A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài
1. Văn học dân gian là một bộ phận không thể tách rời của văn hóa dân gian.
Một thành phần không nhỏ trong nội hàm khái niệm Folklore, văn học dân gian gắn bó
mật thiết với những sinh hoạt văn hóa xã hội của nhân dân. Mối quan hệ giữa văn học
dân gian trong đó có thể loại truyền thuyết với những sinh hoạt tín ngưỡng dân gian là
mối quan hệ có tính chất bổ trợ, tương tác lẫn nhau. Truyền thuyết tạo cho những hoạt
động sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng thêm phong phú, thiêng liêng, cao cả, ngược lại
chính những hoạt động văn hóa này nhằm minh chứng, khẳng định cho sự tồn tại của
thể loại truyền thuyết.
Trong đời sống của người Việt Nam có hai nhân vật được nhân dân coi trọng
nhất là cha và mẹ. Đó là bởi vì hai vị đã ban cho họ đời sống, nuôi nấng họ, dạy dỗ họ,
nâng đỡ họ trong những bước thăng trầm của cuộc đời. Dù họ có lớn đến bao nhiêu
tuổi, và chính họ cũng có con đàn cháu đống, có quyền cao chức trọng thế nào đi nữa,
hai vị vẫn lo lắng đủ điều cho đến khi hai tay buông xuôi vĩnh biệt trần thế. Vì thế đời
sống tâm linh của người Việt quay quanh hai nguyên lý chính trong vũ trụ là nguyên lý
cha và nguyên lý mẹ, nguyên lý càn và nguyên lý khôn, nguyên lý trời và nguyên lý
đất. Người Việt Nam đã chọn đại diện cho nguyên lý cha là Đức Thánh Trần và
nguyên lý mẹ là Liễu Hạnh Thánh Mẫu. Một người là vị anh hùng hiển hách đã làm
nên kỳ tích trong lịch sử ngót năm ngàn năm của dân tộc Việt ba lần đánh tan tan quân
Nguyên - Mông xâm lược. Còn một người là nàng tiên giáng trần "làm môi giới cho
những lý tưởng và nguyện vọng thiên thai của người phụ nữ bình dân Việt Nam” (GS.
Nguyễn Đăng Thục).
Tín ngưỡng dân gian là một lĩnh vực rộng lớn, vô cùng phong phú, đa dạng.
Trong đó, tín ngưỡng thờ Mẫu và tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần là hai loại tín
ngưỡng đang có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn hóa xã hội Việt Nam. Đã từ
lâu trong dân gian lưu truyền câu ca “Tháng tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ” như một
lời nhắc nhớ tới tất cả những người con Việt hướng về nguồn cội, về những vị Thánh
được tôn thờ với niềm ngưỡng vọng đối với Cha, với Mẹ. Hai nhân vật này đều có sức
ảnh hưởng mạnh mẽ trong tâm thức dân gian, “sống trong lòng dân tộc, giữa dòng
đời, trên cửa miệng của nhân dân”(*) qua hệ thống những truyện kể, truyền thuyết về
thuyết và tín ngưỡng dân gian. Quá trình thực hiện đề tài là quá trình chúng tôi không
ngừng học tập, tìm tòi, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phục vụ trực tiếp cho
công việc giảng dạy bộ môn Văn học dân gian trong nhà trường.
Từ những lý do trên, chúng tôi đã chọn đề tài: “Truyền thuyết về Thánh Mẫu
Liễu Hạnh trong tương quan với truyền thuyết về Đức Thánh Cha Trần Hưng Đạo ở
vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc”
II. Lịch sử vấn đề
Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến những vấn đề về Mẫu Liễu Hạnh
và Đức Thánh Trần, nhưng hầu hết các công trình nghiên cứu này đều tiếp cận Mẫu
Liễu Hạnh và Đức Thánh Trần dưới góc độ văn hóa tâm linh người Việt, khai thác
2
Mẫu Liễu Hạnh, Đức Thánh Trần trong sự soi chiếu với tín ngưỡng thờ Mẫu, tín
ngưỡng thờ Thành hoàng ở Việt Nam.
1. Lịch sử nghiên cứu về Mẫu Liễu
Khi nghiên cứu về Đạo Mẫu, Đạo Tam Phủ, Tứ Phủ các học giả đều thừa nhận
Thánh Mẫu Liễu Hạnh có ảnh hưởng nhiều đến đời sống tâm linh văn hóa người Việt.
Có nhiều bài viết, những công trình có giá trị của các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian
từ nửa cuối thế kỷ XVIII đến những năm đầu của thế kỷ XXI, tiêu biểu là những bài
viết của các học giả: Nguyễn Văn Huyên, Vũ Ngọc Khánh, Ngô Đức Thịnh, Đinh Gia
Khánh, Đặng Văn Lung, Phan Đăng Nhật, Lã Duy Lan, Trần Thị An, Lê Sỹ Giáo,
Phạm Quỳnh Phương, Nguyễn Minh San… tiếp đó là các công trình của Phạm Kế, Hồ
Đức Thọ, Đặng Anh, Nguyễn Quốc Tuấn, Đặng Việt Bích, Phạm Minh Thảo, Lê Xuân
Quang, Ngô Thị Quý, Trương Thìn…
Ngay từ những năm cuối thế kỷ XVIII, với tác phẩm Vân Cát thần nữ, tác giả
Đoàn Thị Điểm đã ghi dấu một công trình nghiên cứu đầu tiên về Mẫu Liễu Hạnh. Tác
phẩm là truyện viết đầu tiên và đầy đủ nhất về Mẫu Liễu, nhân vật được miêu tả một
cách trân trọng với nhiều phẩm chất đẹp đẽ, đậm màu sắc huyền thoại thiêng liêng.
sau: vấn đề thời đại sản sinh ra hình tượng Mẫu Liễu; vấn đề môtip cấu thành hình ảnh
Địa Tiên Thánh Mẫu; điểm giống và khác nhau giữa văn bản bác học và văn bản bình
dân; sự vận động của truyền thuyết Mẫu Liễu qua những truyện kể về Liễu Hạnh và
truyền thuyết về nữ thần Chăm, hình tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong đối sánh với
Mẫu Quan Âm. Nhà nghiên cứu văn hoá Vũ Ngọc Khánh đã có một bài đóng góp giá
trị: Tìm hiểu chúa Liễu qua nguồn thư tịch. Tác giả đã liệt kê các loại sách Hán Nôm
gồm 17 cuốn, sách chữ Quốc ngữ và chữ Pháp có 8 cuốn. Ông đã phân tích các tài liệu
để tìm ra sự tích Mẫu. Qua tham luận, ông đã xác thực về nguồn gốc và ảnh hưởng
hình tượng Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong đời sống tinh thần, tâm linh người Việt: “Vân
Cát Lê gia ngọc phả vẫn là tài liệu trước nhất ghi chép về Liễu Hạnh”. Ông khẳng
định: “Liễu Hạnh chắc chắn là một con người có thực. Cho nàng gia nhập vào thế
giới huyền thoại, tôn vinh thành một nữ thần, một Thánh Mẫu là những câu chuyện về
sau, trên cơ sở con người có thực” [58,35].
Cùng năm 1992, khi nghiên cứu tục thờ Mẫu và ý nghĩa của nó với đời sống
cộng đồng mỗi nhà nghiên cứu lại có cái nhìn và lối kiến giải riêng. Đinh Gia Khánh
nghiên cứu tục thờ Mẫu, một tín ngưỡng gắn với nhiều truyền thống văn hóa dân gian.
Tác giả khẳng định: “Tục thờ Mẫu đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân dân… gắn với
một số truyền thống tích cực của văn hóa dân tộc” [58,13] “Mẫu Liễu Hạnh đó xuất hiện
trong đạo Tam Phủ như là một sự bổ sung tất yếu cho đạo Tam Phủ để đáp ứng lại
tình cảm này của nhân dân. Mẫu Liễu Hạnh tục gọi là chúa Liễu gắn với yêu cầu của
muôn mặt đời thường và do đó gần gụi, thân thiết với quần chúng nhân dân. Khác với
Mẫu Cửu Thiên, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Thoải, tức là những vị Mẫu ở nơi nào đó
xa xôi, chúa Liễu là một nữ thần xuất thân từ xã hội loài người…”[58,11].
Năm 1992 Nguyễn Thị Huế soi chiếu từ Phật Mẫu Man Nương đến Thánh Mẫu
Liễu Hạnh và khẳng định có ba nơi bà hiển linh và được gọi bằng những danh hiệu
gắn với những địa điểm ấy: Mẫu Sòng, Mẫu Phủ Dầy, Mẫu Tây Hồ. Hoàng Văn Trụ
xem xét Mẫu Liễu và Quan Âm Thị Kính qua cảm quan sáng tạo dân gian; Lê Sỹ Giáo
4
[6, 643]
. Từ đó, tác
giả Lại Nguyên Ân cũng nói về mối quan hệ ảnh hưởng giữa truyền thuyết với thể loại
truyền kỳ: “Rất nhiều truyền thuyết Việt Nam đã được biên chép trong văn bia, thần
phả, nhân vật chí, địa phương chí… như một loại trước tác sử học và văn học, kết quả
là tạo ra một thể loại văn học lịch sử trong văn học thành văn thời trung đại: đó là thể
truyền kỳ” [6, 643]
Như vậy, ở đây các tác giả không chỉ nói về một hay nhiều thể loại văn học dân
gian nói chung mà còn tìm ra mối liên hệ ảnh hưởng, tiếp thu kế thừa văn bản hóa văn
học dân gian của những sáng tác văn học viết sau này.
5
Năm 1999, Đặng Văn Lung viết cuốn Tam toà Thánh Mẫu, đã khẳng định:
“Mẫu Liễu đã ấn định vận mệnh văn hóa dân tộc và cả vận mệnh tôn giáo nước ta từ
cách đây gần 500 năm và còn mãi sau này nên là bất tử… Mẫu Liễu biến hóa linh dị
và trở thành một phương tiện nghệ thuật - tư tưởng cơ bản để thể hiện cái cảm quan
mãnh liệt của nhân dân ta về lịch sử và sự sang trang lịch sử. Cái cảm quan đã đánh
thức với một sức mạnh vô song: cởi bỏ văn hóa nô dịch, làm ra lịch sử văn hóa của
mình, cho mình” [38,10].
Năm 2000, Hồ Đức Thọ khẳng định: “Riêng tục thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh là
nét độc đáo mang bản sắc của cư dân vùng lúa nước, vùng châu thổ sông Hồng và các
tỉnh trong cả nước có liên quan”
[77,5]
Năm 2004 Tác giả Đặng Anh cung cấp thêm một tư liệu tìm thấy ở đền Sòng
(Thanh Hóa). Đó là cuốn sách bằng đồng gồm 5 tờ ghi những chi tiết Lê Tư Vĩnh gửi
hậu cho con gái là Giáng Tiên vào năm 1939, khi tổng đốc Thanh Hóa cho trùng tu lại
ngôi đền. Tác giả còn minh chứng bằng chính những bức ảnh chụp lại ở đền Sòng: bức
1, ảnh đền Sòng năm 1939, bức 2, cuốn sách bằng đồng và cái tráp [1,40] bức 3, cuốn
sách “có tờ bằng đồng”; bức 4, nơi phát hiện ra cuốn sách “có tờ bằng đồng” ở đoạn
giữa cây bên trái và bình phong gần đó [2,41] bức 5, 6 là cảnh lễ hội đền Sòng đang diễn
ra từ ngày 10 đến 26 - 2 âm lịch[2, 42].
Năm 2005 Vũ Ngọc Khánh trong phần truyện dân gian về Liễu Hạnh cũng
nói:“ Câu chuyện Liễu Hạnh không phải chỉ có như thế. Nội dung được biến hóa khá
nhiều” [32,132]. Sang mục Sòng Sơn đại chiến, ông tiếp: “Truyện Liễu Hạnh theo lời kể
trong truyền kỳ tân phả là truyện dân gian được nhà nho sắp đặt lại. Những người
theo Đạo gia thấy Liễu Hạnh được nhân dân kính mộ cũng tìm cách khai thác để đề
cao đạo phái của mình. Do đó mà từ khoảng giữa thế kỷ XVIII, truyện Liễu Hạnh
được chắp nối thêm”
[32,132]
. Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian này biên soạn cuốn Nữ
thần và Thánh Mẫu, ông đã đảo ngược vấn đề: “Liễu Hạnh xuất hiện từ thời Lê, cũng
không phải là nhân vật lịch sử nên không chép đến bà”[32, 129].
Năm 2007 Phạm Minh Thảo khi biên soạn cuốn Thánh Mẫu Việt Nam đã khái
quát lại: “Mẫu Liễu Hạnh là một trong bốn vị thánh bất tử ở Việt Nam. Bà là biểu
tượng cho sức sống giải phóng tự do, lòng nhân đạo, là chỗ dựa cho tầng lớp bình
dân…Bà trừ họa mang phúc đến cho con người” [71,69].
Cùng năm 2007, khi nghiên cứu về tín ngưỡng và phong tục Việt Nam Trương
Thìn đã đưa ra một kết luận về vị trí của Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong tín ngưỡng Tứ
bất tử của Việt Nam: “Dân ta chọn Liễu Hạnh để làm Mẫu trong Tứ phủ và cũng là
trong Tứ bất tử, là sự lựa chọn thông minh và thể tất nhân tình. Trong huyền thoại Việt
hình thái diễn xướng như âm nhạc, hát chầu văn, hát bóng và lên đồng. Khi nghiên
cứu về tín ngưỡng thờ Mẫu, không thể không chú ý đến hiện tượng lên đồng, mà về
bản chất đây là hiện tượng mượn thân xác của ông đồng bà đồng để thần linh đạo
Mẫu nhập vào nhằm xin tài lộc, sức khỏe, còn về nghệ thuật, hầu đồng là nghệ thuật
diễn xướng tổng hợp của âm nhạc, lời ca, điệu múa… trên một sân khấu tâm linh”(30).
Tục thờ Mẫu đã trải qua trường kỳ lịch sử, đáp ứng nhu cầu tâm linh của nhân
dân. Nó là một hiện tượng đầy sức sống, là truyền thống tích cực của văn hóa dân tộc.
Phải chăng sức sống ấy, cái làm nên truyền thống ấy, là do bởi chính nó đã mang
những đặc trưng riêng. Vậy nên các nhà nghiên cứu đã thống nhất rằng: tín ngưỡng
thờ Mẫu là một hiện tượng văn hóa dân gian tổng thể, mà gắn bó với tín ngưỡng thờ
Mẫu là hệ thống các huyền thoại, thần tích, các bài văn chầu, các truyện thơ Nôm, các
bài giáng bút…
Trong sáng tác dân gian, Đức Mẫu Liễu Hạnh xuất hiện trong hầu khắp các thể
loại: truyền thuyết, truyện cổ tích, ca dao, tục ngữ, câu đối, văn bia, văn chầu… Tuy
nhiên, hình tượng Mẫu Liễu được nghiên cứu trong văn học dân gian không nhiều. Phải
8
đến những năm đầu thế kỷ XX, việc nghiên cứu mới xuất hiện nhiều và có tính hệ thống.
Thể loại được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất là truyền thuyết, truyện cổ tích.
2. Lịch sử nghiên cứu về Đức Thánh Trần
Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn - người anh hùng cứu nước, vị tướng tài
trong lịch sử dân tộc và là người cha được nhân dân bao đời ngưỡng mộ, đã có rất
nhiều công trình nghiên cứu, rất nhiều bài viết về vị danh nhân này.
Trước hết nguồn tư liệu Hán Nôm về Đức Thánh Trần khá dồi dào, bao gồm một
số bài tán, kinh kệ và các bài văn giáng bút nói về Ngài hoặc thác danh Ngài. Chẳng hạn
Lễ Trần triều hiển thánh khoa tập hợp các bản văn cúng Đức Thánh Trần và các tướng
lĩnh cùng vợ con. Liệt Thánh bản cáo (in năm Duy Tân 2/1918) gồm các văn giáng bút
của Đức Thánh Trần, Phạm Ngũ Lão… khuyên làm điều thiện, tránh ác. Hoàng Trần
một hàng với Quách Tử Nghi. Ông không những là anh hùng của một thời đại mà cho
đến các bậc tướng thần cổ kim cũng ít ai bì kịp”(12).
Với những chi tiết đặc biệt trong lịch sử, Trần Hưng Đạo đã bước vào đời sống
dân gian, từ đó cuộc đời ông có thêm những chi tiết mới đậm màu sắc huyền thoại.
Nếu trong lịch sử ông là vị tướng tài thì trong tâm thức dân gian ông được hình dung
như một vị Thánh. Các nhà nghiên cứu văn hoá lại xem xét hiện tượng Đức Thánh
Trần dưới sự soi chiếu của dòng tín ngưỡng tôn giáo bản địa.
Năm 1930, Nguyễn Văn Khoan khi nghiên cứu về sự phụng thờ Thành hoàng
của các làng ở Bắc Kỳ đã nhận xét rằng: “Ba việc thờ phụng chính của dân gian chia
theo nguyện vọng của quần chúng: thờ phụng các chư vị, thờ các tướng của Trần
Hưng Đạo và thờ phụng các linh hồn ở dưới cõi âm, quỷ sứ. Những người chuyên thờ
các chư vị là các bà Đồng, những người chuyên thờ các ông tướng của Trần Hưng
Đạo là các ông Đồng hoặc các thầy pháp, những người chuyên thờ các linh hồn âm
phủ là các thầy bùa hoặc các thầy phù thuỷ”. Như vậy ngay từ những năm đầu thế kỷ
XX sự phụng thờ Đức Thánh Trần đã được khẳng định.
Năm 1994, hội văn học nghệ thuật tỉnh Hải Hưng (nay thuộc Hải Dương) đã tổ
chức hội thảo khoa học về Đức Thánh Trần với địa danh Kiếp Bạc và khẳng định:
mảnh đất Vạn Kiếp là nơi hội tụ khí thiêng sông núi, và thực sự gắn bó với cuộc đời
Trần Hưng Đạo khi là nhà quân sự tài ba, cũng như khi đã hoá Thánh.
Năm 1998, thư viện tỉnh Hải Dương cho xuất bản cuốn Sự tích Trần Hưng Đạo.
Cuốn sách là sự tập hợp những câu chuyện dân gian có liên quan đến những di tích
lịch sử của vùng đất Hải Dương. Trong đó có sự giải thích nguồn gốc các địa danh như
núi Dược Sơn, Giếng ngọc, đường kéo thuyền trên dãy núi Phượng Hoàng…
Năm 1999 Giáo sư Vũ Ngọc Khánh viết Đạo Thánh Việt Nam, tác giả khẳng
định: “Đức Thánh Trần đảm bảo được tất cả những yêu cầu của quy luật lịch sử tín
ngưỡng, lịch sử tôn giáo để trở thành một dòng đạo: phải có được vị giáo chủ siêu
trần, được tôn vinh trong huyền sử, có sự sinh hoá diệu kỳ, có nhiều yếu tố kỳ vĩ; có
giáo lý, có học thuyết cụ thể; có quy phạm để ràng buộc những đệ tử”. Ông còn khẳng
10
- Hưng Đạo Vương trong tâm thức dân tộc Việt” ông viết: “Trần Hưng Đạo là một đại
anh hùng, một người cha thân thương hiếm có và ông là linh hồn của Đại Việt, là Đức
Thánh Trần của trời Nam. Dân gian muốn sự bất tử của ông sẽ còn hiển linh giúp dân
trong đời sống tâm linh. Mờ mờ ảo ảo hoặc bán tín bán nghi nhưng vẫn hy vọng tìm
11
thấy một sự thần hiệu, một việc ban ân nào đó của Đại Vương nên hàng năm không cứ
nhân dân Tức Mặc, Bảo Lộc, nhân dân Trần Thương, Long Hưng, Vạn Kiếp, Chí
Linh… mà đồng bào cả nước kể cả từ thành phố Hồ Chí Minh xa xôi, Vũng Tàu hoặc
kiều bào ở nước ngoài của đến dịp 20/8 là nhớ đến giỗ cha, cũng như tháng ba là nhớ
đến giỗ mẹ (mẫu Liễu)”(79). Như vậy chúng ta thấy sự tôn kính Hưng Đạo Đại Vương
chính là giữ gìn bản chất “chân, thiện, mỹ” của dân tộc, được giáo truyền từ đời ông
cha cho đến các thế hệ con cháu sau này. Đó cũng chính là nét đẹp trong bản sắc văn
hoá Việt Nam ta.
Năm 2012, với công trình nghiên cứu Đức Thánh Trần với Thiên Trường và
cộng đồng dân tộc Việt, nhà nghiên cứu Hồ Đức Thọ lại thêm một lần khẳng định:
“Đức Thánh Trần được cộng đồng dân tộc Việt kính cẩn nghiêng mình, con dân đất
Thiên Trường lại càng thấm thía ngưỡng vọng, và gửi gắm niềm tin, hoài bão được
Ngài xét tới và ban phúc huệ cho dân, đoái tưởng đến lớp người bần cùng, hoạn nạn
để giải tai ương, vận hạn cho cuộc đời bớt đi cảnh gieo neo. Và đâu chỉ có cộng đồng
Thiên Trường cùng dân tộc Việt kính trọng Đức Thánh Trần, kẻ thù xâm lược hung
hãn nhất thế giới ở thế kỷ XIII cũng phải nể sợ, tâm phục, khẩu phục bởi tài làm
tướng, cách dùng binh mà không dám gọi tên huý của Ngài, chỉ nhắc tới tước hiệu An
Nam Hưng Đạo Vương”(81).
Năm 2012 khi Ngô Đức Thịnh chủ biên công trình nghiên cứu Tín ngưỡng và
văn hoá tín ngưỡng ở Việt Nam, ông đã đặc biệt quan tâm tới tín ngưỡng Đức Thánh
Trần một trong những tín ngưỡng tiêu biểu và đặc sắc của dòng văn hoá dân gian Việt
Nam. Ông kết luận: “Tín ngưỡng Đức Thánh Trần có bản chất là tín ngưỡng thờ Phúc
chưa thể nói hết những giá trị mà văn học dân gian mang lại trong việc bảo lưu hình
tượng một anh hùng, một vị Thánh trong lòng nhân dân.
3. Lịch sử nghiên cứu cặp nhân vật “Mẫu Liễu - Đức Thánh Trần”
Trong lịch sử nghiên cứu văn hoá dân gian, cặp nhân vật Mẫu Liễu - Đức
Thánh Trần được nhắc tới không nhiều. Từ đầu thế kỷ XX mọi sự nghiên cứu còn khá
độc lập, người ta đi tìm các giá trị văn hoá trong một hiện tượng cụ thể. Bởi vậy, như
chúng ta thấy có rất nhiều công trình, bài viết về Thánh Mẫu và Đức Thánh Trần
nhưng tất cả đều ở dạng độc lập, như trên đã nêu. Phải đến những năm cuối thế kỷ XX
và đầu thế thế kỷ XXI, khi các nhà khoa học Việt Nam bắt đầu quan tâm nhiều tới
phương pháp so sánh, khi đó mới có một số công trình song song đề cập tới hai hiện
tượng văn hoá một là nữ thần, một là nam thần; một nhiên thần, một nhân thần: Mẫu
Liễu và Đức Thánh Trần.
Năm 2010, Giáo sư Ngô Đức Thịnh soạn thảo cuốn Đạo Mẫu Việt Nam, một
công trình khá bề thế và dày dặn về văn hoá dân gian Đạo Mẫu, ông có đề cập đến
Thánh Mẫu và Đức Thánh Trần trong hệ thống tín ngưỡng tam tứ phủ: “Trong điện
thần Tứ phủ, Mẫu Liễu là vị Thánh xuất hiện khá muộn, khoảng thế kỷ XV - XVI thời
13
Hậu Lê, nhưng nhanh chóng trở thành vị thần chủ của Đạo Mẫu Tam phủ, Tứ phủ.
Thánh Mẫu Liễu vừa là thiên thần (Tiên) vừa là nhân thần với đời sống trần gian, có
cha mẹ, chồng con, chu du khắp nơi trừ ác, ban lộc, khiến người đời vừa sợ, vừa
trọng. Có lẽ với Mẫu Liễu và với cả Đức Thánh Trần nữa, họ đã trở thành biểu tượng
của sự kết hợp giữa thần linh và đời thường, giữa nhu cầu tâm linh hướng về cái cao
cả, chân thiện mỹ, với việc chữa bệnh trừ ma tà, cứu giúp con người trong những khó
khăn đời thường, cũng như cầu tài lộc”(76).
Năm 2012 nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Khánh viết Tục thờ Thánh - Mẫu ở Việt
Nam, công trình là sự khái quát về những sinh hoạt văn hoá dân gian xung quanh tín
ngưỡng thờ Đức Thánh Trần và tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu, ông khẳng định: “Tục thờ
được. So sánh với truyền thuyết về Đức Thánh Cha Trần Hưng Đạo với mục đích mở
rộng phạm vi nghiên cứu, để có cái nhìn và cách đánh giá tổng quan hơn khi tìm hiểu
truyền thuyết về Thánh Mẫu.
2. Đối tượng nghiên cứu
Truyền thuyết về Thánh Mẫu Liễu Hạnh và Truyền thuyết về Đức Thánh Cha
Trần Hưng Đạo trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam.
3. Phạm vi nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành khảo sát trên một số tư liệu chính:
- Vân Cát thần nữ - Vũ Ngọc Khánh, Phạm Văn Ty, NXB dân tộc, 1990.
- Kể chuyện Thánh Mẫu Liễu Hạnh, Phạm Trường Khang, NXB Hồng Đức, 2012.
- Mẫu Liễu sử thi - Hồ Đức Thọ, NXB Dân tộc, Hà Nội, 2000.
- Huyền tích Thánh Mẫu Liễu Hạnh và di sản văn hóa lễ hội Phủ Dầy, NXB Văn
hóa thông tin, 2010.
- Tổng tập văn học dân gian người Việt, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1999.
- Sự tích Đức Thánh Trần, Ban quản lý di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc
- Sự tích Trần Hưng Đạo - Mai Hồng (dịch), Thư viện tỉnh Hải Dương, 1998.
- Thiên Bản lục kỳ - Huyền thoại đât Sơn Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010.
Phạm vi nghiên cứu: nghiên cứu mối tương quan giữa hai hệ thống truyền
thuyết về Mẫu Liễu và truyền thuyết về Đức Thánh Trần trên những phương diện cốt
truyện, nhân vật; chủ đề và môtip; tín ngưỡng dân gian.
IV. Đóng góp mới của đề tài
Luận văn là một bước tổng hợp mới có tính chất khảo sát, sưu tầm, đánh giá
một cách có hệ thống các truyền thuyết về Thánh Mẫu Liễu Hạnh đang được lưu
truyền trên một phạm vi tương đối rộng (các tỉnh ven biển đồng bằng Bắc Bộ).
Nghiên cứu truyền thuyết về Thánh Mẫu Liễu Hạnh được đặt dưới hệ đối chiếu
so sánh với truyền thuyết về Đức Thánh Cha Trần Hưng Đạo dưới góc nhìn văn học
dân tộc. Ở đây chủ thể so sánh là Mẫu Liễu một nhiên thần do dân gian hư cấu gắn
liền với những sinh hoạt văn hoá đời thường và có sức ảnh hưởng sâu rộng trong lòng
nhân dân. Đối tượng được so sánh là một nhân vật lịch sử có thật, hiển thánh nhờ
những chiến công rực rỡ và lòng ghi ơn của dân tộc. Từ những kiến giải ban đầu của
học, chúng tôi đã vận dụng những hiểu biết về văn hóa dân gian để phân tích, giải mã
một số hiện tượng văn học có nguồn gốc từ trong sinh hoạt tín ngưỡng dân gian.
VI. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình
bày theo 3 chương:
Chương I: Hệ thống truyền thuyết về Mẫu Liễu trong tương quan với truyền
thuyết về Đức Thánh Trần ở phương diện cốt truyện, nhân vật.
Chương II: Truyền thuyết về Mẫu Liễu Hạnh trong tương quan với truyền
thuyết về Đức Thánh Trần ở phương diện chủ đề và môtip.
Chương III: Tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh trong tương quan với tín
ngưỡng thờ Đức Thánh Trần.
16
17
B. PHẦN NỘI DUNG
Chương I: HỆ THỐNG TRUYỀN THUYẾT VỀ MẪU LIỄU HẠNH TRONG
TƯƠNG QUAN VỚI TRUYỀN THUYẾT VỀ ĐỨC THÁNH TRẦN Ở
PHƯƠNG DIỆN CỐT TRUYỆN, NHÂN VẬT
I. Một số nhận xét chung
1. Về số lượng truyền thuyết
“Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những
sự kiện, nhân vật lịch sử, danh nhân văn hoá hay nhân vật tôn giáo thông qua sự hư
cấu nghệ thuật thần kì” (57), nhà nghiên cứu Lê Chí Quế đã định nghĩa như vậy. Truyền
thuyết nảy nở trong lòng dân tộc, phát triển trên cửa miệng của người đời, được truyền
lưu từ người này sang người khác, từ nơi này sang nơi khác… cứ như vậy số lượng
các truyền thuyết sẽ tăng lên theo cấp số nhân, thông qua hệ thống các dị bản. Truyền
thuyết về Thánh Mẫu Liễu Hạnh và truyền thuyết về Đức Thánh Cha Trần Hưng Đạo
- Thiên Bản lục kỳ - Huyền thoại đất Sơn Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2010.
Chúng tôi tập hợp được 34 truyền thuyết về Mẫu Liễu và 30 truyền thuyết về
Đức Thánh Trần.
Cụ thể như sau:
Bảng 1: Bảng thống kê số lượng truyền thuyết về Thánh Mẫu Liễu Hạnh
STT Tên truyền thuyết
1
Sự tích công chúa Liễu Hạnh
2
Nguồn tư liệu
Truyện cổ tích Việt Nam, Nguyễn
Đổng Chi (chủ biên)
Trong sách Truyền kỳ tân phả -
Vân Cát thần nữ truyện
Đoàn Thị Điểm
3
4
5
6
7
Nữ thần Liễu Hạnh
Nữ thần Liễu Hạnh giáng trần
Giáng trần lần thứ hai
Nữ thần Liễu Hạnh trở về trời
Chúa Liễu được Thích Ca giải cứu
Đức Tiên chúa và hai vị Tiên nương hiển
18
thánh
Đức Tiên chúa hiển ứng, vua Lê Thần Tôn
19
sắc phong Thượng đẳng thần
Huyền tích Thánh Mẫu Liễu Hạnh
“Quảng cung linh từ phả ký”,
“Quảng cung linh từ bi ký”, “Cát
thiên tam thế thực lục” - được lưu
giữ ở Ban quản lý di tích - danh
19
thắng tỉnh Nam Định
20
21
22
23
24
25
26
27
28
Đoạn - Hải Phòng
Ban quản lý di tích phủ Tây Hồ -
Hà Nội
Tổng số = 34 truyền thuyết
Bảng 2: Bảng thống kê số lượng truyền thuyết về Đức Thánh Cha Trần Hưng Đạo
STT
1
Tên truyền thuyết
Hưng Đạo Đại Vương
Nguồn tư liệu
Tổng tập văn học dân gian
2
Thanh Tiên đồng tử giáng trần
người Việt
Theo “Cung lục linh tích
3
4
5
6
7
8
9
Vì đại nghĩa không nghe lời bố
Vì đại nghĩa tuyệt đối nghiêm khắc với con trai
Vì đại nghĩa vun trồng niềm tin đoàn kết
20
Danh nhân lịch sử Việt
17
18
19
20
Vì đại nghĩa giao lưu hoà hiếu
Nam (sđd).
Trần Hưng Đạo gặp sứ nhà Nguyên: Sài Thung
Trần Quốc Tuấn giành được người yêu
Nhân dân Thuỷ Nguyên - Hải Phòng với chiến Bài viết “Di tích và tư liệu
thắng Bạch Đằng 1288
lịch sử về Trần Hưng Đạo
trên đất Hải Phòng” của ông
Ngô Đăng Lợi - chủ tịch hội
21
KHLS Hải Phòng.
Sự tích tên gọi Lưu Kỳ, Lưu Kiếm (Thuỷ Từ điển bách khoa địa danh
Nguyên - Hải Phòng)
Xá - Hải Phòng
Ban quản lý di tích đền Trần
Giấc mộng phi thường
Đế khuyết giáng trần
Nam Định, tài liệu do bà
Truyền thuyết về ngôi mộ Hưng Đạo Vương ở
Trịnh Thị Nga cung cấp.
đền Bảo Lộc - Nam Định
Chuyện cây quạt vàng
Cung lục linh tích hành trạng
Tổng số = 30 truyền thuyết
Trên đây là bảng thống kê số lượng truyền thuyết về Thánh Mẫu Liễu Hạnh và
truyền thuyết về Thánh Cha Trần Hưng Đạo mà chúng tôi sưu tập, tìm kiếm được. Đó
mới chỉ là những số lượng thống kê bước đầu, bởi lẽ, kho tàng văn học dân gian là vô
tận, những sáng tác trong dân gian vẫn đang trong quá trình được tập hợp lại. Tuy
nhiên, những thống kê này đã giúp chúng tôi có nguồn tư liệu khá dày dặn để có một
cái nhìn tương đối đầy đủ về hai nhân vật được tôn lên hàng Thánh Cha - Thánh Mẹ
trong lòng nhân dân. Hai bảng thống kê số lượng truyền thuyết trên đã giúp chúng tôi
21
trong việc so sánh truyền thuyết về Mẫu Liễu với truyền thuyết về Đức Thánh Trần
theo nhiệm vụ của luận văn đề ra.
2. Về mật độ của truyền thuyết ở các địa phương
Vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc chứa đựng toàn bộ bề dày
lịch sử, văn hoá Việt Nam. Những di tích khảo cổ học minh chứng cho nền văn hóa
Đông Sơn, Hòa Bình nổi tiếng từ hồi tiền sử có giá trị: khoa học, giáo dục truyền
Hồng cũng có hai mùa rõ rệt: mùa cạn dòng chảy nhỏ, nước trong và mùa lũ dòng
chảy lớn, nước đục. Ngoài khơi, thủy triều Vịnh Bắc Bộ theo chế độ nhật triều, mỗi
ngày có một lần nước lên và một lần nước xuống. Chính yếu tố nước, tạo ra sắc thái
riêng biệt trong tập quán canh tác, cư trú, tâm lý ứng xử cũng như sinh hoạt cộng đồng
của dân cư trong khu vực, tạo nên nền văn minh lúa nước, vừa có cái chung và vừa có
cái riêng độc đáo của mình.
Qua quá trình điền dã thực tế, chúng tôi nhận thấy rằng sự xuất hiện của thuyền
thuyết về Thánh Mẫu Liễu Hạnh và truyền thuyết về Thánh Cha Trần Hưng Đạo có sự
khác nhau giữa các địa phương. Mỗi truyền thuyết khi được lưu truyền từ địa phương
này sang địa phương khác sẽ có những thay đổi cho phù hợp với phong tục tập quán,
nếp sống, nếp sinh hoạt của cộng đồng dân cư đó. Có những truyền thuyết chỉ là đặc
sản riêng của một địa phương, gắn với việc lý giải tên gọi một địa danh cụ thể hay một
phong tục đã trở thành truyền thống. Từ những số lượng thống kê ban đầu, chúng tôi
nhận thấy mật độ xuất hiện các truyền thuyết tại các địa phương là khác nhau. Cụ thể,
chúng ta có bảng phân bố số lượng và tỉ lệ truyền thuyết theo các địa phương ở vùng
đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc như sau:
Bảng 3: Bảng thống kê số lượng, tỉ lệ truyền thuyết về Thánh Mẫu Liễu Hạnh
phân bố theo các địa phương ở vùng đồng bằng sông Hồng và duyên hải Đông Bắc.
STT
1
Tên địa phương
Hà Nội
2
Hải Phòng
-
12
35%
- Giáng Tiên về trời
- Gặp Trạng Bùng ở xứ Lạng
- Lấy chồng ở làng Sóc - Nghệ An
- Tiên chúa giáng trần ở Phố Cát
- Chúa Liễu và thầy Pháp Cống
- Chúa Liễu được Phật tổ Thế Tông giải cứu
4
Thanh Hoá
-
Sòng Sơn đại chiến
Vân Hương Thánh Mẫu
Thánh Mẫu phụng mệnh giáng sinh
Thánh Mẫu bị trích xuống trần
Thánh Mẫu tình nguyện xuống trần
Thông tính khi giáng khi thăng lần thứ nhì
Đức Tiên chúa hiện thân
Đức Tiên chúa về thăm nhà lần thứ hai
Đức Tiên chúa thọ giới phật tự
Thông tính khi giáng khi thăng lần thứ ba
Đức Tiên chúa hiển ứng, vua Lê Thần
- Nhân dân Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
với chiến thắng Bạch Đằng 1288
- Sự tích tên gọi Lưu Kỳ, Lưu Kiếm
Tỉ lệ (%)
06
20%
09
30%
(Thuỷ Nguyên - Hải Phòng)
- Tấm lòng tin theo của nhân dân với
Hưng Đạo Đại Vương
- Trần Quốc Tuấn và ngôi chùa Đỏ
- Chùa Vẽ và ký ức về trận chiến trên
2
Hải Dương
sông Bạch Đằng
- Trần Hưng Đạo với đền Phú Xá
- Hưng Đạo Vương chọn đất
- Giếng mắt rồng
24
03%
03
10%
30
100%
Nguyên: Sài Thung
- Trần Quốc Tuấn giành được người yêu
- Giấc mộng phi thường
- Đế khuyết giáng trần
- Cung lục linh tích hành trạng
- Chuyện cây quạt vàng
- Truyền thuyết về ngôi mộ Hưng Đạo
4
5
Thái Bình
Quảng Ninh
Vương ở đền Bảo Lộc - Nam Định
- Con voi của Trần Hưng Đạo
- Vì đại nghĩa vun trồng niềm tin đoàn kết
- Vì đại nghĩa giao lưu hoà hiếu
- Người cha vì đại nghĩa tuyệt đối
nghiêm khắc với con trai
Tổng =