HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
PHẠM QUỐC HƯƠNG
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ, KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN
HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
GIAI ĐOẠN 2016 - 2020
ĐỀ ÁN TỐT NGHIỆP CAO CẤP LÝ LUẬN CHÍNHTRỊ
Hà Nội, tháng 5 năm 2016
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
ĐỀ ÁN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THỰC HÀNH QUYỀN
CÔNG TỐ, KIỂM SÁT ĐIỀU TRA CÁC VỤ ÁN
HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
GIAI ĐOẠN 2016 - 2020
Người thực hiện : Phạm Quốc Hương
Lớp
: B10-15
BLTTHS
BLHS
KSĐT
:
:
:
:
KSV
:
Nxb
VKSND
VKS
THQCT
:
:
:
:
Cơ quan điều tra
Bộ Luật tố tụng hình sự
Bộ Luật hình sự
Kiểm sát điều tra
Kiểm sát viên
Nhà xuất bản
Viện Kiểm sát nhân dân
- Không có vụ án nào phải đình chỉ điều tra vì không phạm tội.
3. Giới hạn của đề án
3.1. Về đối tượng: Công tác thực hành quyền công tố (THQCT), kiểm
sát điều tra (KSĐT) các vụ án hình sự.
3.2. Về không gian: Đề án được xây dựng và triển khai trên địa bàn
huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Đinh.
3.3. Về thời gian: Đề án được xây dựng trên cơ sở đánh giá thực trạng
công tác THQCT, KSĐT các vụ án hình sự trên địa bàn huyện Trực Ninh từ năm
2011 - 2015 và được triển khai thực hiện trong giai đoạn từ năm 2016 - 2020.
4
B. NỘI DUNG CỦA ĐỀ ÁN
1. Cơ sở xây dựng đề án
1.1. Cơ sở khoa học
1.1.1. Khái niệm thực hành quyền công tố, kiểm sát điều
tra các vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân
Theo quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 quy định: Viện kiểm sát
nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Thực hành
quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự là một nội dung thực hành quyền
công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân.
Quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc truy cứu trách
nhiệm hình sự đối với người phạm tội. Quyền này thuộc về Nhà nước, được Nhà
nước giao cho Viện kiểm sát thực hiện để phát hiện tội phạm và truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người phạm tội.
Thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý
thuộc nội dung quyền công tố để thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
người phạm tội trong các giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử các vụ án hình sự.
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra các vụ án hình sự là việc Viện
kiểm sát sử dụng tổng hợp các quyền năng pháp lý thuộc nội dung thực hành quyền
công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự có các nhiệm vụ, quyền hạn sau:
- Yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một
số hoạt động điều tra khởi tố hoặc thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án,
khởi tố bị can.
- Hủy bỏ các quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung
quyết định khởi tố vụ án, quyết định không khởi tố vụ án trái pháp luật; phê
chuẩn hoặc hủy bỏ quyết định khởi tố, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết
định khởi tố bị can trái pháp luật.
6
- Khởi tố, thay đổi, bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can
trong những trường hợp do Bộ luật tố tụng hình sự quy định.
- Phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn
cấp, gia hạn tạm giữ, việc tạm giam và các biện pháp khác hạn chế quyền con
người, quyền công dân.
- Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp bắt, tạm giữ, tạm
giam, các biện pháp ngăn chặn và các biện pháp khác hạn chế quyền con
người, quyền công dân theo quy định của luật.
- Phê chuẩn, không phê chuẩn, hủy bỏ các quyết định tố tụng khác của
Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra.
- Đề ra yêu cầu điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra, cơ quan được giao
nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra thực hiện việc điều tra để làm rõ
tội phạm, người phạm tội; yêu cầu Cơ quan điều tra truy nã bị can.
- Trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra trong trường hợp để
kiểm tra, bổ sung tài liệu, chứng cứ khi xét phê chuẩn các lệnh, quyết định
của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra hoặc trong trường hợp phát hiện có dấu hiệu oan, sai, bỏ lọt tội phạm,
vi phạm pháp luật mà Viện kiểm sát nhân dân đã yêu cầu nhưng không được
tội phạm và vi phạm pháp luật.
-Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát điều tra vụ án
hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng thực hành
quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của Viện
kiểm sát nhân dân cấp huyện
- Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật
Hiến pháp và hệ thống pháp luật có liên quan như: Bộ luật tố tụng hình
8
sự; Bộ luật hình sự, Luật Tổ chức VKSND…. là những cơ sở pháp lý cơ bản
và quan trọng nhất cho hoạt động của VKSND trong thực hành quyền công
tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự.
Vì vậy, sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thực định, cơ chế thực
hiện và áp dụng pháp luật; ý thức pháp luật và văn hoá pháp lý của cán bộ,
công chức và nhân dân là yếu tố bảo đảm quan trọng để nâng cao chất lượng
thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của VKSND nói
chung, VKSND cấp huyện nói riêng.
- Năng lực đội ngũ cán bộ, công chức của VKSND
Một trong những yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng hoạt động của VKSND nói chung, thực hành quyền công tố, kiểm sát
điều tra các vụ án hình sự của VKSND nói riêng, đó là: Chất lượng đội ngũ cán
bộ, công chức ngành Kiểm sát mà trước hết là trình độ chuyên môn, bản lĩnh
chính trị, phẩm chất đạo đức, năng lực, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ
Kiểm sát viên.
- Cơ sở vật chất, điều kiện làm việc, chế độ đãi ngộ của ngành Kiểm
sát
Cơ sở vật chất của VKSND, điều kiện làm việc và chế độ đãi ngộ đối với
cán bộ ngành kiểm sát có ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng thực hành quyền
bị can; quyết định xử lý vụ án bằng quyết định truy tố bị can ra trước Tòa án
bằng bản cáo trạng, tạm đình chỉ và đình chỉ vụ án.
Để thực hiện các nội dung này, VKSND phải thu thập, phân tích, đánh
giá các tài liệu, chứng cứ… Trên cơ sở đó căn cứ theo các quy định của pháp
luật để ban hành các quyết định của mình đảm bảo chính xác, khách quan, đúng
pháp luật.
Do đó, thực hiện đúng các quy định của Hiến pháp và các quy định của
pháp luật được coi là tiêu chí đầu tiên đánh giá chất lượng công tác thực hành
10
quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của VKSND.
- Đạt được mục đích của hoạt động thực hành quyền công tố, hoạt
động kiểm sát điều tra.
Để đánh giá chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các
vụ án hình sự của VKSND cần căn cứ vào mục đích đạt được của công tác này.
+ Mục đích của thực hành quyền công tố của VKSND nói chung, thực
hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra là nhằm truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với người có hành vi phạm tội và áp dụng đối với họ các chế tài
hình sự cần thiết.
+ Mục đích của kiểm sát điều tra các vụ án hình sự là nhằm đảm bảo
các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố đúng pháp luật, đúng người, đúng tội,
không để xảy ra việc oan, sai hay bỏ lọt tội phạm, đảm bảo cho pháp luật
được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất trong quá trình giải quyết các vụ án
hình sự.
Khi hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự , nếu
VKSND không đạt được 02 mục đích nêu trên, tức là chất lượng công tác còn
hạn chế.
- Sự đóng góp ý kiến trong hoàn thiện pháp luật; Tạo niềm tin và nâng
cao ý thức chấp hành pháp luật của Nhân dân.
của những người tiến hành tố tụng trong khi thi hành nhiệm vụ”.
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã chỉ rõ: “Tăng cường trách nhiệm của
công tố trong hoạt động điều tra”. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
XII của Đảng tiếp tục khẳng định cần “Tăng cường trách nhiệm công tố trong
hoạt động điều tra”, “gắn công tố với hoạt động điều tra”. Kết luận số 79KL/TW ngày 28/07/2010 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp
12
khẳng định: “tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Toà án, Viện kiểm sát
và cơ quan điều tra...”. Các văn bản trên đã thể hiện sự quan tâm, tập trung
lãnh đạo, là quan điểm của Bộ chính trị về công tác cải cách tư pháp, trong đó
có công tác của Viện kiểm sát, nhằm nâng cao chất lượng thực hành quyền
công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp nói chung, chất lượng thực hành quyền
công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự nói riêng của VKSND, góp phần xây
dựng một Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân
và vì Nhân dân.
1.2.2. Cơ sở pháp lý
Hệ thống văn bản luật và văn bản dưới luật như: Hiến pháp năm 2013,
Luật tổ chức VKSND năm 2014, Pháp lệnh Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân
dân năm 2002 và Pháp lệnh Kiểm sát viên sửa đổi có hiệu lực từ ngày
01/07/2011, Bộ luật hình sự (sửa đổi, bổ sung), Bộ luật tố tụng hình sự năm
2003 v.v...vừa là căn cứ pháp lý vừa là yêu cầu để VKSND áp dụng và nâng
cao chất lượng thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự.
- Hiến pháp năm 2013: Các quy định về quyền con người, quyền công
dân, về đảm bảo quyền con người, quyền công dân được quy định trong
Chương 2 Hiến pháp; Quy định tại Điều 107 Hiến pháp năm 2013 về chức
năng của VKSND: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát
hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo
vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
nhân dân nói chung, trên địa bàn huyện nói riêng. Thông qua hoạt động của
mình, VKSND góp phần phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật; nâng
cao ý thức pháp luật trong Nhân dân, từ đó công dân hiểu và tự giác chấp
hành và tuân thủ pháp luật.
Tuy nhiên, xuất phát từ việc chất lượng công tác THQCT, KSĐT các vụ
án hình sự ở VKSND huyện Trực Ninh trong thời gian qua vẫn còn xảy ra
những hạn chế như: Phải trả hồ sơ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng để điều
tra bổ sung, có những vụ xác định có lỗi chủ quan của kiểm sát viên, kéo dài
14
thời hạn tố tụng không cần thiết hoặc có vụ bỏ lọt người phạm tội... những
hạn chế đang đặt ra yêu cầu cần tiếp tục nâng cao chất lượng thực hành quyền
công tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của VKSND huyện Trực Ninhh,
tỉnh Nam Đinh nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN trong giai đoạn hiện nay.
2. Nội dung thực hiện của đề án
2.1. Bối cảnh thực hiện đề án
2.1.1. Yêu cầu đổi mới tổ chức và hoạt động của VKSND để phù hợp với
những điểm mới của Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
năm 2014, những sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và
yêu cầu cải cách tư cách, xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa.
Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 2014 được ban
hành đã đặt ra nhiều yêu cầu mới cho việc đổi mới tổ chức và nâng cao chất
lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND.
Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định nguyên tắc tập trung thống
nhất lãnh đạo trong ngành, đồng thời bổ sung nguyên tắc "khi thực hành
quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Kiểm sát viên tuân theo pháp
luật và chịu sự chỉ đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân”. (Khoản 2
Điều 109). Đây là nguyên tắc Hiến định đối với tổ chức và hoạt động của
lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, góp phần đấu tranh, xử lý tội phạm,
bảo vệ pháp chế trên địa bàn huyện. Đây là một khó khăn, thử thách lớn đối
với các cơ quan tư pháp, với VKSND huyện Trực Ninh.
2.2. Thực trạng chất lượng thực hành quyền công
tố, kiểm sát điều tra các vụ án hình sự của VKSND
huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Đinh
2.2.1. Tình hình và kết quả công tác THQCT, KSĐT của
VKSND huyện Trực Ninh
Trước yêu cầu đặt ra đối với công tác kiểm sát, trong những năm qua,
VKSND huyện Trực Ninh đã từng bước được củng cố, tăng cường và ngày
18
càng hoàn thiện về cơ cấu tổ chức. Viện KSND huyện Trực Ninh gồm có các
bộ phận nghiệp vụ sau: Bộ phận thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra,
kiểm sát xét xử, kiểm sát tạm giữ, tạm giam và kiểm sát thi hành án hình sự;
Bộ phận kiểm sát việc giải quyết các vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, hành
chính, kinh doanh thương mại, lao động và những việc khác theo quy định
của pháp luật; Kiểm sát thi hành án dân sự; Bộ phận văn phòng tổng hợp,
thống kê tội phạm và khiếu tố.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh được giao 14 biên chế (Kiểm
sát viên trung cấp: 01 đồng chí; Kiểm sát viên sơ cấp: 06 đồng chí; Chuyên
viên: 04 đồng chí; Cán bộ, nhân viên: 03 đồng chí); 01 Viện Trưởng và 02
Phó Viện trưởng. Trong 11 đồng chí làm công tác nghiệp vụ, đội ngũ cán bộ,
kiểm sát viên làm công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra, kiểm
sát xét xử các vụ án hình sự, kiểm sát tạm giữ, tạm giam và kiểm sát thi hành
án hình sự có 06 người, có trình độ cử nhân luật, thạc sỹ. Trình độ năng lực
của một số cán bộ, kiểm sát viên còn hạn chế, trong khi yêu cầu của nhiệm vụ
trong tình hình mới ngày một đòi hỏi cao hơn, bên cạnh đó, lực lượng cán bộ
điều tra và điều tra viên có số lượng lớn, được đào tạo và tập huấn chuyên sâu
không khởi tố vụ án 14 tin, xử lý hành chính 3 tin, chuyển nơi khác giải quyết
05 tin.
- Năm 2014: Tổng số 92 tin, khởi tố vụ án hình sự 67 tin; Quyết định
không khởi tố vụ án 16 tin, xử lý hành chính 5 tin, chuyển nơi khác giải quyết
02 tin.
- Năm 2015: Tổng số 76 tin, khởi tố vụ án tin; Quyết định không khởi
tố vụ án 15 tin, xử lý hành chính 1 tin (đang giải quyết 08 tin).
2.2.2.2. Thực hành quyền công tố và kiểm sát khởi tố vụ án hình sư.
Trong 5 năm (từ 2011 đến 2015) VKSND huyện Trực Ninh đã áp
dụng chặt chẽ các quy định của BLTTHS, đã kiểm sát khởi tố 255 vụ án hình
sự; kiểm sát không khởi tố 67 vụ, đảm bảo các quyết định có căn cứ, đúng
pháp luật. Thông qua việc thực hiện tốt chức năng kiểm sát, VKS đã loại trừ
20
ngay từ đầu các vi phạm pháp luật của CQĐT và yêu cầu CQĐT sớm có biện
pháp khắc phục kịp thời, không xảy ra việc khởi tố không có căn cứ sau đó
phải đình chỉ điều tra hoặc không khởi tố vụ án dẫn đến bỏ lọt tội phạm.
2.2.2.3. Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc áp dụng, thay đổi,
huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn
- Kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giữ
Thời điểm từ năm 2011-2015, toàn huyện có 343 người bị bắt, tạm giữ
hình sự. Đã khởi tố chuyển tạm giam 236 người, khởi tố áp dụng biện pháp
ngăn chặn khác 91 người, chuyển nơi khác 06 người, trả tự do10 người. Tỷ lệ
bắt giữ xử lý hình sự trong các năm đạt 100%. (Phụ lục - Biểu số 01).
- Kiểm sát việc áp dụng biện pháp tạm giam
Từ năm 2011-2015, có 345 người bị tạm giam (trong đó: tạm giữ
chuyển tạm giam 236 người, bắt tạm giam 101 người, nơi khác chuyển đến 08
người). Đã giải quyết 304 người, gồm: Xét xử sơ thẩm 218 người; áp dụng
biện pháp ngăn chặn khác người; đình chỉ điều tra “do b/c chết hoặc chuyển”