Giá trị văn hóa nghệ thuật chùa Đồng Bụt (xã Ngọc Liệp, huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội) - Pdf 45

1
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC.................................................................................................................................1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT.....................................................................................7
MỞ ĐẦU....................................................................................................................................8

Cuốn “Chùa Việt Nam” của GS Hà Văn Tấn nghiên cứu về toàn cảnh
các ngôi chùa Việt Nam trong lịch sử và trong đời sống văn hóa dân tộc
cũng như những đặc điểm của Phật giáo và văn hóa tâm linh của dân
tộc được thể hiện ở các ngôi chùa Việt Nam. Tác giả đi vào giới thiệu
khái quát về một số ngôi chùa trên khắp mọi miền đất nước qua các
thời kỳ..........................................................................................................10
Luận án Tiến sĩ Lịch sử “Di tích chùa Thầy (Hà Tây)” của tác giả
Nguyễn Văn Tiến đã tổng thuật hơn 40 tư liệu viết về chùa Thầy cho
đến thời điểm đó (2001). Đây là ngôi chùa “tiền Phật hậu Thánh” thờ
Thiền sư Từ Đạo Hạnh nổi tiếng nhất. Trong phần Kết luận, tác giả
khẳng định: “chùa tiền Phật hậu Thánh manh nha từ thế kỷ XII, đó là
một dạng kết cấu độc đáo trong kiến trúc Việt Nam và chùa Thầy là
khởi nguồn của những ngôi chùa tiền Phật hậu Thánh này”. Tuy nhiên,
do luận án thuộc chuyên ngành Khảo cổ học nên trong phần nội dung
tác giả chủ yếu tập trung vào việc mô tả, xác định niên đại những đơn
nguyên kiến trúc và di vật hiện còn của ngôi chùa; việc nghiên cứu các
giá trị văn hóa phi vật thể của chùa Thầy không được đặt ra...............11
Luận án Tiến sĩ Văn hóa học “Những ngôi chùa “tiền Phật hậu Thánh”
ở vùng châu thổ Bắc Bộ ” (2007) của tác giả Phạm Thị Thu Hương đã
nghiên cứu, xác định các lớp văn hóa tích hợp trong thần tích của các vị
Thánh, lễ hội và các phong tục liên quan; xác định giá trị chính về kiến
trúc, nghệ thuật trang trí và điêu khắc của dạng chùa “tiền Phật hậu



3
những công trình kiến trúc tiêu biểu và danh thắng nổi tiếng của địa
phương trong phần giới thiệu truyền thống văn hóa của xã..................13
Cuốn “Lễ hội Việt Nam” (2005) [45, tr.574-577] do tác giả Lê Trung Vũ
– Lê Hồng Lý đồng chủ biên có ghi chép về lễ hội chùa Đồng Bụt với
các thông tin như: tên di tích, nhân vật phụng thờ, ngày tổ chức lễ hội,
diễn trình lễ hội, các trò chơi trò diễn trong lễ hội..................................13
Bài viết “Làng Đồng Bụt và Thiền sư Từ Đạo Hạnh” in trong Kỷ yếu
hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 3 – tập 4 (2008) của tác giả Đỗ
Danh Huấn đã đi tới kết luận:..................................................................13
Chùa Thiền sư là một ngôi chùa cổ kính. Tới nay, vẫn chưa thấy một
công trình nào khảo cứu về ngôi chùa này. Đặc biệt hơn, đây là một
ngôi chùa có mô hình thờ tự kiểu “tiền Phật hậu Thánh” - Đức thánh
Từ Đạo Hạnh được thờ trong chùa này. Tìm hiểu trong chính sử và một
số công trình đã xuất bản, tác giả thấy hành trạng của Từ Đạo Hạnh
vẫn cần được bổ khuyết. Do vậy, dựa vào những nguồn tư liệu chính sử
và tư liệu thực địa, bài viết muốn góp thêm ý kiến về nơi sinh của Thiền
sư Từ Đạo Hạnh và nhấn mạnh rằng làng Đồng Bụt đã bảo lưu một trữ
lượng tư liệu khá tin cậy về sự sinh thành của Đức thánh [14, tr.30-38].
......................................................................................................................13
Khóa luận tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Bảo tàng học của sinh viên
Nguyễn Thị Cải với đề tài “Tìm hiểu di tích chùa Đồng Bụt (xã Ngọc
Liệp, huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội)” (2014) là công trình đầu
tiên nghiên cứu một cách có hệ thống về di tích chùa Đồng Bụt. Tuy
nhiên, khóa luận mới dừng lại ở mức độ mô tả lại kiến trúc, các công
trình điêu khắc trang trí trên kiến trúc, điêu khắc tượng thờ, các di vật
cổ vật của ngôi chùa, chứ chưa đánh giá sâu về giá trị văn hóa nghệ
thuật của di tích này. Phần lễ hội được tác giả khảo tả sơ lược, lồng



Tiểu kết chương 1.......................................................................................43
Chương 2.................................................................................................................................44


5
GIÁ TRỊ VĂN HÓA VẬT THỂ CHÙA ĐỒNG BỤT.......................................................44

2.1. Nghệ thuật kiến trúc chùa Đồng Bụt.................................................44
2.1.1. Không gian cảnh quan và mặt bằng tổng thể...................................................................44
2.1.2. Các đơn nguyên kiến trúc..................................................................................................48
2.1.3. Giá trị kiến trúc chùa Đồng Bụt.........................................................................................55

2.2. Nghệ thuật điêu khắc trên kiến trúc..................................................56
2.2.1. Các mảng chạm khắc trang trí trên kiến trúc....................................................................56
2.2.2. Ý nghĩa và giá trị các đồ án trang trí mỹ thuật trên kiến trúc...........................................58

2.3. Các di vật tiêu biểu..............................................................................61
2.3.1. Di vật gỗ.............................................................................................................................61
2.3.2. Di vật đá.............................................................................................................................66
2.3.3. Di vật giấy...........................................................................................................................67
2.3.4. Di vật đồng.........................................................................................................................67
2.3.5. Giá trị của các di vật, cổ vật...............................................................................................69

2.4. Nghệ thuật điêu khắc tượng thờ........................................................71
2.4.1. Bài trí tượng trong chùa Đồng Bụt....................................................................................71
2.4.2. Nghệ thuật điêu khắc và ý nghĩa của các tượng thờ........................................................72
2.4.3. Giá trị của hệ thống tượng chùa Đồng Bụt.......................................................................82

2.5. Giải pháp phát huy giá trị văn hóa vật thể chùa Đồng Bụt.............84
Tiểu kết chương 2.......................................................................................86


ha:

hecta

Nxb:

Nhà xuất bản

PGS:

Phó giáo sư

Tp:

Thành phố

TS:

Tiến sĩ


8
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1.Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là nhiệm vụ to lớn, khó
khăn và lâu dài trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam. Nhiệm vụ đó đòi hỏi
phải phát triển nền văn hóa nước ta lên một bước mới, vừa tiếp thu các thành
tựu văn hóa – văn minh nhân loại, vừa kế thừa và phát huy các giá trị truyền
thống quý báu của dân tộc, để xây dựng nên một nền văn hóa Việt Nam tiên

loại chùa có dạng “tiền Phật, hậu Thánh”. Chùa Đồng Bụt (xã Ngọc Liệp,
huyện Quốc Oai, Tp. Hà Nội) là một trong những ngôi chùa như vậy.
Chùa Đồng Bụt (tên chữ là Thiền Sư tự) là một ngôi chùa cổ kính, nằm
trong hệ thống các di tích kiểu chùa “tiền Phật hậu Thánh” thờ Đức thánh Từ
Đạo Hạnh ở Hà Nội. Trải qua thời gian với biết bao biến cố thăng trầm của
lịch sử, ngôi chùa đã qua nhiều lần trùng tu, sửa chữa song vẫn giữ lại được
dáng vẻ thâm nghiêm, thanh tịnh và những nét kiến trúc cổ xưa.
Ngôi chùa tuy không bề thế về mặt quy mô, song nó lại chứa đựng
trong mình nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa nghệ thuật. Trong chùa hiện còn
lưu giữ nhiều hiện vật, cổ vật quý, đặc biệt là hệ thống tượng thờ với nghệ
thuật điêu khắc độc đáo. Đây là những tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo, thể hiện
trình độ điêu khắc tượng khéo léo, tinh tế, tài hoa của người thợ dân gian xưa.
Ngoài giá trị văn hóa vật thể, chùa Đồng Bụt còn mang trong mình giá
trị văn hóa phi vật thể khá đậm nét. Trước hết, chùa có một nhân vật thờ tự vô
cùng đặc biệt, mà sự xuất hiện của ngài được xem xét như một hiện tượng độc
đáo trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, đó là vị Thiền sư Từ Đạo Hạnh. Chính
vì là chùa “tiền Phật hậu Thánh” nên hàng năm chùa Đồng Bụt vẫn tổ chức lễ
hội để tưởng nhớ Đức thánh Từ Đạo Hạnh.
Như vậy, chùa Đồng Bụt không chỉ là một không gian thiêng, là trung
tâm thực hành tôn giáo tín ngưỡng của nhân dân thôn Đồng Bụt và các vùng


10
lân cận mà còn là nơi bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của
dân tộc. Vì vậy, việc nghiên cứu các giá trị văn hóa của ngôi chùa là việc làm
cần thiết.
Từ những lý do trên, tôi quyết định chọn đề tài “Giá trị văn hóa nghệ
thuật chùa Đồng Bụt (xã Ngọc Liệp, huyện Quốc Oai, Thành phố Hà
Nội)” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học, khóa 2013 – 2015 của
mình.

những bước đi của ngôi chùa Việt, từ sự phân bố, niên đại đến sự phát triển
kiến trúc của các ngôi chùa, tổ chức không gian, kiến trúc, kết cấu và chạm
khắc của ngôi chùa Việt qua các thời, từ thời Lý đến thời nhà Nguyễn.
Cuốn “Sáng giá chùa xưa – mỹ thuật Phật giáo” và “Kiến trúc dân gian
truyền thống Việt Nam” của Chu Quang Trứ nghiên cứu kiến trúc các ngôi chùa ở
Việt Nam với nền văn hóa dân tộc cổ truyền. Trong đó, tác giả giới thiệu về một
số ngôi chùa và các di vật đặc sắc trong các ngôi chùa ở Việt Nam.
Trong nhóm tài liệu này có thể thấy các tác giả có cái nhìn khái quát về lịch
sử kiến trúc, giá trị nghệ thuật của ngôi chùa Việt Nam. Các tác giả có lấy ví dụ
minh họa từ một số ngôi chùa cụ thể nhưng không đề cập tới chùa Đồng Bụt.
Nghiên cứu về loại hình chùa “tiền Phật hậu Thánh” gần đây có một số
công trình khác, chúng tôi giới thiệu tài liệu sau:
Luận án Tiến sĩ Lịch sử “Di tích chùa Thầy (Hà Tây)” của tác giả
Nguyễn Văn Tiến đã tổng thuật hơn 40 tư liệu viết về chùa Thầy cho đến thời
điểm đó (2001). Đây là ngôi chùa “tiền Phật hậu Thánh” thờ Thiền sư Từ
Đạo Hạnh nổi tiếng nhất. Trong phần Kết luận, tác giả khẳng định: “chùa tiền
Phật hậu Thánh manh nha từ thế kỷ XII, đó là một dạng kết cấu độc đáo trong
kiến trúc Việt Nam và chùa Thầy là khởi nguồn của những ngôi chùa tiền Phật


12
hậu Thánh này”. Tuy nhiên, do luận án thuộc chuyên ngành Khảo cổ học nên
trong phần nội dung tác giả chủ yếu tập trung vào việc mô tả, xác định niên
đại những đơn nguyên kiến trúc và di vật hiện còn của ngôi chùa; việc nghiên
cứu các giá trị văn hóa phi vật thể của chùa Thầy không được đặt ra.
Luận án Tiến sĩ Văn hóa học “Những ngôi chùa “tiền Phật hậu
Thánh” ở vùng châu thổ Bắc Bộ ” (2007) của tác giả Phạm Thị Thu Hương
đã nghiên cứu, xác định các lớp văn hóa tích hợp trong thần tích của các vị
Thánh, lễ hội và các phong tục liên quan; xác định giá trị chính về kiến trúc,
nghệ thuật trang trí và điêu khắc của dạng chùa “tiền Phật hậu Thánh”, qua đó

Cuốn “Lễ hội Việt Nam” (2005) [45, tr.574-577] do tác giả Lê Trung
Vũ – Lê Hồng Lý đồng chủ biên có ghi chép về lễ hội chùa Đồng Bụt với các
thông tin như: tên di tích, nhân vật phụng thờ, ngày tổ chức lễ hội, diễn trình
lễ hội, các trò chơi trò diễn trong lễ hội...
Bài viết “Làng Đồng Bụt và Thiền sư Từ Đạo Hạnh” in trong Kỷ yếu
hội thảo quốc tế Việt Nam học lần thứ 3 – tập 4 (2008) của tác giả Đỗ Danh
Huấn đã đi tới kết luận:
Chùa Thiền sư là một ngôi chùa cổ kính. Tới nay, vẫn chưa thấy
một công trình nào khảo cứu về ngôi chùa này. Đặc biệt hơn, đây là
một ngôi chùa có mô hình thờ tự kiểu “tiền Phật hậu Thánh” - Đức
thánh Từ Đạo Hạnh được thờ trong chùa này. Tìm hiểu trong chính
sử và một số công trình đã xuất bản, tác giả thấy hành trạng của Từ
Đạo Hạnh vẫn cần được bổ khuyết. Do vậy, dựa vào những nguồn
tư liệu chính sử và tư liệu thực địa, bài viết muốn góp thêm ý kiến
về nơi sinh của Thiền sư Từ Đạo Hạnh và nhấn mạnh rằng làng


14
Đồng Bụt đã bảo lưu một trữ lượng tư liệu khá tin cậy về sự sinh
thành của Đức thánh [14, tr.30-38].
Khóa luận tốt nghiệp Đại học chuyên ngành Bảo tàng học của sinh viên
Nguyễn Thị Cải với đề tài “Tìm hiểu di tích chùa Đồng Bụt (xã Ngọc Liệp,
huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội)” (2014) là công trình đầu tiên nghiên cứu
một cách có hệ thống về di tích chùa Đồng Bụt. Tuy nhiên, khóa luận mới dừng
lại ở mức độ mô tả lại kiến trúc, các công trình điêu khắc trang trí trên kiến trúc,
điêu khắc tượng thờ, các di vật cổ vật của ngôi chùa, chứ chưa đánh giá sâu về
giá trị văn hóa nghệ thuật của di tích này. Phần lễ hội được tác giả khảo tả sơ
lược, lồng ghép vào trong chương 1 của khóa luận [9, tr.31-34] chứ không đi sâu
vào nghiên cứu dưới góc độ một di sản văn hóa phi vật thể.
Từ những tập hợp và phân tích tư liệu trên đây cho thấy, việc nghiên

và phi vật thể của chùa Đồng Bụt.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu về chùa Đồng Bụt dưới góc độ một di tích
văn hóa nghệ thuật và lễ hội chùa Đồng Bụt với đời sống cư dân địa phương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi không gian nghiên cứu của đề tài là: thôn Đồng Bụt, xã Ngọc
Liệp, huyện Quốc Oai, Hà Nội - nơi ngôi chùa tồn tại.
Phạm vi thời gian nghiên cứu là chùa Đồng Bụt từ khi xây dựng đến
nay. Nghiên cứu thời điểm diễn ra lễ hội chùa Đồng Bụt.
5. Phương pháp nghiên cứu


16
- Phương pháp nghiên cứu phân tích - tổng hợp: dựa trên những thông tin
đã có qua phân tích tài liệu, thần tích, thư tịch lưu giữ tại địa phương để có cái
nhìn tổng thể về di tích, kết hợp với những tài liệu lí luận về chùa, kiến trúc chùa
Việt Nam, lễ hội cổ truyền để đưa ra những so sánh, đối chiếu, phân tích từ đó
rút ra những kết luận phù hợp với mục đích nghiên cứu của luận văn.
- Phương pháp khảo sát điền dã tại di tích với các kỹ năng như: quan
sát, mô tả, chụp ảnh, ghi hình, phỏng vấn trực tiếp... nhằm kiểm tra, đánh
giá chính xác những nguồn thông tin mà tác giả thu thập được.
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Văn hóa học, Bảo tàng học, Mỹ
thuật học, Xã hội học, Khảo cổ học, Văn bản học... Những phương pháp này
giúp tác giả có những tiếp cận, nghiên cứu và đánh giá về các hiện tượng, các
vấn đề văn hóa một cách khoa học, khách quan.
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là công trình nghiên cứu mang tính hệ thống và toàn diện
trong việc nghiên cứu các giá trị văn hóa, nghệ thuật của chùa Đồng Bụt.
- Đánh giá vai trò vị trí của di tích và lễ hội chùa Đồng Bụt trong đời

đầm, ao, kênh, mương và nguồn nước ngầm. Trong đó, lưu lượng nước của
dòng sông Tích là nguồn cung cấp nước lớn có ý nghĩa quan trọng cho sản xuất
nông nghiệp. Sông Tích chảy từ Bắc xuống Nam ở giữa xã nên địa hình của xã
Ngọc Liệp từ xưa đã chia thành hai vùng tự nhiên rõ rệt: phía Tây là vùng nửa đồi
núi với những gò đống mấp mô, đất đai cằn cỗi, quanh năm “đồng khô cỏ cháy”;
phía Đông bên những đồi gò là những cánh đồng chiêm trũng. Với địa hình như
trên, người dân Ngọc Liệp luôn phải sống trong cảnh ngập nước, khó khăn.
Tổng diện tích đất tự nhiên của xã Ngọc Liệp là 611,4 ha, trong đó, đất
sản xuất nông nghiệp chiếm 306,6 ha; đất phi nông nghiệp chiếm 291,54 ha
(đất ở nông thôn là 46,57 ha và đất chuyên dùng là 200,96 ha,…); đất chưa sử
dụng chiếm 13,25 ha. Thành phần đất chủ yếu là đất nâu vàng trên phù sa cổ
[41, tr.17].


19
Khí hậu xã Ngọc Liệp có tính chất nhiệt đới gió mùa, có 4 mùa rõ rệt:
mùa Xuân khí hậu ấm, mùa Hạ có khí hậu nóng, mùa Thu tương đối mát mẻ,
mùa Đông khí hậu lạnh và khô. Nhiệt độ cao nhất trong năm khoảng trên 30
độ (vào tháng 6 - 7), thấp nhất khoảng từ 8 đến 10 độ (vào tháng 1 - 2).
Lượng mưa trung bình năm là 1.500 đến 1.700 mm. Tuy nhiên trong những
năm gần đây, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, tình hình khí hậu nước ta
nói chung và đồng bằng Bắc Bộ nói riêng có nhiều thay đổi bất thường, gây
nhiều khó khăn cho sản xuất và đời sống của nhân dân trong xã. Có thể nói,
đặc trưng về thời tiết và khí hậu đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sản xuất
và sinh hoạt văn hóa của cộng đồng cư dân nông nghiệp nơi đây [41, tr.33].
Về giao thông, xã có trục đường Đại lộ Thăng Long chạy qua với tổng
chiều dài 4,2km và hệ thống đê tả sông Tích dài 1,5km đã được bê tông hóa.
Đường liên xã Ngọc Liệp - Liệp Tuyết và đường trục xã dài 5,262km, trục
đường liên thôn và đường ngõ xóm dài 10,98km.
Có thể thấy, với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên như trên, xã Ngọc

Năm 1946, bản Hiến pháp của nước Việt Nam bãi bỏ đơn vị hành chính
cấp tổng và phủ, xã Phục Liệp cùng với các xã Ngọc Bài và Liệp Mai hợp
nhất thành xã Ngọc Liệp thuộc huyện Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây. Từ đây, địa dư
của thôn Đồng Bụt không thay đổi ở cấp xã và huyện. Từ tháng 7 năm 1965,
tỉnh Sơn Tây hợp nhất với tỉnh Hà Đông thành tỉnh Hà Tây đến năm 1976 lại
thành tỉnh Hà Sơn Bình (sau khi Hà Tây hợp nhất với tỉnh Hòa Bình), thôn
Đồng Bụt thuộc về các tỉnh này. Tháng 8 năm 1991, tỉnh Hà Sơn Bình lại tách
thành Hà Tây và Hòa Bình như cũ [41, tr.98].
Tháng 8 năm 2008 khi toàn tỉnh Hà Tây sáp nhập với Hà Nội, thôn Đồng
Bụt trở thành một làng ngoại thành Hà Nội. Đến nay xã Ngọc Liệp ổn định về
địa giới hành chính với bốn làng Đồng Bụt, Liệp Mai, Ngọc Phúc, Ngọc Bài.


21
Riêng đối với làng Đồng Bụt, theo các cụ cao niên trong làng, trước
đây làng được chia thành 02 xóm: xóm Trong và xóm Trại. Trải qua thời gian,
hiện nay làng được chia thành 04 xóm: xóm Trong, xóm Trại, xóm Sậy, xóm
Chín Sào. Chùa Đồng Bụt hiện thuộc địa giới xóm Trong. Theo khu vực địa
hình, trước đây làng được chia thành 04 Giáp sau đó thành 8 Giáp. Tuy nhiên,
ngày nay đơn vị Giáp không còn tồn tại.
Những thay đổi về đơn vị hành chính của xã Ngọc Liệp trong suốt
chiều dài lịch sử đất nước khá đa dạng, bao gồm sự thay đổi về quy mô, địa
bàn và tên gọi. Đó là nét đặc thù không chỉ riêng ở xã Ngọc Liệp mà còn ở
nhiều địa phương khác. Mặc dù vậy, nhân dân xã Ngọc Liệp vẫn gắn bó với
mảnh đất quê hương, khai thác các điều kiện tự nhiên thuận lợi và tạo lập cho
mảnh đất này một nền văn hóa phong phú, đa dạng, giàu lòng nhân ái trong
tình làng nghĩa xóm, mang đậm bản sắc riêng.
Về mặt dân cư, trước Cách mạng tháng Tám, xã có trên 2.000 người;
đến năm 1985 xã có 4.782 nhân khẩu; theo số liệu thống kê báo cáo dân số
xã năm 2010, xã có 8.150 người. Trong đó, số người trong độ tuổi lao động

lập đền thờ ông.
Trong suốt thời kỳ dài Bắc thuộc, khi các cuộc khởi nghĩa của Hai Bà
Trưng, Lý Bí, Phùng Hưng nổ ra, người dân Ngọc Liệp đều tích cực hưởng
ứng. Sang thời phong kiến độc lập, trong các cuộc kháng chiến chống ngoại
xâm, xã Ngọc Liệp cũng như huyện Quốc Oai là phên giậu phía Tây để bảo
vệ kinh thành Thăng Long, cũng như là địa bàn chiến lược để từ đây các cánh
quân tiến về giải phóng kinh đô.
Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, nhân dân Ngọc
Liệp lại nêu cao truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, tích cực tham gia
nghĩa quân do Nguyễn Văn Giáp chỉ huy. Năm 1907, các nhà Nho và tu sĩ


23
Phật giáo tại địa phương đã lập hội từ thiện tuyên truyền vận động tư tưởng
yêu nước trong nhân dân. Cùng với cuộc đấu tranh chống lại kẻ thù xâm lược,
nhân dân còn có tinh thần đấu tranh chống áp bức bóc lột của địa chủ cùng
bọn cường hào gian ác địa phương.
Sang thời kỳ đấu tranh cách mạng, xuất phát từ lòng yêu nước, nhân
dân Ngọc Liệp đã kiên trì tập hợp lực lượng quần chúng thành tổ chức đấu
tranh từ nhỏ tới lớn, từ thấp tới cao, từ bất hợp pháp đến hợp pháp, dũng cảm
kiên cường chống mọi mưu mô, thủ đoạn, khủng bố bắn giết của giặc, giành
được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Vào những ngày Tháng Tám năm
1945, tại Ngọc Liệp nhân dân đã giải tán chính quyền cũ và thành lập chính
quyền cách mạng lâm thời.
Ngay sau đó, cả nước Việt Nam đứng trước một cuộc chiến tranh xâm
lược của thực dân Pháp. Là một xã có vị trí quan trọng nằm ở cửa ngõ phía
Tây của Hà Nội, Ngọc Liệp là một trong những xã địch chiếm đóng làm vành
đai bảo vệ của chúng. Đến tháng 4 năm 1949, vùng Ngọc Liệp hoàn toàn bị
Pháp chiếm, chúng cho lập một bốt quân sự tại Ngọc Bài. Nhân dân địa
phương đã gấp rút chuẩn bị mọi mặt, xây dựng và phát triển lực lượng chiến

Liệp còn tích cực tham gia công tác giữ gìn trật tự, bảo vệ an ninh Tổ quốc.
Với truyền thống lịch sử được tạo dựng qua hàng ngàn năm chiến đấu
và lao động, người dân Ngọc Liệp đã nuôi dưỡng cho mình ý thức yêu quê
hương, yêu đất nước, gắn bó với cộng đồng. Những truyền thống đó góp phần
tạo nên những giá trị văn hóa tinh thần vô cùng to lớn, qua đó hun đúc ý thức
tự hào về quá khứ oanh liệt, bảo vệ các giá trị vốn có của quê hương.
1.1.3. Đặc điểm kinh tế
Từ bao đời nay, Ngọc Liệp là một vùng quê nông nghiệp. Sản xuất
nông nghiệp luôn là ngành kinh tế quan trọng đem lại nhiều thu nhập cho
người dân. Phần lớn đất đai có thể canh tác được ở địa phương đều được sử


25
dụng cho sản xuất nông nghiệp. Hầu hết lao động chính tại đây cũng đều tham
gia hoạt động nông nghiệp. Trong tổng số 306,6 ha đất nông nghiệp ở địa
phương, có tới 301,5 ha là đất trồng lúa, chỉ có 5,1 ha là hồ đầm nuôi trồng
thủy sản [41, tr.799].
Vốn là cái rốn nước, trước kia, tuyệt đại bộ phận đất nông nghiệp địa
phương chỉ cấy được một vụ lúa chiêm. Cũng vì ngập lụt thường xuyên mà
đường làng, ngõ xóm nơi đây quanh năm bùn lầy, nước đọng, các gia đình ở
Ngọc Liệp đều có thuyền thúng, từ cụ già đến trẻ em đều biết chèo lái giỏi...
Người dân Ngọc Liệp phải sống trong cảnh nghèo đói mỗi mùa nước dâng
ngập xóm làng, đồng ruộng. Từ xa xưa, nơi đây có câu ca dao phần nào cho
thấy những nét khó khăn trong cuộc sống, lao động sản xuất:
“Quê em đồng trắng nước trong
Thóc gạo thì ít, rêu phong thì nhiều”
Ngày nay, bằng sự cần cù chịu khó, người dân nơi đây đã quy hoạch và
xây dựng công trình thủy lợi khá vững chắc, phần lớn chủ động được tưới,
tiêu, sản xuất được cải thiện, đời sống nhân dân từng bước được ổn định. Cơ
cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng vật nuôi được chuyển đổi hợp lý, áp dụng khoa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status