TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
NGUYỄN ĐÌNH HUY
TÊN ĐỀ TÀI ĐỒ ÁN
Đánh giá kết quả thực hiện đề án Nông thôn mới tại xã Cấn Hữu, huyện Quốc
Oai, Thành phố Hà Nội
Hà Nội - 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
NGUYỄN ĐÌNH HUY
TÊN ĐỀ TÀI ĐỒ ÁN
Đánh giá kết quả thực hiện đề án Nông thôn mới tại xã Cấn Hữu, huyện Quốc
Oai, Thành phố Hà Nội
Chuyên ngành: Quản lý đất đai
Mã ngành: D85301
NGƯỜI HƯỚNG DẪN : Th.s Võ Ngọc Hải
Hà Nội - 2015
LỜI CẢM ƠN
Để đánh giá kết quả học tập và rèn luyện của sinh viên, đồng thời tạo cơ hội
Giáo viên hướng dẫn
Nguyễn Đình Huy
Th.s Võ Ngọc Hải
MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ..........................................................................................................1
1.3.2. Xây dựng mô hình nông thôn mới ở Việt Nam..................................................................................14
2.3. Phương pháp nghiên cứu..........................................................................................17
- Mức sống dân cư: Với những kết quả đạt được về tốc độ tăng trưởng kinh tế, phát triển
của từng ngành kinh tế và chuyển đổi cơ cấu kinh tế của Cấn Hữu trong những năm qua, đã làm
cho thu nhập và mức sống của người dân trên địa bàn xã ngày càng được cải thiện. ...............25
3.2.3. Hiện trạng và kế hoạch hoàn thành các tiêu chí NTM của xã..................34
3.2.3.1. Nhóm tiêu chí đạt tiêu chuẩn theo quy định của Nhà nước...................36
* Tiêu chí số 4 (Điện): ..........................................................................................36
Xã Cấn Hữu hiện có 10 trạm hạ áp công xuất 3.040 Kw, số liệu thể hiện như
biểu dưới đây:........................................................................................................36
Biểu 3.4. Hiện trạng về điện của xã Cấn Hữu.....................................................36
So với tiêu chí nông thôn mới: Đạt......................................................................37
* Tiêu chí số 13 (hình thức tổ chức sản xuất): Toàn xã có 8 hợp tác xã, trong
đó có 04 HTXNN, 2 HTX kinh doanh thương mại. Có 02 doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh công nghiệp và Tiểu thủ công nghiệp,
100 hộ sản xuất Công nghiệp và TTCN. Các hộ sản xuất Tiểu thủ công nghiệp
nhỏ lẻ, chưa có liên kết liên doanh trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm..........37
- Tiêu chí đề ra là có tổ hợp tác, hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả..........38
triệu đồng/người/năm. Chưa đạt tiêu chí nông thôn mới, cần phát triển kinh tế
theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ trọng công nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp và thương mại- dịch vụ. ..................................................................47
- So với tiêu chí nông thôn mới: Chưa đạt (đạt khoảng 53%). Tiêu chí đề ra là
Thu nhập bình quân đầu người/năm so với mức bình quân chung của Thành
phố là gấp 1.5 lần, tức là cần phải đạt 21,45 triệu đồng/người/năm..................47
So với tiêu chí nông thôn mới: Chưa đạt.............................................................47
* Tiêu chí số 11 (tỷ lệ hộ nghèo): Xã Cấn hữu hiện có 260 hộ nghèo, chiếm
9,04 % tổng số hộ. Số hộ cận nghèo là 78 chiếm 2,71% tổng số hộ. Như vậy
theo tiêu chí nông thôn mới tỷ lệ hộ nghèo phải dưới 3% số hộ trong toàn xã.
So với tiêu chí nông thôn mới: Chưa đạt.............................................................47
* Tiêu chí số 12 (cơ cấu lao động): Xã Cấn Hữu hiện có 11.092 nhân khẩu,
7.688 LĐ trong độ tuổi (3882 LĐ nam, 3806 LĐ nữ), chiếm 69,31% dân số.
Trong đó: LĐ Nông, lâm, ngư nghiệp 3.228 LĐ chiếm 42%; TTCN 2.000 LĐ
chiếm 26%; Số LĐ hoạt động Thương mại, dịch vụ, hành chính sự nghiệp:
2.460 LĐ chiếm 32%. LĐ đã qua đào tạo nghề hiện nay 1.922 LĐ, khoảng
25%, chủ yếu là đào tạo ngắn hạn........................................................................47
* Tiêu chí số 14 (giáo dục): Xã đã thực hiện tốt phổ cập giáo dục tiểu học,
trung học cơ sở và đạt 100%. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học cơ sở tiếp tục
học lên trung học phổ thông, bổ túc, học nghề là 83,1%. So với tiêu chí nông
thôn mới đạt 90%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 1.922 LĐ, chiếm 25%
(tiêu chí đề ra phải trên 40% tổng số LĐ)...........................................................48
* Tiêu chí số 15 (y tế): Trong những năm qua xã Cấn Hữu đã thường xuyên
quan tâm đến việc thực hiện tốt, có hiệu quả các Chương trình Quốc gia về y
tế; đảm bảo làm tốt công tác khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe ban đầu
cho nhân dân; làm tốt công tác y tế dự phòng, khống chế không có dịch bệnh
lớn xảy ra trên địa bàn; làm tốt công tác truyền thông dân số và công tác kiểm
tra an toàn thực phẩm ở các nhà hàng, các hộ kinh doanh giết mổ và kinh
HCM
: Hồ Chí Minh
CNH
: Công nghiệp hóa
HĐH
: Hiện đại hóa
XD
: Xây dựng
LĐ
: Lao động
TTCN
: Tiểu thủ công nghiệp
UBND
: Uỷ ban nhân dân
HĐND
KH
: Kế hoạch
KHKT
: Khoa học ký thuật
BCĐ
: Ban chỉ đạo
GD&ĐT
: Giáo dục và đào tạo
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Biểu 3.1: Tình hình kinh tế của xã Cấn Hữu năm 2014
Biểu 3.2: Cơ cấu các loại đất chính của xã năm 2014
Biểu 3.3: Hiện trạng và kế hoạch hoàn thành các tiêu chí nông thôn mới xã Cấn
Hữu – huyện Quốc Oai giai đoạn 2012-2015
Biểu 3.4: Hiện trạng về điện của xã Cấn Hữu.
Biểu 3.5: Tình hình hệ thông tổ chức chính trị trên địa bàn xã Cấn Hữu
Biểu 3.6: Tình hình cơ sở vật chất văn hóa và trường học trên địa bàn xã
Biểu 3.7: Tình hình thực hiện tiêu chí số 2 của xã Cấn Hữu năm 2014
Biểu 3.8: Tình hình thực hiện tiêu chí số 3 của xã Cấn Hữu năm 2014
có những đóng góp quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội tại các địa
phương trên cả nước. Quy hoạch chung xây dựng đã định hướng tổ chức không
gian kiến trúc, xác định các địa bàn đô thị, nông thôn trong từng thời kỳ hợp lý,
hiệu quả tạo thành cơ sở pháp lý cho việc đầu tư xây dựng, bảo vệ tài nguyên môi
trường và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
Cùng với quá trình thực hiện chủ trương của Đảng về phát triển nông thôn,
xã Cấn Hữu, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội trong những năm vừa qua cùng
với quá trình phát triển kinh tế - xã hội thì đời sống của nhân dân càng được nâng
cao về vật chất cũng như tinh thần. Để phát triển bền vững về kinh tế- xã hội thì
việc quy hoạch xây dựng nông thôn mới là việc làm hết sức cần thiết. Nó đảm bảo
1
sự phân bố, phát triển hợp lý các nguồn lực. Đưa công nghiệp hóa, hiện đại hóa vào
sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn, phát triển kinh tế theo hướng đồng
bộ, toàn diện và định hướng phát triển kinh tế ổn định, lâu dài, bền vững. Xác định
các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, xác định tổ chức mạng lưới dân
cư, khai thác hợp lý các quỹ đất cho xây dựng vào sản xuất. Triển khai xây dựng
các dự án cho phát triển kinh tế, phát triển kỹ thuật hạ tầng và xây dựng các công
trình xã hội. Xây dựng các làng, xã có cuộc sống no đủ, văn minh, môi trường trong
sạch.
Sau một thời gian thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới đã làm
thay đổi một cách căn bản diện mạo nông thôn, nếp sống, nếp nghĩ, cách làm của
người dân giúp người dân biết áp dụng KHKT vào trồng trọt, chăn nuôi... làm cho
cả đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao, bộ mặt làng, xã
cũng được thay đổi rõ rệt, cảnh quan môi trường được bảo vệ. Nhưng mặt hạn chế
cũng không phải là ít, theo Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn mới của tỉnh, đây là
một lĩnh vực mới, trong khi kinh nghiệm của cán bộ chưa cao. Khi đề xuất nội dung
xây dựng đã yêu cầu chỉ chú trọng xây dựng hạ tầng, chưa quan tâm nhiều đến các
các nội dung chương trình đầu tư, thực hiện đối với nông thôn → vào 19 tiêu chí
nông thôn mới (đường, điện, trường, y tế, thuỷ lợi, tổ chức sản xuất, công tác cán
bộ, văn hoá, xã hội, môi trường… ) → tiêu chuẩn hoá → cuối cùng phải đạt được
đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao, xóa dần sự cách biệt
giữa nông thôn với thành thị.
- Tiêu chí để một xã được công nhận là xã đạt nông thôn mới: Điều tra, khảo
sát đánh giá thực trạng nông thôn cần đối chiếu với 19 tiêu chí( có bao nhiêu tiêu
chí đạt, bao nhiêu tiêu chí đạt ở mức cao (>75%), bao nhiêu tiêu chí đạt ở mức TB
3
(50%), bao nhiêu ở mức thấp ( (Đề án
xây dựng nông thôn mới)
- Nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới: Nó diễn ra ở nông thôn và người dân là
người hưởng lợi thành quả do đó nhiệm vụ đầu tiên ở đây đó là người dân nông
thôn vì người dân là chủ thể trong công cuộc XD NTM vì nó liên quan đến toàn bộ
các lĩnh vực đời sống, kinh tế, văn hoá, giáo dục, xã hội, môi trường …đồng thời
thực hiện 19 tiêu chí chính là nhiệm vụ chính trị của các cấp các ngành, các tổ chức
chính trị xã hội, các đoàn thể… nên phải huy động toàn bộ hệ thống chính trị vào
cuộc, nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị xã hội (phát huy nội lực là chính có sự hỗ
trợ của nhà nước) (nội lực: trong khi người dân đang khó khăn → đóng góp 1 phần
≈ 10% bằng tiền, hiện vật và công sức cần xin cơ chế chính sách để phát huy nội lực
của địa phương, do cán bộ và nhân dân đề xuất.
Việc xây dựng NTM nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế của quê hương, đất
nước trong giai đoạn mới. Sau 25 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của
Đảng, nông nghiệp, nông dân, nông thôn nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn. Tuy
nhiên, nhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế: Nông nghiệp
phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học- công nghệ và
chuyển toàn bộ mọi hoạt động của nền kinh tế nông nghiệp tự cung tự cấp sang nền
kinh tế có tư duy công nghiệp. Quy mô của nền kinh tế tăng nhanh, thu nhập đầu
người vượt khỏi ngưỡng thu nhập thấp, đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng kém
phát triển, trở thành nước có mức thu nhập trung bình.
- Bên cạnh đó sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ trên thế giới
đòi hỏi nước ta phải kịp thời tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì sẽ bị bỏ lại
phía sau.
- Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, số nước bắt đầu
chuyển sang nền kinh tế tri thức yêu cầu nước ta phải bắt kịp xu thế đó.
- Đã có nhiều chính sách được ban hành trong thời gian vừa qua để đẩy
nhanh tốc độ phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao mức sống người dân khu vực
nông thôn. Nhiều mô hình nông thôn mới của các nước tiên tiến trong khu vực cũng
đã được giới thiệu và áp dụng thành công ở mức độ nhất định ở một số địa phương
trong toàn quốc.
- Xây dựng nông thôn mới là câu chuyện mới có sự khác biệt so với trước đây, đó
là: Xây dựng nông thôn mới theo các tiêu chí quy định. Có sự chỉ đạo quyết liệt. Tập
chung sức của toàn dân và cả hệ thống chính trị.
Vì vậy, công tác xây dựng nông thôn mới phải dựa trên yêu cầu “sản xuất
phát triển, đời sống ấm no, làng xã văn minh, diện mạo sạch đẹp, quản lý dân chủ”,
5
xuất phát từ thực tế và tôn trọng ý kiến người dân. Trong những năm qua n ông
nghiệp, nông thôn luôn có bước phát triển, đạt được nhiều thành tựu to lớn, tuy nhiên
vẫn còn nhiều bất cập:
- Nhận thức người dân chưa cao, quy hoạch chưa đồng bộ.
- Chưa gắn được nông nghiệp với công nghiệp, với dịch vụ.
- Thu nhập người dân thấp.
- Môi trường ô nhiễm.
1.1.3.2. Yêu cầu của quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Để xây dựng quy hoạch nông thôn mới phải đáp ứng các yêu cầu sau:
- Tuân thủ các văn bản pháp quy hiện hành về quy hoạch xây dựng.
- Tuân thủ các quy định pháp lý có liên quan về bảo vệ công trình kỹ thuật,
công trình quốc phòng, di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh và bảo vệ môi
trường.
- Phù hợp với đặc điểm của địa phương về:
+ Điều kiện tự nhiên: Địa hình địa chất, địa chất thủy văn, đất đai nguồn
nước, môi trường khí hậu, tài nguyên, cảnh quan.
+ Kinh tế: Hiện trạng và tiềm năng phát triển.
+ Xã hội: Dân số, phong tục tập quán, tín ngưỡng,...
- Bảo đảm việc xây dựng mới, cải tiện các điểm dân cư nông thôn đạt các
yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, đảm bảo phát triển bền vững.
- Bảo đảm các điều kiện an toàn, vệ sinh môi trường, bảo vệ cảnh quan và
các di tích lịch sử, văn hóa, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hóa dân tộc, đảm bảo
các yêu cầu về quốc phòng và an ninh.
- Sử dụng hợp lý vốn đầu tư, đất đai và tài nguyên.
1.1.4. Trình tự các bước lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới
Bước 1: Thành lập ban chỉ đạo và Ban quản lý Chương trình xây dựng
NTM cấp xã.
Bước 2: Tổ chức tuyên truyền, học tập nghiên cứu các chủ chương, chính
sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới.
Bước 3: Khảo sát đánh giá thực trạng nông thôn mới theo 19 tiêu chí.
Bước 4: Lập đề án (kế hoạch) xây dựng nông thôn mới của xã (gồm kết
hoạch tổng thể đến năm 2020, kế hoạch các kỳ thực hiện).
Bước 5: Xây dựng quy hoạch nông thôn mới của xã.
7
huy nội lực của cộng đồng dân cư nông thôn. Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân
lực và tổ chức tốt đời sống văn hoá cơ sở.
- Xây dựng các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp với yêu cầu của nền nông
nghiệp hiện đại, sản xuất hàng hoá gồm cả nông nghiệp và phi nông nghiệp, thực
hiện "mỗi làng một nghề".
4. Quyết định 491/QĐ-TTg ngày 16/9/2009 của Thủ tướng Chính phủ ban
hành Bộ tiêu chí Quốc gia Nông thôn mới: Gồm 5 nhóm với 19 tiêu chí– là cụ thể
hóa các định tính của Nông thôn mới Việt Nam giai đoạn 2010 – 2020.
+ Nhóm 1: Quy hoạch
1 tiêu chí
+ Nhóm 2: Hạ tầng kinh tế- xã hội
8 tiêu chí
+ Nhóm 3: Kinh tế và tổ chức sản xuất
4 tiêu chí
+ Nhóm 4: Văn hóa– Xã hội– Môi trường
4 tiêu chí
+ Nhóm 5: Hệ thống chính trị
2 tiêu chí
1.3. Tình hình nghiên cứu xây dựng mô hình nông thôn mới trên thế giới và ở
Việt Nam
1.3.1. Trên thế giới
Trong bối cảnh nền kinh tế khu vực và thế giới phát triển như vũ bão, để
nông nghiệp và nông thôn nước ta phát triển mạnh mẽ sánh bước cùng các nước
trên thế giới thì việc tham khảo học tập kinh nghiệm phát triển nông nghiệp, nông
thôn của các nước trên thế giới là một yếu tố quan trọng tác động đến sự phát triển
kinh tế nước ta hiện nay.
1.3.1.1. Xây dựng nông thôn mới ở Hàn Quốc
Vào những năm đầu 60 Hàn Quốc vẫn là nước chậm phát triển, nông nghiệp
là hoạt động kinh tế chính với khoảng 2/3 dân số sống ở khu vực nông thôn, nông
dân quen sống trong cảnh nghèo nàn, an phận, thiếu tinh thần trách nhiệm. Do vậy,
nhiều chính sách mới về phát triển nông thôn ra đời nhằm khắc phục tình trạng trên.
Bài học của Hàn Quốc về phát triển nông thôn đáng để nhiều nước quan tâm và suy
ngẫm. Cùng với nhiều biện pháp quan trọng khác, Hàn Quốc đã đặt mục tiêu là làm
thay đổi suy nghĩ thụ động và tư tưởng ỷ lại của phần lớn người dân nông thôn. Từ
10
đó sẽ làm cho nông dân có niềm tin và tích cực với sự nghiệp phát triển nông thôn,
làm việc chăm chỉ, độc lập và có tính cộng đồng cao. Trọng tâm của cuộc vận động
phát triển nông thôn này là phong trào xây dựng "làng mới" (Saemoul Undong).
Tổ chức phát triển nông thôn được thành lập chặt chẽ từ trung ương đến cơ
sở. Mỗi làng bầu ra "Uỷ ban Phát triển Làng mới" gồm từ 5 đến 10 người để vạch
kế hoạch và tiến hành dự án phát triển nông thôn.
Nguyên tắc cơ bản của phong trào làng mới: Nhà nước hỗ trợ vật tư, nhân
dân đóng góp công của. Nhân dân quyết định loại công trình nào ưu tiên xây dựng
và chịu trách nhiệm quyết định toàn bộ thiết kế, chỉ đạo thi công, nghiệm thu công
trình. Sự giúp đỡ của Nhà nước trong những năm đầu chiếm tỷ lệ cao, dần dần các
Trung Quốc xuất phát từ một nước nông nghiệp, đại bộ phận người lao động
sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Nên cải cách kinh tế ở nông thôn là một khâu
đột phá quan trọng trong cuộc cải cách kinh tế ở Trung Quốc. Vì vậy, từ đầu những
năm 80 của thế kỷ 20, Trung Quốc đã chọn hướng phát triển nông thôn bằng cách
phát huy những công xưởng nông thôn thừa kế được của các công xã nhân dân
trước đây, thay đổi sở hữu và phương thức quản lý để phát triển mô hình "công
nghiệp hưng trấn". Các lĩnh vực như chế biến nông lâm sản, hàng công nghiệp nhẹ,
máy móc nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp… đang ngày càng được đẩy mạnh.
Nguyên tắc của Trung Quốc là quy hoạch đi trước, định ra các biện pháp thích
hợp cho từng nơi, đột phá trọng điểm, làm mẫu đường. Chính phủ hỗ trợ, nông dân xây
dựng. Với mục tiêu "ly nông bất ly hương", Trung Quốc đã thực hiện đồng thời 3
chương trình phát triển nông nghiệp và phát triển nông thôn:
- Chương trình đốm lửa: Điểm khác biệt của chương trình này là trang bị cho
hàng triệu nông dân các tư tưởng tiến bộ khoa học, bồi dưỡng nhân tài đốm lửa,
nâng cao tố chất nông dân. Sau 15 năm thực hiện, chương trình đã bồi dưỡng được
60 triệu thanh niên nông thôn thành một đội ngũ cán bộ khoa học cốt cán, tạo ra
một động lực tiềm năng thúc đẩy nông thôn phát triển, theo kịp với thành thị.
- Chương trình được mùa: Chương trình này giúp đại bộ phận nông dân áp
dụng khoa học tiên tiến, phương thức quản lý hiện đại để phát triển nông nghiệp,
nông thôn. Trong 15 năm sản lượng lương thực của Trung Quốc đã tăng lên 3 lần so
12
với những năm đầu 70. Mục tiêu phát triển nông nghiệp là sản xuất các nông sản
chuyên dụng, phát triển chất lượng và tăng cường chế biến nông sản phẩm.
- Chương trình giúp đỡ vùng nghèo: Mục tiêu là nâng cao mức sống của các
vùng nghèo, vùng miền núi, dân tộc ít người, mở rộng ứng dụng thành tựu khoa học
tiên tiến, phổ cập tri thức khoa học công nghệ và bồi dưỡng cán bộ khoa học cốt cán
cho nông thôn xa xôi, tăng sản lượng lương thực và thu nhập của nông dân. Sau khi
và đầu tư.
- Dịch chuyển cơ cấu thị trường.
- Cải thiện phúc lợi xã hội cho nông dân.
1.3.2. Xây dựng mô hình nông thôn mới ở Việt Nam
1.3.2.1. Lịch sử phát triển các mô hình tổ chức sản xuất ở Việt Nam
- Trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945 nước ta chỉ có 3% dân số là địa chủ
chiếm 41,4% ruộng đất; Nông dân lao động chiếm 97% dân số nhưng chỉ có 36%
diện tích đất.
- Từ năm 1954- 1959, ruộng đất được giao cho người dân với mục tiêu
"người cày có ruộng". Giai đoạn này quan hệ sản xuất chuyển từ địa chủ phong kiến
sang quan hệ sản xuất mới, nông dân làm chủ ruộng đất và sản xuất độc lập trên
ruộng đất của mình.
- Từ 1960- 1985: Chia làm 2 giai đoạn nhỏ là mô hình tổ chức sản xuất dưới
dạng hợp tác xã nông nghiệp.
+ Từ 1960- 1975: Mô hình hợp tác hoá nông nghiệp được triển khai trên toàn
miền Bắc. Trong thời kỳ này Nhà nước đã tăng cường đầu tư cho nông thôn về cơ
sở hạ tầng kỹ thuật chủ yếu để phát triển HTX: Phát triển các công trình kỹ thuật
(nhà kho, sân phơi, các trại giống…) đẩy mạnh việc chuyển giao khoa học kỹ thuật
về trồng trọt, chăn nuôi… đã có những tác động tích cực đến sản xuất nông nghiệp.
+ Từ 1976- 1980: Mô hình tổ chức hợp tác xã nông nghiệp được triển khai
trên phạm vi cả nước. Trong đó vai trò của cấp huyện được coi trọng, là cấp quản lý
kinh tế chủ yếu đối với việc thực hiện các chiến lược phát triển nông nghiệp và
nông thôn. Hình ảnh của người nông dân lúc này là hình ảnh của người xã viên
HTX.
14
− Từ năm 1981- 1987, phát triển mô hình khoán sản phẩm đến nhóm và
người lao động. Chia làm 2 giai đoạn:
trương về phát triển 5 thành phần kinh tế và 3 chương trình kinh tế lớn của nhà
nước; Hộ nông dân là chủ thể sản xuất ban hành giao đất, cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất, mở rộng vay vốn, tín dụng, thực hiện xóa đói giảm nghèo...
mở rộng quyền tự chủ kinh doanh cho nông hộ, kinh tế nông hộ thay đổi lớn.
Giai đoạn này, nông hộ là đơn vị sản xuất cơ bản. Người nông dân đã chú
trọng đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất và đóng góp nhiều cho phát triển cơ
sở hạ tầng, làm cho bộ mặt nông thôn có những thay đổi đáng kể.
Mô hình này có tác dụng làm cho cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch
mạnh theo hướng tích cực. Đời sống của người dân nông thôn đã ngày càng nâng
cao, đẩy mạnh tiến trình phát triển nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.
CHƯƠNG 2: MỤC TIÊU- NỘI DUNG- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
16