 1:
Đọc đoạn thơ trong bài Đất Nước của Nguyễn Đình Thi và thực hiện các u
cầu.
u cầu chung:
– Câu này kiểm tra năng lực đọc hiểu văn bản của thí sinh; đòi hỏi thí sinh
phải huy động kiến thức và kĩ năng đọc hiểu một văn bản văn học thuộc thể thơ trữ
tình để làm bài.
– Đề khơng u cầu đọc hiểu mọi phương diện của đoạn trích, chỉ kiểm tra
một số khía cạnh. Cảm nhận của thí sinh có thể phong phú, nhưng cần nắm bắt
được tâm tình của tác giả, hiểu được giá trị biểu đạt của tiếng Việt, thấy được tác

ngắn “Vợ chồng A Phủ” học sinh có thể bày tỏ suy nghĩ của mình theo nhiều cách
nhưng cần làm rõ các ý chính cơ bản sau:
– Giới thiệu tác giả, tác phẩm và nhân vật Mị.
– Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị:
* Mị là cơ gái có ngoại hình đẹp và nhiều phẩm chất tốt.
* Số phận cuộc đời của Mị rất bất hạnh, phải sống kiếp “con dâu gạt nợ” ở nhà
thống lý Pá Tra.
* Trong Mị ln có sức sống tiềm tàng, sức phản kháng mãnh liệt.
+ Sức sống tiềm tàng bùng phát mạnh mẽ khi đêm tình mùa xn đến.
+ Sức sống tiềm tàng bùng phát mạnh mẽ trong đêm cởi trói cho A Phủ và bỏ
trốn.
– Nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật, ngơn ngữ
– Đánh giá chung
Cách cho điểm:
– Điểm 5 bài làm đáp ứng tốt các u cầu trên.
– Điểm 4, điểm bài làm đáp ứng tốt các u cầu trên, nhưng còn một vài sai
sót nhỏ.
– Điểm 2, 3 bài làm nắm được, các u cầu trên sai sót về nội dung và kĩ năng
khơng nhiều, phân tích chưa sâu.
– Điểm 1: bài làm sơ sài
b. Nghị luận xã hội (3 điểm)
Suy nghĩ về cuộc sống của người phụ nữ xưa và nay?
* Cuộc sống của người phụ nữ xưa:
– Người phụ nữ xưa hầu hết đều là những con người chất phác, hiền lành,
chăm chỉ lao động. Cuộc sống nghèo nàn, khó khăn. Thường chịu nhiều bi kịch.
Người thực hiện: Nguyễn Thò Thùy Phương Trang 24
Nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
– Sống nhẫn nhục, cam chịu số phận, nhưng trong họ vẫn có một sức sống
tiềm tàng sức phản kháng mãnh liệt.
* Cuộc sống của người phụ nữ nay:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status