SKKN một số kinh nghiệm phụ đạo học sinh yếu kém môn hóa học lớp 10 trường THPT - Pdf 30

MỤC LỤC
Trang
Mục lục 1
Một số từ viết tắt 2
Phần I. MỞ ĐẦU 4
1. Lí do chọn đề tài 4
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 4
2.1. Mục tiêu 4
2.2. Nhiệm vụ 4
3. Các phương pháp nghiên cứu 5
4. Đối tượng và khách thể của đề tài nghiên cứu 5
4.1. Đối tượng nghiên cứu 5
4.2. Khách thể 5
5. Giả thuyết khoa học 5
6. Lịch sử đề tài nghiên cứu 5
7. Giới hạn đề tài nghiên cứu 5
8. Kế hoạch tiến hành 5
PHẦN II: NỘI DUNG
1. Nghiên cứu thực trạng 6
1.1. Thuận lợi 6
1.2. Khó khăn 6
2. Xác định đối tượng học sinh yếu kém 6
3. Nguyên nhân dẫn đến học sinh yếu kém 7
3.1. Về phía học sinh 7
3.2. Về phía giáo viên 7
3.3. Về phía phụ huynh 8
4. Một số giải pháp phụ đạo học sinh yếu kém 8
4.1. Giải pháp chung 8
4.1.1. Xây dựng môi trường học tập thân thiện 8
4.1.2. Phân loại đối tượng học sinh 9
4.1.3. Giáo dục ý thức học tập cho học sinh 10

Đào tạo thế hệ trẻ trở thành những người năng động sáng tạo, độc
lập tiếp thu tri thức là một vấn đề mà nhiều nhà giáo dục đã và đang
quan tâm trong giai đoạn lịch sử hiện nay. Đổi mới phương pháp dạy học
được hiểu là tổ chức các hoạt động tích cực cho người học. Từ đó khơi
dậy và thúc đẩy lòng ham muốn, phát triển nhu cầu tìm tòi, khám phá,
chiếm lĩnh trong tự thân của người học từ đó phát triển, phát huy khả
năng tự học của họ. Trước vấn đề đó người giáo viên cần phải không
ngừng tìm tòi khám phá, khai thác, xây dựng hoạt động, vận dụng, sử
dụng phối hợp các phương pháp dạy học trong các giờ học sao cho phù
hợp với từng kiểu bài, từng đối tượng học sinh, xây dựng cho học sinh
một hướng tư duy chủ động, sáng tạo.
Bên cạnh đó, vấn đề học sinh yếu kém hiện nay cũng được xã hội
quan tâm và tìm giải pháp để khắc phục tình trạng này, để đưa nền giáo
dục đất nước ngày một phát triển toàn diện thì người giáo viên không chỉ
phải biết dạy mà còn phải biết tìm tòi phương pháp nhằm phát huy tính
tích cực của học sinh và hạ thấp dần tỉ lệ học sinh yếu kém.
Vấn đề nêu trên cũng là khó khăn với không ít giáo viên nhưng
ngược lại, giải quyết được điều này là góp phần xây dựng trong bản thân
mỗi giáo viên một phong cách và phương pháp dạy học hiện đại giúp cho
học sinh có hướng tư duy mới trong việc lĩnh hội kiến thức. Để nâng dần
chất lượng học sinh không phải là chuyện một sớm một chiều mà nó đòi
hỏi phải có sự kiên nhẫn và lòng quyết tâm của người giáo viên. Phụ đao
học sinh yếu kém phải được giáo viên quan tâm nhất là trong tình hình
học tập hiện nay của học sinh, nhưng phụ đao như thế nào, phương pháp
3 GV: Nguyễn Thị Thùy Liên
ra sao thì đó cũng là một vấn đề đòi hỏi giáo viên cần phải không ngừng
tìm hiểu.
Việc phụ đạo học sinh yếu kém bộ môn là một trong những vấn đề
rất quan trọng, cấp bách, cần thiết và không thể thiếu trong mỗi môn học
ở các cấp học nói chung và ở cấp Trung học phổ thông nói riêng. Ở giai

khăn (nếu có) nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.
3. Các phương pháp nghiên cứu
+ Nghiên cứu lí luận : nghiên cứu các tài liệu, các trang web, bài
viết,….có liên quan
+ Nghiên cứu thực nghiệm : Tìm hiểu nguyên nhân học sinh yếu
kém môn Hóa lớp 10 và đưa ra giải pháp phụ đạo.
4. Đối tượng và khách thể của đề tài nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu :
Các giải pháp phụ đạo học sinh yếu kém bộ môn Hóa học lớp
10
4.2. Khách thể :
Học sinh lớp 10 trường THPT Cao Lãnh 2.
5. Giả thuyết khoa học
- Đề tài nghiên cứu: các giải pháp phụ đạo học sinh yếu kém môn Hóa
học lớp 10 trường THPT Cao Lãnh 2
- Nếu đề tài thành công có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên
nhằm giúp học sinh yêu thích môn học hơn và nâng cao chất lượng giáo dục.
6. Lịch sử đề tài nghiên cứu
Đề tài này chưa từng có ai nghiên cứu, nên tôi khai thác để làm cơ
sở lí luận và thực tiễn, làm tài liệu tham khảo cho bản thân, cho giáo
viên và HS.
5 GV: Nguyễn Thị Thùy Liên
7. Giới hạn đề tài nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trong phạm vi:
- Tìm hiểu các nguyên nhân học sinh yếu kém môn Hóa
- Các giải pháp phụ đạo học sinh yếu kém môn Hóa lớp 10.
8. Kế hoạch tiến hành
STT Thời gian Nội dung công việc
1 Tuần 1 Lập đề cương
2 Tuần 2 Xây dựng cơ sở lí thuyết của đề tài

- Căn cứ 1: Điểm bộ môn Hóa của năm học, tham khảo thêm điểm một số
môn học có liên quan ví dụ như Toán, Lý.
- Căn cứ 2: Không thể dựa hoàn toàn vào điểm bộ môn của năm học qua mà
phải kết hợp với những biểu hiện và quá trình học tập trên lớp, các con điểm
hiện tại…
3. Nguyên nhân dẫn đến học sinh yếu kém
3.1. Về phía học sinh
Học sinh là người học, là người lĩnh hội những tri thức thì nguyên
nhân học sinh yếu kém có thể kể đến là do :
- Học sinh lười học: Qua quá trình giảng dạy, bản thân nhận thấy rằng
các em học sinh yếu kém là những học sinh cá biệt, vào lớp không chịu chú ý
chuyên tâm vào việc học, về nhà thì không xem bài, không chuẩn bị bài,
không làm bài tập, cứ đến giờ học thì cắp sách đến trường. Còn một bộ phận
nhỏ thì các em không xác định được mục đích của việc học. Các em chỉ đợi
đến khi lên lớp, nghe giáo viên giảng bài rồi ghi vào những nội dung đã học
sau đó về nhà lấy tập ra “học vẹt” mà không hiểu được nội dung đó nói lên
điều gì. Chưa có phương pháp và động cơ học tập đúng đắn.
- Học sinh không có thời gian cho việc tự học: Đa số học sinh của
trường đều ở nông thôn, gia đình chủ yếu là sống bằng nghề nông, các em ở
7 GV: Nguyễn Thị Thùy Liên
nhà phải phụ giúp gia đình việc đồng án, chăn nuôi; thậm chí có học sinh phải
đi làm thêm trái buổi để kiếm tiền ăn học.
- Học sinh bị hỏng kiến thức từ lớp nhỏ: Đây là một điều không thể phủ
nhận với chương trình học tập hiện nay. Nguyên nhân này có thể nói đến một
phần lỗi của giáo viên là chưa đánh giá đúng trình độ của học sinh.
3.2. Về phía giáo viên
Nguyên nhân học sinh học yếu không phải hoàn toàn là ở học sinh mà
một phần ảnh hưởng không nhỏ là ở người giáo viên:
- Còn một số GV chưa nắm chắc những những yêu cầu kiến thức của
từng bài dạy. Viêc dạy học còn dàn trải, còn nâng cao kiến thức một cách tùy

gần gũi, cảm giác an toàn nơi học sinh để các em bày tỏ những khó khăn
trong học tập, trong cuộc sống của bản thân mình.
Giáo viên luôn tạo cho bầu không khí lớp học thoải mái, nhẹ nhàng,
không mắng hoặc dùng lời thiếu tôn trọng với các em, đừng để cho học sinh
cảm thấy sợ giáo viên mà hãy làm cho học sinh thương yêu và tôn trọng
mình.
Bên cạnh đó, giáo viên phải là người đem lại cho các em những phản
hồi tích cực. Ví dụ như giáo viên nên thay chê bai bằng khen ngợi, giáo viên
tìm những việc làm mà em hoàn thành dù là những việc nhỏ để khen ngợi các
em. Hoặc có thể dùng các phiếu thưởng có in các lời khen phù hợp với từng
việc làm của các em như: “Biết giúp đỡ người khác”, “ Thái độ nhiệt tình và
tích cực”…
4.1.2. Phân loại đối tượng học sinh
Giáo viên cần xem xét, phân loại những học sinh yếu đúng với những
đặc điểm vốn có của các em để lựa chọn biện pháp giúp đỡ phù hợp với đặc
9 GV: Nguyễn Thị Thùy Liên
điểm chung và riêng của từng em. Một số khả năng thường hay gặp ở các em
là: Sức khoẻ kém, khả năng tiếp thu bài, lười học, thiếu tự tin, nhút nhát…
Trong thực tế người ta nhận thấy có bao nhiêu cá thể thì sẽ có chừng ấy
phong cách nhận thức. Vì vậy hiểu biết về phong cách nhận thức là để hiểu sự
đa dạng của các chức năng trí tuệ giúp cho việc tổ chức các hoạt động sư
phạm thông qua đặc trưng này.
Trong quá trình thiết kế bài học, giáo viên cần cân nhắc các mục tiêu đề
ra nhằm tạo điều kiện cho các em học sinh yếu được củng cố và luyện tập phù
hợp.
Trong dạy học cần phân hóa đối tượng học tập trong từng hoạt động,
dành cho đối tượng này những câu hỏi dễ, những bài tập đơn giản để tạo điều
kiện cho các em được tham gia trình bày trước lớp, từng bước giúp các em
tìm được vị trí đích thực của mình trong tập thể. Yêu cầu luyện tập của một
tiết là 4 bài tập, các em này có thể hoàn thành 1, 2 hoặc 3 bài tuỳ theo khả

chắc để bổ sung, củng cố. Hướng dẫn phương pháp học tập: học bài, làm bài,
việc tự học ở nhà
Phối hợp với gia đình tạo điều kiện cho các em học tập, đôn đốc thực
hiện kế hoạch học tập ở trường và ở nhà.
4.2. Giải pháp cụ thể
- Lập danh sách học sinh yếu kém thông qua bài kiểm tra chất lượng
đầu năm và quá trình học tập trên lớp.
- Điểm danh học sinh mỗi buổi học, ghi nhận và báo với GVCN những
trường hợp học sinh bỏ học phụ đạo để có biện pháp khắc phục.
4.2.1. Xác định kiến thức cơ bản, trọng tâm và cách ghi nhớ
11 GV: Nguyễn Thị Thùy Liên
- Xác định rõ kiến thức trọng tâm, kiến thức nền (những kiến thức cơ
bản, có nắm được những kiến thức này mới giải quyết được những câu hỏi và
bài tập) trong tiết dạy cần cung cấp, truyền đạt cho học sinh.
- Đối với học sinh yếu kém không nên mở rộng, chỉ dạy phần trọng
tâm, cơ bản, làm bài tập nhiều lần và nâng dần mức độ của bài tập sau khi các
em đã nhuần nhuyễn dạng bài tập đó.
- Nhắc lại kiến thức kiến thức cơ bản, công thức cần nhớ ở cấp THCS
mà các em đã hỏng, cho bài tập lý thuyết khắc sâu để học sinh nhớ lâu.
Sau đây là một số kiến thức trọng tâm học sinh cần nhớ:
4.2.1.1. Hóa trị của các nguyên tố
Rất nhiều học sinh, ngay cả học sinh 12 không thuộc hóa trị của các
nguyên tố. Trong khi đó, vấn đề xác định hóa trị của một nguyên tố rất quan
trọng để: viết phương trình phản ứng hóa học, giải các bài tập liên quan đến
phương trình, hóa trị liên hệ mật thiết với việc xác định số oxi hóa, điện hóa
trị, cân bằng phản ứng, viết công thức hóa học,
Nhìn chung thì hóa trị của các nguyên tố kim loại thường ổn định, ít
biến đổi hơn các nguyên tố phi kim. Mặt khác, nếu có hóa trị của nguyên tố
kim loại sẽ xác định được hóa trị của các nguyên tố phi kim trong hợp chất.
Tuy nhiên, trong hóa học có đến hơn 80 nguyên tố là kim loại thì việc nhớ

Ta có: hóa trị của Na là I → I.2 = x.1 → x = 2 (Vậy hóa trị của S là II)
b) SO
3
:hóa trị của O là II → x.1 = II.3 → x = VI (Vậy hóa trị của S là
VI)
* Đối với hợp chất:
- Hóa trị của một số gốc axit thường gặp
Gốc axit Tên Hóa trị Gốc axit Tên Hóa trị
SO
4
sunfat II HCO
3
hidrocacbonat I
CO
3
cacbonat II SO
3
sunfit II
PO
4
photphat III S sunfua II
- Cách xác định hóa trị trong hợp chất 3 nguyên tố có oxi:
c
z
b
y
a
x
OBA
→ a.x + b.y = c.z

Phạm vi áp dụng của dãy hoạt động:
- Những kim loại đứng trước H tác dụng với axit giải phóng khí hidro
Ví dụ: Zn + 2HCl → ZnCl
2
+ H
2

Cu + HCl → (do Cu đứng sau H nên không phản ứng)
- Từ sau Mg, những kim loại đứng trước đẩy kim loại đứng sau ra khỏi
dung dịch muối
Ví dụ: Fe + CuSO
4
→ FeSO
4
+ Cu (Fe đứng trước Cu nên đẩy Cu ra
khỏi
dung dịch muối của
nó)
Fe + AlCl
3
→ (do Fe đứng sau Al nên không đẩy được)
14 GV: Nguyễn Thị Thùy Liên
- Giải các bài tập hỗn hợp kim loại.
Ví dụ: Cho 26 gam hỗn hợp Zn và Cu vào dung dịch HCl dư thu được 6,72 lít
khí ở đktc. Tính khối lượng mỗi chất có trong hỗn hợp đầu.
Trước tiên, hướng dẫn học sinh tóm tắt đề và định hướng cách giải:
- Hỗn hợp Zn và Cu tác dụng với axit HCl: chỉ có Zn phản ứng (do Zn
đứng trước H) còn Cu khơng phản ứng (do Cu đứng sau H)
- Khí sinh ra là khí hidro, ở phương trình Zn + HCl
- Viết phương trình hóa học, tính số mol khí, áp dụng quy tắc tam suất

tốn
Đối với một bài tốn, tùy theo dữ kiện đề bài cho mà ta áp dụng
cơng thức cho hợp lí. Giáo viên hướng dẫn học sinh biết cách xác định các dữ
kiện đề cho, vận dụng cơng thức và định hướng cách giải.
CÁC CÔNG THỨC THƯỜNG GẶP
I. CÔNG THỨC TÍNH SỐ MOL :
1.
M
m
n =
2.
4,22
)(đktcV
n =
3.
ddM
VCn ×=
15 GV: Nguyễn Thị Thùy Liên
Chú thích :
Kí hiệu Tên gọi Đơn vò
n
Số mol mol
m
Khối lượng gam
ct
m
Khối lượng chất tan gam
dd
m
Khối lượng dung dòch gam

Nồng độ mol Mol/lít
D Khối lượng riêng g/ml
A%
Thành phần % của A %
B%
Thành phần % của B %
hh
M
Khối lượng mol trung
bình của hỗn hợp khí
g/mol
II. CÔNG THỨC TÍNH
NỒNG ĐỘ PHẦN TRĂM :
4.
dd
ct
m
m
C
%100
%
×
=
III. CÔNG THỨC TÍNH
NỒNG ĐỘ MOL :
5.
dd
ct
M
V

m
m
ct
dd
=
VI. CÔNG THỨC TÍNH
THỂ TÍCH DUNG DỊCH:
11.
M
dd
C
n
V =
; 12.
( )
D
m
mlV
dd
dd
=
VII. CƠNG THỨC VỀ KHỐI LƯNG HAY THỂ TÍCH CỦA CÁC CHẤT
TRONG HỖN HP
13.
%100% ×=
hh
A
m
m
A

m
d
Ví d ụ 1: bao nhiêu gam Clo đủ tác dụng với kim loại nhơm tạo thành 26,7 gam
AlCl
3
?
Hướng dẫn cách giải:
- Xác định các dữ kiện và u cầu của bài tốn:
+ Dữ kiện: cho khối lượng AlCl
3
→ tính được số mol của AlCl
3
, áp dụng
cơng thức
M
m
n =
(vì M đề bài ln cho)
+ u cầu: tính khối lượng clo phản ứng: áp dụng quy tắc tam suất tính số
mol của clo → khối lượng của clo
16 GV: Nguyễn Thị Thùy Liên
Bài giải:
mol
M
m
n
AlCl
2,0
5,133
7,26

của sản phẩm phản ứng tương tự nhau thì ta giải bằng cách lập hệ phương
trình.
- Lập hệ phương trình và dùng các dữ kiện đó để giải.
- Đối với câu b) yêu cầu tính thể tích dung dịch HCl khi biết nồng độ
mol/lít (C
M
= 0,5M), ta áp dụng công thức
dd
ct
M
V
n
C
=

M
ct
dd
C
n
V =
, ta phải đi
tìm số mol dựa vào phương trình phản ứng.
Bài giải:
a) Số mol H
2
:
mol
đktcV
n

= 27.x + 56.y = 11
Ta có hệ phương trình:



=
=
→←



=
=
→



=+
=+
moln
moln
y
x
yx
yx
Fe
Al
1,0
2,0
1,0

HCl
= 3x + 2y = 3. 0,2 + 2. 0,1 = 0,8 mol
Áp dụng công thức:
dd
ct
M
V
n
C
=

lít
C
n
V
M
ct
ddHCl
6,1
5,0
8,0
===
4.2.1.4. Kĩ năng viết các phương trình hóa học
Một bài tập có giải được, giải đúng hay không phần lớn bắt đầu từ
việc lập đúng và chính xác phương trình hóa học. Thế nhưng đa số các
em không làm được việc này, có chăng những học sinh khá giỏi mới làm
được nhưng cũng chỉ mò mẫn mà thôi. Để tháo gỡ những vướng mắc đó
chúng ta cần tìm ra một giải pháp để giúp các em.
Để giải quyết vấn đề đặt ra, yêu cầu các em phải hiểu hết các khái
niệm như phương trình hóa học là gì? Phản ứng hóa học là gì? Chất bị

mỗi nguyên tố tạo nên một phân tử chất.
19 GV: Nguyễn Thị Thùy Liên
Ví dụ 2:

Công thức hóa học của nước gồm 2 nguyên tử H và một
nguyên O. Công thức đúng là H
2
O. Tránh các trường hợp viết sai:
H
2
O, 2HO, OH
2

+ Mà muốn viết đúng công thức hóa học của hợp chất phải
thuộc hoá trị, vậy mà nhiều em học hết THCS vẫn chưa thuộc hết
hoá trị của các nguyên tố thường gặp.
+ Học thuộc hoá trị, viết đúng kí hiệu hóa học các em sẽ lập
được sơ đồ phản ứng hóa học. Việc lập sơ đồ phản ứng hóa học chỉ là
bước đầu. muốn giải được bài tập hóa học ta cần phải có một phương
trình hóa học đúng, chính xác.
Như vậy đòi hỏi các em phải biết cân bằng phản ứng hóa
học. Để làm được việc này ta phải hướng dẫn các em cách làm như
sau:
* Đối với phản ứng không phải là phản ứng oxi hóa-khử:
+ Nên bắt đầu từ những nguyên tố mà số nguyên tử có
nhiều và không bằng nhau.
+ Trường hợp số nguyên tử ở vế này là số chẵn và ở vế kia
là số lẻ thì trước hết phải làm chẵn số nguyên tử cho chất mà có số
nguyên tử lẻ rồi tiếp tục đặt hệ số cho phân tử chứa số nguyên tử
chẵn ở vế còn lại sao cho số nguyên tử ở 2 vế bằng nhau.

Ví dụ:

Cho sơ đồ phản ứng sau: NaOH + Fe
2
(SO
4
)
3
→ ? + Na
2
SO
4
Hãy hoàn thành sơ đồ phản ứng trên.
Trước hết ta thay dấu ? bằng công thức hóa học hợp chất của Fe
với nhóm OH, nhớ trong trường hợp có hoá trị III, nhóm OH có hoá trị I.
Công thức cần điền là Fe(OH)
3
.
Sau đó viết sơ đồ phản ứng: NaOH+Fe
2
(SO
4
)
3
→ Fe(OH)
3
+
Na
2
SO

+ 3Na
2
SO
4
Phương trình hoàn chỉnh: 6NaOH + Fe
2
(SO
4
)
3
→ 2Fe(OH)
3
+ 3Na
2
SO
4

Cần lưu ý cho học sinh trong quá trình cân bằng không được
thay đổi các chỉ số nguyên tử trong các công thức hóa học. Không
được viết 2O, 3N, 4H,… vì các khí này ở dạng phân tử.
Hệ số phải viết bằng kí hiệu.
Nếu sản phẩm không tan ta viết kèm theo dấu mũi tên xuống,
đặt cạnh công thức hóa học của chất đó. Nếu là chất khí đặt dấu mũi
tên quay lên. Nếu phản ứng cần đun nóng kèm nhiệt độ (t
o
) trên mũi
tên.
21 GV: Nguyễn Thị Thùy Liên
Như vậy muốn luyện tập cho các em biết cách lập phương trình
hóa học ta phải luyện cho các em từ phương trình đơn giản đến phức

kiện:
Tia lửa điện: 3O
2
 2O
3
22 GV: Nguyễn Thị Thùy Liên
Tạo ra một lượng nhỏ O
3
, O
3
có khả năng sát trùng
O
3
 O
2
+ O
Nên ngoài những hạt mưa cuốn theo bụi thì O
3
là tác nhân làm môi
trường sạch sẽ và cảm giác tươi mát
4.2.2.3. Vì sao nước biển lại mặn
Đây cũng là một hiện tượng tự nhiên, có trong thực tế nhưng chưa chắc
có nhiều học sinh biết được. Ở đây giáo viên dạy bài clo có thể đặt câu hỏi
này nhằm kích thích tính tò mò và ham học hỏi ở học sinh.
Giải thích như sau:
Các con sông, suối, các dòng nước trên lục địa đều chảy về biển, đại
dương và hòa tan mọi vật thể có thể hòa tan. Do quá trình bay hơi các nguyên
tố, hợp chất tích tụ trong nước biển ngày càng nhiều theo thời gian, thông
thường là các muối, NaCl. Vị mặn của nước biển chủ yếu do muối natri
clorua (NaCl) gây nên.

gắng hết mình để giáo dục con em trở thành những con người có ích cho xã
hội.
2. Kiến nghị
24 GV: Nguyễn Thị Thùy Liên
Trong khi thực hiện giải pháp này tôi có gặp một số khó khăn cho Giáo
viên cũng như học sinh. Vì vậy tôi có một số kiến nghị sau:
- Cần phối hợp giữa GVBM, GVCN, Nhà trường và cha mẹ học sinh để
kịp thời vận động các em bỏ tiết để các em đi học đều đặn hơn.
- Nhà trường cần sắp xếp thời gian học trái buổi của học sinh một cách
hợp lí để giáo viên có thể dễ dàng phụ đạo học sinh yếu kém, tránh tình trạng
bị động về thời gian.
- Không những chỉ bộ môn Hóa học mà các môn học khác, các giáo
viên nên chú trọng sâu hơn vấn đề chuẩn bị nội dung, phương pháp và hình
thức phụ đạo cho học sinh có tính khơi gợi sự hứng thú để học sinh có thể
nắm bắt theo kịp kiến thức các môn học.
25 GV: Nguyễn Thị Thùy Liên


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status