CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
MÔ TẢ SÁNG KIẾN
Mã số: ……………
1. Tên sáng kiến: Một số giải pháp duy trì và nâng chuẩn phổ cập
giáo dục
2. Lĩnh vực áp dụng
Bài viết này thuộc lĩnh vực Phổ cập giáo dục
3. Mô tả bản chất của sáng kiến
3.1. Tình trạng giải pháp đã biết
- Công tác phổ cập giáo dục là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước;
- Việc hoàn thành chỉ tiêu đạt chuẩn quốc gia công tác phổ cập giáo dục
Tiểu học, THCS, Trung học đòi hỏi phải có sự vào cuộc của cả hệ thống chính
trị, sự phối kết hợp của các ban ngành, đoàn thể với trường học đặc biệt là sự
hưởng ứng, ủng hộ tích cực của nhân dân;
- Giáo viên chuyên trách phổ cập có vai trò hết sức quan trọng trong
việc tham mưu cho nhà trường, Ban chỉ đạo CMC&PCGD (BCĐ
CMC&PCGD) hoàn thành công tác này. Thực tế cho thấy, giáo viên chuyên
trách nhiệt tình, tích cực trong công tác, phát huy tốt vai trò tham mưu và nắm
vững cách thiết lập hồ sơ sổ sách thì việc thực hiện công tác phổ cập giáo dục
ở địa phương mới đạt kết quả cao.
* Những ưu, khuyết điểm của giải pháp đã, đang được áp dụng tại
cơ quan, đơn vị:
Với những giải pháp trên trong quá trình thực hiện công tác PCGD
trong những năm qua đã đạt được kết quả hết sức khả quan, như xã nhà đã đạt
và duy trì nhiều năm liền về công tác phổ cập THCS, và Trung học. Có những
thuận lợi và khó khăn như sau:
- Được sự quan tâm, giúp đỡ của Ban giám hiệu, và các ban ngành
cao;
- Nguồn nhân lực chủ chốt sau đội ngũ giáo viên nhà trường là lực
lượng ở các ấp. Khi Ban chỉ đạo CMC&PCGD họp và giao nhiệm vụ xuống
cơ sở rất cụ thể, chặt chẽ. Sự hướng dẫn, kiểm tra, động viên khuyến khích và
nhắc nhở kịp thời nên việc thực hiện công tác PCGD luôn được duy trì, và
tiến hành thường xuyên.
b.2) Công tác điều tra, cập nhật số liệu
- Công tác điều tra, cập nhật số liệu thể hiện tốt sự phối hợp giữa nhà
trường và các ấp, tổ nhân dân tự quản (tổ NDTQ) dẫn đến số liệu trùng khớp,
chính xác. Cán bộ, giáo viên dưới sự hướng dẫn của từng ấp, tổ NDTQ, nên
các hộ ở các vùng giáp ranh giữa các ấp thường không bị bỏ sót, hoặc điều tra
không bị trùng lặp. Thêm vào đó từng xóm, ấp có sổ theo dõi tình hình nhân
khẩu trên địa bàn cũng là nguyên nhân chính dẫn đến kết quả điều tra đạt kết
quả cao;
- Điều tra xong giáo viên phụ trách PCGD tham mưu Ban giám hiệu
phân công từng nhóm giáo viên rà soát thật chính xác các phiếu điều tra với
sổ phổ cập đang theo dõi và nhập vào chương trình PCGD (Hệ thống thông
tin điện tử Quản lý PCGD-Chống mù chữ) để lưu trữ lâu dài;
- Trong quá trình điều tra có nhiều đối tượng có đến hai, ba giấy khai
sinh, mà ngày tháng năm sinh, tên và chữ lót không trùng nhau. Hoặc các
thông tin cá nhân của một đối tượng điều tra giữa các loại hồ sơ có liên quan
không trùng nhau. Ban chỉ đạo CMC&PCGD xã đã nắm bắt vấn đề này và đã
tham mưu với Ủy ban nhân dân (UBND) xã chỉ đạo các cơ quan, ban ngành
có liên quan phối hợp để điều chỉnh để mỗi đối tượng chỉ có một hồ sơ thông
tin cá nhân thống nhất.
b.3) Công tác giáo dục phổ thông
- Mặc dù ở địa phương, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, song hiện
nay nguyên nhân chính các em bỏ học không phải do hoàn cảnh gia đình khó
nhật số liệu. Thực tế cho thấy, khi các giáo viên trong trường được phân công
nhiệm vụ cụ thể, họ sẽ có trách nhiệm hoàn thành công việc được giao;
- Đối với các Hội, Đoàn thể trong xã dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy, nhà
trường chủ động xây dựng Quy chế phối hợp hoạt động. Trong Quy chế quy
định rõ trách nhiệm của từng bên trong công tác vận động và duy trì sĩ số học
sinh trong nhà trường để cuối năm đưa kết quả công tác vào tiêu chuẩn đánh
giá xếp loại thi đua cho các hội, đoàn thể.
c.2) Xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện công tác PCGD
Để thực hiện công tác PCGD có hiệu quả, việc xây dựng kế hoạch hoạt
động rất cần thiết. Trên cơ sở kết quả điều tra trình độ học vấn và nắm bắt các
đối tượng, nhà trường tham mưu cho Đảng ủy, UBND xã, xây dựng kế hoạch
thực hiện với những giải pháp trước mắt và lâu dài. Sau đó đưa ra thảo luận
trong Ban chỉ đạo CMC&PCGD và Hội đồng giáo viên nhà trường, khi đã
thống nhất hoàn toàn sẽ bắt tay vào triển khai thực hiện.
c.3) Duy trì sĩ số học sinh các lớp trong trường phổ thông là giải
pháp hữu hiệu nhất
Nếu như việc duy trì sĩ số ở các trường phổ thông không thực hiện tốt
thì công tác PCGD sẽ không bao giờ hoàn thành. Quán triệt tư tưởng này, toàn
thể Hội đồng sư phạm nhà trường đã đưa các chỉ tiêu duy trì sĩ số vào công
tác thi đua, quy định rõ việc vận động học sinh bỏ học ra lớp như: Nếu học
sinh bỏ học 2 ngày không phép thì giáo viên chủ nhiệm đến nhà tìm hiểu, vận
động, nếu học sinh chưa ra lớp thì giáo viên chủ nhiệm đến nhà lần thứ hai,
sau đó thông báo cho lãnh đạo ấp cùng đi, lần thứ ba nhà trường cử Đoàn-Đội
và cán sự lớp đến vận động, cuối cùng BCĐ CMC&PCGD xã trong đó có nhà
trường và các hội, đoàn thể đến nhà vận động. Với quy định chặt chẽ như vậy
số lượng học sinh bỏ học sẽ giảm rất nhiều, góp phần tích cực vào công tác
PCGD của xã;
- Ban chỉ đạo CMC và PCGD và nhà trường đóng vai trò nòng cốt
trong việc tham mưu với Đảng ủy, Ủy ban nhân dân và các đoàn thể, địa
- Tôi đã nắm bắt tình hình cụ thể ngay từ đầu năm để kịp thời tìm ra
giải pháp. Việc làm này giúp tôi hiểu rõ hơn hoàn cảnh của từng em, nhằm có
biện pháp giáo dục thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục;
c6) Làm công tác quan hệ với gia đình và xã hội
- Liên lạc thường xuyên với phụ huynh học sinh của lớp sẽ giúp cho
giáo viên nắm bắt rõ hơn về thời gian biểu của các học sinh cũng như các thói
quen, sở thích và tính cách của từng học sinh. Một khi hiểu rõ học sinh của
mình hơn thì giáo viên sẽ có nhiều giải pháp hơn để giúp học sinh của mình
chuyên cần hơn trong việc học tập cũng như duy trì tính chuyên cần của các
em. Khi có học sinh bỏ học thì giáo viên cần phải thông báo ngay cho Ban
giám hiệu nhà trường đồng thời sắp xếp thời gian gặp trực tiếp phụ huynh để
trao đổi các thông tin cùng nhau tìm các giải pháp phối hợp tốt hơn đưa học
sinh trở lại trường. Học sinh sẽ trở nên chuyên cần, tích cực học tập hơn nếu
sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình có hiệu quả đáng kể. Đối với những
phụ huynh học sinh tích cực quan tâm đến tình hình học tập của con em học
sinh sẽ tích cực ủng hộ nhà trường nhằm tìm giải pháp tốt nhất duy trì sĩ số
học sinh trong nhà trường để góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục.
- Trong các kỳ họp phụ huynh bản thân tôi luôn lắng nghe nắm bắt
nguyện vọng của phụ huynh, thông báo những khoản đóng góp; luôn chú ý
đến gia đình nghèo, kiến nghị lên cấp trên các khoản đóng góp, vận động các
em trong lớp, các nhà hảo tâm, chính quyền hỗ trợ tập vở, sách giáo khoa; tổ
chức thăm hỏi, động viên các gia đình gặp hoàn cảnh không may, những việc
làm nhỏ bé đó tuy giá trị vật chất không đáng là bao nhưng đã tạo được tình
cảm gắn bó, các em biết yêu thương giúp đỡ lẫn nhau với tinh thần đoàn kết
tương trợ lẫn nhau; làm sẵn sổ liên lạc, lấy chữ ký và chữ viết của phụ huynh
làm mẫu, gửi sổ liên lạc về gia đình nắm bắt ưu nhược điểm của con em
mình – đưa ý kiến nhận xét và yêu cầu đến Ban giám hiệu nhà trường.
- Hiện nay trong môi trường giáo dục đã có không ít những trường hợp
lớp phải tự tin, phải hiểu từng đối tượng mà mình giáo dục và phải quan tâm
đến sỉ số lớp, báo với GVCN những học sinh thường xuyên nghỉ học của bộ
môn, hạn chế tối đa việc đuổi học sinh ra khỏi lớp, thường xuyên quan tâm
đến học sinh yếu, chọn những nội dung dễ để em trả bài. Mỗi học sinh ba câu
từ dễ đến khó, dành cơ hội trả bài cho học sinh ngoan nhưng học yếu hai lần,
khuyến khích học sinh tự suy nghỉ trả lời những câu hỏi xây dựng bài, trả lời
những câu hỏi khó đúng giáo viên có thể cho điểm 10 hoặc điểm cộng đồng
thời giáo viên phải có sự đối xử công bằng giữa các em với nhau, mỗi giáo
viên tự trao đổi từ ngữ khi giao tiếp với phụ huynh luôn là tấm gương cho học
sinh noi theo. Những công việc này phải được thường xuyên và duy trì suốt
năm học;
- Tổ chức đoàn đội là một tổ chức mạnh để các em học sinh tham gia và
rèn luyện ý thức. Hàng ngày các em chấm cờ đỏ theo dõi số học sinh nghĩ học
ở các lớp. Giáo viên tổng phụ trách luôn là người sát cánh cùng giáo viên chủ
nhiệm lớp trong các hoạt động của các chi đội. Vì vậy phong trào của trường
ngày càng có nhiều tiến bộ vượt bậc;
c.8) Đổi mới phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng học tập
- Nhà trường luôn ý thức nâng cao chất lượng giáo dục. Hưởng ứng
thực hiện cuộc vân động “Hai không” với 4 nội dung, “Xây dựng trường học
thân thiện, học sinh tích cực” do ngành giáo dục phát động, không ngừng thực
hiện cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”,
trường tổ chức dạy đủ các môn học, nâng cao chất lượng giảng dạy ở các môn
bằng cách:
+ Đưa cán bộ, giáo viên dự đầy đủ các lớp tập huấn về chuyên môn và
tham gia tốt các họat động chuyên môn cụm do Phòng Giáo dục và Đào tạo
hướng dẫn và thực hiện;
+ Không ngừng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh
làm trung tâm, có đồ dùng dạy học trực quan, tăng cường các tiết thực hành,
Cùng với việc đổi mới phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng
học tập và xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, nhà trường rất chú trọng
đến việc xây dựng đội ngũ giáo viên. Các nội dung bồi dưỡng của giáo viên
thực hiện theo văn bản hướng dẫn của cấp trên (cử giáo viên tham gia các lớp
tập huấn, thao giảng cụm…). Hầu hết giáo viên tham gia đầy đủ, trên cơ sở đó
nhà trường tạo mọi điều kiện để giáo viên hoàn thành nhiệm vụ;
Lãnh đạo nhà trường tổ chức xây dựng kế hoạch và chỉ đạo bồi dưỡng
giáo viên cụ thể dưới nhiều hình thức (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn, bồi
dưỡng thường xuyên, tự rèn luyện, tự bồi dưỡng) với nhiều hoạt động như:
lên kế hoạch cụ thể việc cử, chọn giáo viên được ưu tiên tham gia các lớp
nâng chuẩn, tập huấn (xét trên nhu cầu, tinh thần phấn đấu của từng giáo viên,
năng lực …) để có kế hoạch hỗ trợ, tạo điều kiện để giáo viên hoàn thành tốt
nhiệm vụ học tập, bồi dưỡng (phải tạo được sự cạnh tranh lành mạnh trong
tiêu chí xét chọn giáo viên); chỉ đạo cho các tổ chuyên môn hoạt động tích
cực; lên kế hoạch cụ thể và công khai các hoạt động chuyên môn đến tất cả
giáo viên trong toàn trường để giáo viên chủ động xây dựng kế hoạch cá
nhân; không chú trọng nhiều đến số lượng giờ giáo viên dự giờ lẫn nhau mà
quan tâm nhiều đến việc rút kinh nghiệm gì sau mỗi lần dự giờ; lãnh đạo nhà
trường thường xuyên theo sát và tham gia vào các hoạt động chuyên môn
cùng giáo viên để nắm chắc chất lượng, năng lực giảng dạy của từng giáo
viên để có sự đánh giá, nhận xét khách quan, chính xác từ đó có những ý kiến
tư vấn, thúc đẩy kịp thời, hiệu quả; gắn các nhiệm vụ giáo dục vào các tiêu
chí thi đua giữa các giáo viên (kể cả nhiệm vụ phổ cập giáo dục); khuyến
khích giáo viên phát huy tinh thần tự học, tự rèn, tự bồi dưỡng.
c.10) Công tác xây dựng cơ sở vật chất trường lớp
- Ngoài hệ thống trường lớp, xã có Trung tâm học tập cộng đồng hoạt
động gắn các đoàn thể và khối Ủy ban nhân dân, góp phần giải quyết nhu cầu
học tập của người dân trong xã;
với tổng số 193 học viên, trong đó có 56 học viên trong độ tuổi phổ cập
THCS (15-18 tuổi);
+ Tình hình học sinh bỏ học ở Học kì I, năm học 2014-2015 so với
cùng kỳ các năm trước như sau:
Năm học
2012-2013
Số học sinh
bỏ học
01 học sinh
Tỉ lệ
1/480 = 0,2%
Tăng (giảm) so
với năm trước
Giảm 0,87%
2013-2014
2014-2015
0 học sinh
02 học sinh
0/490 = 0%
3.5. Tài liệu kèm theo
- Công văn hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo, Phòng Giáo dục và
Đào tạo, kế hoạch của Ban chỉ đạo CMC&PCGD xã, và kế hoạch của nhà
trường về công tác PCGD;
- Một số công văn hướng dẫn của Ủy ban nhân dân tỉnh Bến Tre về
việc triển khai hệ thống thông tin điện tử quản lý phổ cập giáo dục, chống mù
chữ;
- Sổ tay phổ cập Giáo dục Trung học cơ sở và bậc Trung học;
- Chỉ thị 61-CT/TW ngày 28/12/2000 của Bộ chính trị về việc thực hiện
PCGD THCS trong 10 năm (2001-2010);
- Nghị quyết 41/2000/QH10 ngày 09/12/2000 của Quốc Hội;
- Nghị định 88/2000/NĐCP ngày 22/12/2001 của Chính phủ về việc
thực hiện phổ cập trung học cơ sở;
- Quyết định số 26/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 05/07/2001 của Bộ Giáo
dục và Đào tạo về việc ban hành tiêu chuẩn kiểm tra, đánh giá, công nhận
PCGD THCS;
- Hướng dẫn số 712/THPT ngày 02/02/2001 của Bộ Giáo dục và Đào
tạo về việc hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ PCGD THCS;
- Kế hoạch số 3667/THPT về việc triển khai Nghị quyết Quốc hội của
Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Hướng dẫn số 6170/THPT về việc kiểm tra kết quả PCGD THCS của
Bộ Giáo dục và Đào tạo;
- Công văn số 3420/THPT ngày 23 tháng 4 năm 2003 của Bộ Giáo dục
và Đào tạo về việc thực hiện phổ cập bậc Trung học;
- Nghị định số 20/2014/NĐ-CP ngày 24 tháng 03 năm 2014 về phổ cập
giáo dục, xóa mù chữ.
Bài viết của tôi đến đây là kết thúc. Trân trọng kính chào!