1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TÀI CHÍNH
HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN
TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH HẢI PHÒNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
HÀ NỘI – 2014
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
2
TT
Chữ viết tắt
Giải nghĩa
1
DN
Thương mại cổ phần
DANH MỤC CÁC BẢNG
3
Số hiệu bảng
2.1
Tên bảng
Cơ cấu nguồn vốn huy động
2.2
Tình hình huy động và sử dụng vốn
Trang
44
56
DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
Số hiệu sơ đồ,
Tên sơ đồ, đồ thị
Trang
đồ thị
2.1
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
TRANG
4
Mục lục
Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các sơ đồ, đồ thị
LỜI MỞ ĐẦU
01
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG
04
1.1.
1.1.1.
1.1.2.
1.2
1.2.1.
1.2.2.
1.3.
1.3.1.
1.3.2.
23
1.4.1.
1.4.2.
1.5.
hàng thương mại
Nhân tố khách quan
Nhân tố chủ quan
Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả huy động vốn tại một số
23
26
30
1.5.1.
ngân hàng thương mại trên địa bàn Hải Phòng
Kinh nghiệm về nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng
30
1.5.2.
thương mại cổ phần Công thương Việt Nam chi nhánh Hải Phòng
Kinh nghiệm nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng
35
thương mại cổ phần Quân đội chi nhánh Hải Phòng
Chức năng, nhiệm vụ
Kết quả hoạt động kinh doanh
Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp
41
42
43
2.2.1.
và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Hải Phòng
Tình hình huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp Phát triển
43
2.2.2.
Nông thôn Việt Nam chi nhánh Hải Phòng.
Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Nông nghiệp Phát triển Nông
51
2.3.
thôn Việt Nam chi nhánh Hải Phòng
Đánh giá hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp
58
63
64
3.2.
nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh Hải Phòng
Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng
64
Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Hải
3.2.1.
3.2.2.
3.2.3.
3.2.4.
3.2.5.
Phòng
Có định hướng, kế hoạch về phát triển nguồn vốn phù hợp
Đa dạng hóa sản phẩm tiền gửi
Áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt
Nâng cao trình độ nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ nhân viên
Gắn liền việc tăng cường huy động vốn với sử dụng vốn có .hiệu
64
65
70
71
72
6
Việt Nam
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
81
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động sản xuất kinh doanh
được thì phải có: Công nghệ - Lao động – Tiền vốn trong đó vốn là nhân tố quan
trọng, nó phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh. Riêng
đối với ngân hàng thương mại, vốn lại càng là nhân tố không thể thiếu trong hoạt
động kinh doanh của ngân hàng. Vốn là cơ sở để ngân hàng thương mại tổ chức
hoạt độnh kinh doanh, ngân hàng không thể thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh
nếu không có vốn. Những ngân hàng trường vốn là ngân hàng có nhiều thế mạnh
trong kinh doanh. Hơn nữa, vốn lớn là lợi thế đầu tiên trong việc chấp hành pháp
luật, tạo thế mạnh và thuận lợi trong kinh doanh tiền tệ. Chính vì thế, có thể nói
vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng, là nhân tố không
thể thiếu của ngân hàng. Do đó, ngoài vốn ban đầu cần thiết, tức là đủ vốn điều
lệ theo luật định thì ngân hàng phải thường xuyên chăm lo tới việc tăng trưởng
vốn trong suốt quá trình hoạt động của mình. Theo quan niệm của các nhà kinh tế
học “Trong tổng nguồn vốn của ngân hàng, ngoài nguồn vốn thuộc chủ sở hữu và
nguồn vốn đi vay thì tất cả các nguồn vốn còn lại được coi là nguồn vốn huy
động”. Như vậy, vốn huy động của ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng tới trên
70% trong cơ cấu nguồn vốn. Với chức năng“đi vay để cho vay” ngân hàng
4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Hệ thống hóa và làm rõ hơn những luận cứ khoa học mang tính lý luận
thực tiễn về hoạt động huy động vốn và hiệu quả huy động vốn của ngân hàng
thương mại trong cơ chế thị trường.
Phân tích thực trạng hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Hải Phòng và những vấn đề tồn tại
cần được tiếp tục giải quyết để hoàn thiện trong tương lai.
Đề xuất một số giải pháp, kiến nghị có ý nghĩa thực tiễn nhằm góp phần
nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn Việt Nam chi nhánh Hải Phòng nói riêng và tại các Ngân hàng thương mại
nói chung.
3
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận
văn gồm 3 chương sau:
Chương 1: Lý luận chung về hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng
thương mại.
Chương 2: Thực trạng hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp
Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Hải Phòng.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Nông
nghiệp Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh Hải Phòng
4
Chương 1
5
- NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế:
Vốn được tạo ra từ quá trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh
nghiệp và Nhà nước trong nền kinh tế. Khi nền kinh tế phát triền càng cao, càng
tạo ra nhiều nguồn vốn, điều đó sẽ có tác động tích cực đến hoạt động ngân
hàng. NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi của
mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế. Thông qua nghiệp vụ tín dụng
NHTM sẽ cung cấp vốn cho nền kinh tế, đáp ứng đầy đủ, kịp thời cho quá trình
tái sản xuất. Nhờ đó, các doanh nghiệp sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của mình, góp phần nâng cao hiệu quả của nền kinh tế.
- NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường:
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động của doanh nghiệp chịu sự tác động
của các quy luật như giá trị, cung cầu, cạnh tranh và sản xuất phải thoả mãn nhu
cầu thị trường cả về giá cả, khối lượng, chất lượng, thời gian, địa điểm, chất
lượng lao động, máy móc thiết bị, công nghệ… Những hoạt động này đòi hỏi
phải có một lượng vốn đầu tư lớn nhiều khi vượt quá khả năng của doanh
nghiệp. Do đó để giải quyết khó khăn này, doanh nghiệp đến ngân hàng xin vay
vốn để thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình. Thông qua hoạt động cấp tín dụng
cho doanh nghiệp, ngân hàng đã là cầu nối doanh nghiệp với thị trường.
- NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế:
Thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán giữa các ngân hàng trong hệ
thống, các NHTM đã góp phần mở rộng hay thu hẹp lượng tiền trong lưu thông.
Hơn nữa, bằng việc cấp các khoản tín dụng cho nền kinh tế, NHTM thực hiện
việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp, phân chia vốn của thị trường điều khiển
chúng một cách có hiệu quả, thực thi vai trò điều tiết vĩ mô.
- NHTM là cầu nối giữa nền kinh tế quốc gia với nền tài chính quốc tế:
Ngày nay, sự phát triển kinh tế của mỗi nước luôn gắn liền với sự phát triển
của nền kinh tế thế giới nên nền tài chính của mỗi nước cũng phải hoà nhập với
- Nghiệp vụ tiền vay
Phản ánh quá trình tạo ra nguồn vốn bằng cách vay các tổ chức tín dụng trên
thị trường tiền tệ và vay NHTW dưới các hình thức tái chiết khấu, vay có bảo
7
đảm… mục đích tạo sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi họ
không tự cân đối được trên cơ sở khai thác tại chỗ.
- Nghiệp vụ huy động vốn khác
Thông qua nghiệp vụ NHTM có thể tạo vốn cho mình thông qua việc nhận
làm đại lý hay uỷ thác vốn cho các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước.
1.1.2.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn
Ngân hàng là một tổ chức tài chính trung gian “đi vay để cho vay”. Do vậy,
mối quan tâm hàng đầu của ngân hàng sau khi đã huy động được một lượng vốn
là làm sao sử dụng nguồn vốn mà không bị rơi vào tình trạng kẹt vốn. Ngân hàng
cần phải nghiên cứu và đưa ra chiến lược sử dụng vốn của mình. Đó là:
- Ngân hàng cho vay
Nghiệp vụ cho vay là nghiệp vụ đặc trưng nhất của NHTM. Nó tạo ra hình
thức tín dụng ngân hàng và ngân hàng sẽ tiến hành phân phối có trọng điểm
nguồn vốn đã hình thành trong nghiệp vụ huy động, điều tiết vốn từ nơi thừa đến
nơi thiếu, bổ sung vốn cho sản xuất kinh doanh. Đối với ngân hàng, đây là
nghiệp vụ quan trọng nhất, sử dụng phần lớn nguồn vốn và tạo ra thu nhập chủ
yếu.
- Ngân hàng tiến hành đầu tư
Ngân hàng tham gia vào đầu tư, mua bán chứng khoán trên thị trường
chứng khoán nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ lợi tức chứng khoán và từ
chêch lệch thị giá chứng khoán mua bán trên thị trường. Ngoài ra, ngân hàng còn
thực hiện hùn vốn, liên doanh qua đó trực tiếp góp vốn vào các doanh nghiệp để
vốn huy động ảnh hưởng tới quyết định sử dụng vốn, ngược lại nhu cầu sử dụng
vốn ảnh hưởng tới quy mô, cơ cấu của nguồn vốn huy động. Các nghiệp vụ trung
gian tạo thêm thu nhập cho ngân hàng nhưng mục đích chính là thu hút khách
hàng qua đó tạo điều kiện cho việc huy động và sử dụng vốn có hiệu quả.
1.2. HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại
1.2.1.1. Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc quyền sở hữu của NHTM. Đây là nguồn
vốn ổn định và luôn tăng trưởng trong quá trình hoạt động của Ngân hàng, có thể
9
sử dụng với kỳ hạn dài mà không phải hoàn trả nên nó chính là nền tảng cho sự
tăng trưởng của ngân hàng. Vốn tự có được chia thành nhiều nguồn khác nhau cụ
thể như sau:
(1) Vốn điều lệ thực có (Vốn được cấp, vốn đã góp): là nguồn vốn ban đầu
ngân hàng có khi mới hoạt động và được ghi vào bảng điều lệ hoạt động của
ngân hàng.
(2) Quỹ dự trữ và dự phòng: Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ được hình
thành nhằm mục đích bổ sung vốn điều lệ của ngân hàng khi cần thiết, đáp ứng
yêu cầu mở rộng quy mô hoạt động của ngân hàng. Các quỹ dự phòng gồm: Một
là quỹ dự phòng tài chính, trích tỷ lệ bằng 10% lãi ròng hàng năm của ngân
hàng, số dư của quỹ không được phép vượt quá 25% vốn điều lệ dùng để bù đắp
phần còn lại của những tổn thất, thiệt hại về tài sản xảy ra trong quá trình kinh
doanh sau khi đã được bù đắp bằng tiền bồi thường của các tổ chức, cá nhân gây
ra tổn thất, của tổ chức bảo hiểm và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trích lập
trong chi phí. Hai là quỹ dự phòng rủi ro, được hình thành bằng cách trích lập dự
phòng trên từng nhóm tài sản Có của ngân hàng, bao gồm nhóm cho vay, các
kinh tế và đóng vai trò là người thủ quỹ của toàn xã hội.
Do tầm quan trọng của nguồn vốn huy động, các NHTM cần xây dựng một
cơ cấu vốn huy động hợp lí. Cơ cấu vốn được phản ánh thông qua tỷ trọng của
từng khoản mục đã nêu trên trong tổng vốn huy động của ngân hàng.
Quy mô của loại vốn i
X 100
Tổng vốn huy động
Tỷ trọng loại vốn nào cao phản ánh ưu thế của ngân hàng trong việc huy
Tỷ trọng của loại vốn i =
=
động loại vốn đó. Mặt khác, nó cũng cho thấy sự chú trọng của Ngân hàng vào
những hình thức huy động nhất định. Qua đó, người ta có thể nhận thấy chính
sách huy động vốn của ngân hàng và đánh giá được Ngân hàng có đạt được mục
tiêu trong trường hợp thực hiện thay đổi cơ cấu vốn hay không.
1.2.1.3. Vốn vay
Vay vốn trên thị trường tiền tệ
11
Trong quá trình kinh doanh của các NHTM luôn có tình trạng tạm thời thừa
vốn hoặc thiếu vốn, đó là khi huy động vốn nhưng chưa cho vay hết, hay khi
khách hàng có nhu cầu vay lớn nhưng nguồn vốn lại không đủ, hoặc người gửi
rút tiền trước thời hạn trong khi đó vốn vay chưa đến lúc thu hồi. Khi ấy, các
NHTM có thể gửi vào các TCTD khác để hưởng lãi hay đi vay vốn để tận dụng
cơ hội kinh doanh, hoặc đảm bảo khả năng thanh toán. NHTM có thể vay vốn ở
các TCTD khác hoặc vay vốn ở NHTW. Các khoản vay này đều phải có thế chấp
nghiệp vụ này ngân hàng cũng sẽ được hưởng một khoản phí hoa hồng . Nguồn
vốn loại này rất đa đạng , phong phú với đặc điểm là lãi suất thấp, thời gian trả
nợ dài (với vốn ODA là 30 – 40 năm).
Trong quá trình làm trung gian thanh toán NHTM cũng có một khoản vốn
gọi là “nguồn vốn trong thanh toán”. Nguồn vốn này bao gồm: Số vốn trong thời
gian đã trích khỏi tài khoản của người trả nhưng chưa chuyển vào tài khoản của
người hưởng do phải luân chuyển, xử lý chứng từ thanh toán; Số vốn trong thời
gian khách hàng lưu ký tại ngân hàng nhưng chưa thanh toán như séc bảo chi,
thư tín dụng, thẻ thanh toán ký quỹ,….
Ngoài ra, ngân hàng còn làm đại lý bán cổ phiếu, trái phiếu cho các doanh
nghiệp, cũng như thu hộ lợi tức từ đầu tư chứng khoán cho khách hàng,…
Những nghiệp vụ này cũng tạo nên nguồn vốn cho ngân hàng.
Các nguồn vốn khác của ngân hàng có thể không nhiều, thời gian sử dụng
đôi khi rất ngắn nhưng điều đáng quan tâm là với nguồn vốn này ngân hàng
không phải tốn kém chi phí huy động mà lại có điều kiện phát triển các nghiệp
vụ và dịch vụ NHTM khác, phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng.
1.2.2. Các hình thức huy động vốn
Về cơ bản, vốn huy động của NHTM dưới hình thức bằng tiền (nội tệ và
ngoại tệ) và bằng vàng được hình thành từ hai bộ phận: Vốn huy động từ tiền gửi
và vốn huy động thông qua phát hành các giấy tờ có giá. Ngoài hai hình thức
truyền thống trên, các ngân hàng hiện đại ngày nay còn huy động vốn thông qua
hình thức thứ ba là bán và chứng khoán hoá các khoản cho vay.
13
1.2.2.1. Huy động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi
Đây là nguồn vốn chiếm một tỷ trọng khá lớn trong nguồn vốn huy động
của NHTM. Bản chất của tài khoản tiền gửi là tài sản thuộc sở hữu của các đối
trích nhưng chưa đến lúc sử dụng; Tiền thu bán hàng chưa phải mua nguyên vật
liệu, trả lương; Các quỹ đầu tư phát triển, phúc lợi, khen thưởng đã trích nhưng
chưa sử dụng đến,... Để đảm bảo an toàn tài sản an toàn và đồng vốn vẫn sinh
lời, các tổ chức kinh tế có thể gửi số vốn đó vào ngân hàng, hoặc để thuận tiện
cho quá trình sử dụng vốn đơn vị có thể thanh toán qua ngân hàng cũng như sử
dụng các dịch vụ ngân hàng khác.
Tiền gửi của dân cư – là một bộ phận thu nhập bằng tiền của các tầng lớp
dân cư trong xã hội gửi vào ngân hàng nhằm mục đích tiết kiệm, kiếm lời và
thanh toán, bao gồm hai loại: Một là tiền gửi tiết kiệm, người gửi được ngân
hàng giao cho một sổ tiết kiệm, trong thời gian gửi tiền sổ tiết kiệm có thể dùng
làm vật cầm cố hoặc được chiết khấu để vay vốn ngân hàng. Hai là tiền gửi
thanh toán, các cá nhân trong xã hội cũng có nhu cầu và được pháp luật cho phép
thực hiên thanh toán qua ngân hàng; khi đó họ cũng mở tài khoản tiền gửi thanh
toán tại ngân hàng và gửi tiền vào đó để đáp ứng nhu cầu thanh toán cũng như để
sử dụng các tiện ích khác có liên quan của ngân hàng.
Theo tiêu thức loại tiền vốn huy động từ tiền gửi được phân thành:
Tiền gửi nội tệ: là khoản tiền gửi cơ bản mà các NHTM nhận được, nó phụ
thuộc vào mức thu nhập trong nước và lãi suất huy động trong từng thời kỳ, loại
tiền này thường chiếm tỷ trọng cao trong tổng lượng tiết kiệm.
Tiền gửi ngoại tệ: Bên cạnh nhận tiền gửi nội tệ, Ngân hàng còn nhận tiền
gửi dưới dạng ngoại tệ đặc biệt là các ngoại tệ mạnh như USD, FRF, GBP, …
Những ngoại tệ này cũng rất cần thiết trong hoạt động của ngân hàng như kinh
doanh ngoại tệ trong nước, trong quan hệ tài trợ xuất nhập khẩu, thanh toán quốc
tế,…các ngân hàng có xu hướng mở rộng kinh doanh đối ngoại thường có nguồn
vốn ngoại tệ lớn.
15
1.2.2.2. Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá
của ngân hàng. Tuy nhiên chi phí của nguồn vốn này tương đối cao do ngân hàng
phải trả lãi cao hơn các hình thức huy động truyền thống khác.
1.2.2.3. Huy động vốn từ các tổ chức tín dụng khác và ngân hàng nhà nước
Vốn đi vay là quan hệ vay vốn giữa NHTM và NHTW, hoặc giữa các
NHTM với nhau hay các tổ chức tín dụng khác.
- Vay các tổ chức tín dụng khác
Trong quá trình hoạt động ngân hàng có thể vay TCTD khác thông qua thị
trường tiền tệ liên ngân hàng. Chi phí của nguồn vốn này thường cao và thời
gian sử dụng thường ngắn. Các ngân hàng cho nhau vay dưới các hình thức: vay
qua đêm, vay kỳ hạn, hợp đồng gia hạn.
- Vay Ngân hàng trung ương
NHTW cho NHTM vay dưới hình thức tái chiết khấu giấy tờ có giá. Mục
đích cho vay của NHTW với NHTM là thực thi chính sách tiền tệ, đảm bảo an
toàn hệ thống ngân hàng. Chi phí của nguồn vốn này cao hay thấp phụ thuộc vào
chính sách tiền tệ của NHTW. Giả sử khi NHTW muốn tăng mức cung ứng tiền
thì NHTW sẽ giảm mức lãi suất tái chiết khấu từ đó sẽ kích thích các NHTM vay
NHTW nhiều hơn do đó tăng khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế thúc đẩy
kinh tế phát triển và ngược lại.
1.3. HIỆU QUẢ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1. Khái niệm về hiệu quả huy động vốn
Hiệu quả huy động vốn của NHTM chính là kết quả huy động mà Ngân hàng
đạt được, phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn, đảm bảo được mục tiêu an toàn và sinh
lợi cao cho Ngân hàng trong từng thời kỳ. Tuy nhiên, làm thế nào để biết nguồn vốn
đó là phù hợp, vừa đủ và đáp ứng được nhu cầu kinh doanh thì trước tiên công tác
huy động vốn của Ngân hàng đòi hỏi phải thoả mãn ba yêu cầu sau:
Thứ nhất, nguồn vốn huy động phải xuất phát từ nhu cầu kinh doanh của
Ngân hàng để đảm bảo có khả năng đáp ứng cho hoạt động sử dụng vốn của
Ngân hàng. Tức là vốn huy động phải có sự tăng trưởng ổn định về số lượng, có
trọng, có sức hấp dẫn mạnh mẽ và tác động trực tiếp tới quyết định lựa chọn sản
phẩm, dịch vụ cũng như quyết định lựa chọn ngân hàng ký gửi. Ngân hàng nào
18
đem lại cho khách hàng mức lợi nhuận tối đa và lợi ích tốt nhất thì ngân hàng đó
sẽ huy động được nhiều hơn số vốn nhàn rỗi từ khách hàng. Để có thu hút được
khách hàng, thông thường mọi ngân hàng đều cố gắng rút ngắn quy trình huy
động vốn, hạ chi phí huy động, đảm bảo sự phù hợp cho người gửi tiền về thời
hạn, loại tiền, lãi suất và sự thuận tiện về địa điểm giao dịch. Như vậy, khi đánh
giá chất lượng công tác huy động vốn cần đặc biệt quan tâm tới chỉ tiêu mức
thuận lợi và lợi ích của khách hàng gửi tiền để xem xét và đánh giá mối quan hệ
mật thiết giữa ngân hàng và khách hàng.
- Uy tín ngân hàng và số lượng vốn bị rút trước hạn
Với phương châm “đi vay để cho vay” ngân hàng muốn hoạt động kinh doanh
có hiệu quả thì trước hết phải tạo được uy tín đối với khách hàng. Uy tín của ngân
hàng có tác động trực tiếp tới công tác huy động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng.
Khi ngân hàng có uy tín, khách hàng sẽ tìm đến với ngân hàng đó để giao dịch,
ngân hàng thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi từ khách hàng. Ngược lại, khi ngân
hàng mất uy tín, khách hàng sẽ không đến với ngân hàng vì lo sợ gặp rủi ro, khi đó,
những khách hàng đã gửi tiền sẽ tìm cách rút tiền gửi ra khỏi ngân hàng mặc dù số
tiền đó có thể chưa đến hạn và họ chấp nhận mức lãi suất thấp hơn số lãi dự trả.
Nếu số lượng vốn bị rút trước hạn quá lớn, ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng mất cân
đối, số vốn huy động thấp hơn số vốn cần sử dụng, khả năng thanh toán giảm sút và
có nguy cơ đối mặt với việc phá sản. Vì vậy, để đánh giá chất lượng công tác huy
động vốn của một ngân hàng, người ta còn so sánh tỷ lệ rút vốn trước hạn giữa các
ngân hàng với nhau. Nếu tỷ lệ này cao, chứng tỏ uy tín của ngân hàng thấp, công
tác huy động vốn chưa tốt.
- Mức độ đa dạng hoá của các hình thức huy động vốn
cấu nguồn vốn huy động phụ thuộc không chỉ vào một phần kế hoạch của ngân hàng
mà còn chịu sự tác động của các nhân tố bên ngoài đòi hỏi ngân hàng phải thường
xuyên nghiên cứu tiếp cận thị trường.
Khối lượng vốn huy động phản ánh quy mô vốn. Quy mô vốn lớn sẽ tạo điều
kiện cho ngân hàng mở rộng hoạt động kinh doanh của mình. Trong tổng nguồn vốn
của ngân hàng thì quy mô vốn huy động là một bộ phận chiếm tỷ trọng cao nhất và
có vai trò quan trọng hơn cả. Sau khi đã huy động được khối lượng vốn lớn thì cái mà