ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong thời đại ngày nay, Cách mạng khoa học và công nghệ đạt đến đỉnh cao của
sự phát triển và đòi hỏi con người phát triển toàn diện, hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ
và thể chất. Trong đó, việc nâng cao sức khỏe cho mọi người là vấn đề trọng tâm, cốt
lõi của mọi mô hình phát triển của các Quốc gia, các chế độ chính trị xã hội. Vì vậy,
Đảng và Nhà nước ta luôn luôn chú trọng đến phát triển các thế hệ trẻ theo hướng
"Cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo
đức".
Trên con đường đổi mới của đất nước, cùng với sự phát triển chung của xã hội,
TDTT đã và đang được phát triển không ngừng và trở thành bộ phận không thể tách
rời trong đời sống sinh hoạt tinh thần của nhân dân ta. Tất cả chúng ta đều hiểu rõ sức
khỏe là vốn quý báu của con người, nó trở thành nền tảng vững chắc, cội nguồn, dồi
dào để nâng cao sức chiến đấu, học tập, lao động phục vụ Tổ quốc, góp phần vào công
cuộc cải tạo xã hội, thiên nhiên, đổi mới tư duy, phát triển và đổi mới của toàn dân tộc
Việt Nam. Chỉ thị 36 – CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng ngày 24/03/1994 đã
khẳng định: "Mục tiêu cơ bản và lâu dài của công tác TDTT là hình thành nền TDTT
phát triển và tiến bộ, góp phần nâng cao sức khỏe, thể lực, đáp ứng nhu cầu văn hóa,
tinh thần của nhân dân và phấn đấu đạt được vị trí xứng đáng trong các hoạt động thể
thao Quốc tế,...", đồng thời, trong Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII có nêu:
"Công tác TDTT cần được coi trọng, nâng cao chất lượng giáo dục thể chất trong
trường học, tổ chức hướng dẫn vận động đông đảo quần chúng nhân dân rèn luyện
thân thể hàng ngày, nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo bồi dưỡng vận động viên,
nâng cao thành tích các môn thể thao".
Từ những chủ trương đó của Đảng và Nhà nước, Ngành TDTT đã không ngừng
được đổi mới trong lĩnh vực đào tạo theo hướng đa dạng hóa các loại hình đào tạo
trong các trường TDTT, đào tạo HLV và giáo viên TDTT, nâng cao chất lượng đào tạo
và bồi dưỡng vận động viên có thành tích cao trong các môn thể thao.
Để thực hiện mục tiêu chiến lược đó, Ngành TDTT đã đề ra 5 giải pháp lớn,
trong đó đặc biệt coi trọng giải pháp về cải tiến chương trình và phương pháp giảng
dạy trong các trường chuyên nghiệp TDTT, nhằm đào tạo HLV, giáo viên, hướng dẫn
viên TDTT và từng bước đào tạo HLV bậc cao cho các môn thể thao trọng điểm...có
Trình độ chuyên môn có quan hệ tỷ lệ thuận với thành tích thể thao, thông qua
thành tích thể thao có thể đánh giá trình độ thể lực chuyên môn của vận động viên và
ngược lại. Trình độ chuyên môn là thước đo thành tích ở nội dung chạy cự ly 100m
trong quá trình huấn luyện. Việc xây dựng nội dung huấn luyện thể lực chuyên môn
đóng vai trò hết sức quan trọng, nó quyết định đến sự thành bại của quá trình huấn
luyện.
2
Nghiên cứu các phương pháp và bài tập huấn luyện thể lực chuyên môn đã được
rất nhiều nhà khoa học huấn luyện thể thao và giáo dục thể chất trên thế giới nghiên
cứu (L.P. Matveev – 1976, 1992; V.P. Philin – 1979; V.M. Volcov – 1983; Bungacova –
1983; Nabatnhicova – 1982; Ilin – 1983; Siris – Gaidarsca – Rachev – 1983,1994,..).
Ở Việt Nam, vấn đề này đã thu hút chú sự chú ý quan tâm nghiên cứu của nhiều
nhà khoa học TDTT, nhiều huấn luyện viên, giảng viên các trường Đại học chuyên
ngành nhằm xây dựng hệ thống lý luận và thực tiễn của công tác huấn luyện các tố
chất thể lực cho vận động viên. Sự đóng góp lý luận và phương pháp huấn luyện Điền
kinh ở Việt Nam như: Dương Nghiệp Chí – 1981, 1985; Võ Đức Phùng – 1981 –
1983; Phạm Tiến Bình – Phan Đình Cường – 1981 – 1990; Nguyễn Kim Minh – 1985
– 1992; Hoàng Vĩnh Giang – 1985 – 1997; Vũ Đức Thượng – Nguyễn Hoàng An –
1991 – 1993; Nguyễn Đại Dương – 1995 – 1996; Hoàng Mạnh Cường – 1995 – 1996;
Dương Đức Thủy – 1997; Đinh Hùng Sơn – 1999; Đàm Thuận Tư – 2004,.. song
chúng ta đều thấy rằng, các công trình và các nghiên cứu trên đã giải quyết nhiều vấn
đề mang tính đồng bộ, nhưng giải quyết những vấn đề về huấn luyện tố chất thể lực
VĐV Điền kinh còn cần cụ thể hóa theo các nội dung khác nhau. Đặc biệt trong việc
huấn luyện các tố chất thể lực chuyên môn đối với từng môn Điền kinh riêng biệt
trong các giai đoạn huấn luyện khác nhau.
Trường Đại học Hải Phòng ( được thành lập theo Quyết định số 60/2004/QĐ –
TTG ngày 09/04/2004 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở Trường Đại học Sư phạm
là động lực thúc đẩy tính tự giác tích cực, lòng say mê luyện tập cho sinh viên – VĐV,
góp phần vào việc nâng cao chất lượng Giáo dục – Đào tạo của Khoa, Nhà trường.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, trên cơ sở phân tích ý nghĩa, tầm quan trọng của
vấn đề nghiên cứu, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
"Nghiên cứu lựa chọn bài tập phát triển thể lực chuyên môn cho nam sinh
viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT - Trường Đại học Hải
Phòng”.
• Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu đánh giá thực trạng sử dụng các bài tập phát triển thể lực
chuyên môn cho nam sinh viên chuyên sâu Điền kinh chạy cự ly ngắn (100m) khoa
TDTT, trường Đại học Hải Phòng, đề tài tiến hành lựa chọn bài tập phát triển thể lực
chuyên môn và lựa chọn các test đánh giá phù hợp với đối tượng nghiên cứu cũng như
điều kiện thực tiễn của Nhà trường nhằm góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo của Nhà
trường.
• Mục tiêu nghiên cứu:
Để đạt mục đích nghiên cứu nêu trên, đề tài xác định giải quyết các mục tiêu
nghiên cứu sau:
Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng công tác giảng dạy – huấn luyện thể lực chuyên
môn cho nam sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT, trường Đại
học Hải Phòng.
4
- Thực trạng giảng dạy và huấn luyện thể lực chuyên môn cho nam sinh viên
chuyên sâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng.
- Thực trạng ứng dụng các bài tập thể lực chuyên môn cho nam sinh viên chuyên
sâu chạy cự ly ngắn (100m) khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng.
- Thực trạng kết quả học tập của nam sinh viên chuyên sâu chạy cự ly ngắn
(100m) khoa TDTT, trường Đại học Hải Phòng.
- Lựa chọn test đánh giá trình độ thể lực chuyên môn cho nam sinh viên chuyên
hệ thống vào khả năng chức phận về tâm – sinh lý và trạng thái sẵn sàng đạt thành
tích, nhằm mục đích dẫn dắt các VĐV tới thành tích thể thao cao và ca nhất. Do đó các
nhiệm vụ chính của huấn luyện thể thao trước hết phải thể hiện bằng những yêu cầu
của lượng vận động trong huấn luyện. Các nhiệm vụ chính của huấn luyện thể thao bắt
nguồn từ cấu trúc thành tích. Các yếu tố xác định thành tích cá nhân được sắp xếp
thành 5 nhóm như sau:
-
Các phẩm chất tâm lý cá nhân.
-
Các tố chất thể lực.
-
Các khả năng kỹ thuật – phối hợp vận động.
-
Khả năng chiến thuật.
-
Khả năng trí tuệ.
Lý luận huấn luyện thể thao đã xác định, để đạt được thành tích thể thao cao phải
sử dụng các phương tiện khác nhau:
-
thành tích thể thao. Song về bản chất mức độ phát triển các tố chất thể lực phụ thuộc
vào các trạng thái chức năng, cấu tạo của nhiều cơ quan, hệ cơ quan trong cơ thể. Quá
trình tập luyện để phát triển các tố chất thể lực cũng chính là quá trình hoàn thiện các
hệ thống chức năng có vai trò chủ yếu trong mỗi hoạt động của cơ bắp cụ thể.
Theo quan điểm của Aulic I.V, V.P Philin cho rằng: “Các tố chất thể lực phát triển
có tính giai đoạn và không đồng đều, tùy thuộc vào từng thời kỳ của lứa tuổi”. Vì vậy,
người HLV không những phải nắm vững quy luật phát triển tự nhiên trong cơ thể (đặc
biệt là thời kỳ nhạy cảm: thời kỳ thuận lợi cho việc phát triển các tố chất), mà còn phải
hiểu sâu sắc những đặc điểm phát triển tố chất thể lực theo độ tuổi của từng cá thể
trong cơ thể VĐV.
Theo Harre D 1996, Macximenco G 1980, Novicop Matveep L.P 1990, Pankov
B A 2002, Ozolin M.G 1980, Philin V.P 1996,... thì cho rằng: “Dù bất kỳ giai đoạn nào
của quá trình đào tạo VĐV, công tác huấn luyện thể lực chung được coi là then chốt,
bởi thể lực chung cùng với thể lực chuyện môn được coi là nền tảng của việc đạt thành
tích cao”.
Song, một điều cần ghi nhận ở một số công trình nghiên cứu của các tác giả:
Nabatnhicova 1985, Ozolin M.G 1980 thì: “Việc huấn luyện các tố chất thể lực chung
phải là một quá trình liên tục, nhiều năm trong suốt quá trình đào tạo VĐV. Tùy thuộc
vào mục đích của từng giai đoạn huấn luyện mà tỷ trọng giữa huấn luyện thể lực
chung và thể lực chuyên môn được xác định cho phù hợp”.
Một vấn đề không kém phần quan trọng theo quan điểm của các tác giả Matveep
1990, Pankov 2002, Phomin 1980 cho thấy: “Quá trình huấn luyện thể lực là sự phù
hợp của các phương tiện (bài tập thể chất) cũng như các phương pháp sử dụng, trong
7
quá trình huấn luyện phải phù hợp với các quy luật phát triển của đối tượng (lứa tuổi,
trình độ tập luyện....)”.
Huấn luyện thể lực (hay quá trình giáo dục các tố chất thể lực chung và chuyên
8
môn cử tạ được coi là sức mạnh tối đa là chủ đạo, song trong đó lại chứa đựng yếu tố
sức mạnh bền khi thực hiện động tác.
Thông qua sơ đồ tương tác giữa các tố chất vận động ở trên, chúng ta có thể coi
đó là những luận điểm cơ bản nhất trong quá trình giáo dục các tố chất thể lực chung
và chuyên môn cho VĐV.
Hiện nay tồn tại rất nhiều quan điểm về huấn luyện thể lực cho các VĐV trẻ,
song nhiều nhà nghiên cứu cho rằng công trình “Hệ thống huấn luyện thể thao hiện
đại” của tác giả N.G.Ozolin 1980 cho thấy hệ thống các quan điểm là đầy đủ hơn cả.
Tác giả cho rằng: “ Quá trình huấn luyện thể lực cho VĐV là việc hướng đến củng cố
các hệ thống cơ quan của cơ thể, nâng cao khả năng chức phận của chúng, đồng thời là
việc phát triển các tố chất vận động (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, mềm dẻo, khéo
léo)”. Quá trình chuẩn bị thể lực cho VĐV bao gồm: Chuẩn bị thể lực chung và chuẩn
bị thể lực chuyên môn.
- Chuẩn bị thể lực chung là nền tảng cho việc nâng cao thể lực chuyên môn.
- Chuẩn bị thể lực chuyên môn cần thiết phải chia làm 2 phần:
+ Chuẩn bị thể lực chuyên môn cơ sở: là hướng đến việc xây dựng các nền tảng
cơ bản phù hợp với đặc thù chuyên môn của môn thể thao nhất định.
+ Chuẩn bị thể lực chuyên môn cơ bản mà mục đích của nó là việc phát triển một
cách rộng rãi tác tố chất vận động thỏa mãn những đòi hỏi của môn thể thao chuyên
sâu.
Qua nghiên cứu tổng hợp nhiều quan điểm khác nhau trong lĩnh vực huấn luyện
thể lực cho VĐV chúng ta thấy rằng: về nguyên tắc trong một chu kỳ huấn luyện lớn –
huấn luyện thể lực chuyên môn dựa trên 3 bước: huấn luyện thể lực chung, huấn luyện
thể lực chuyên môn cơ sở và phát triển cở mức cao hơn các tố chất chuyên môn cơ
bản, phù hợp với môn thể thao chuyên sâu.
Như vậy có thể nói rằng, việc phát triển các tố chất thể lực chung ở bước một
càng chặt chẽ bao nhiêu thì ở bước hai và bước ba mới có điều kiện phát triển một
Việc huấn luyện thể lực chung phải đạt được khả năng làm việc của các cơ quan
chức phận ở mức độ cao. Đó chính là nhiệm vụ cơ bản của quá trình chuẩn bị thể lực
chung. Vai trò qua trọng trong quá trình chuẩn bị thể lực chung là việc chọn lựa các bài
tập buộc cơ thể phải huy động một số lượng lớn cơ bắp, các cơ quan chức phận của cơ
thể tham gia (bài tập chạy, bài tập thể dục,....). Mặt khác cũng cần phải lựa chọn các
bài tập chỉ có những ảnh hưởng nhất định. Nói một cách khác, các bài tập này phải
hướng đến việc phát triển một bộ phận nào đó của cơ thể hoặc tổng hợp các bộ phận,
các tố chất vận động có tác dụng làm tăng cường khả năng thể chất VĐV nói chung.
Điểm đặc biệt của quá trình chuẩn bị thể lực chung là phải củng cố được những điểm
còn yếu trong cơ thể, những cơ quan chậm phát triển.
10
Huấn luyện thể lực chuyên môn là hướng đến việc củng cố và nâng cao khả năng
làn việc của các cơ quan chức phận, các tố chất vận động phù hợp với đòi của mỗi
môn thể thao lựa chọn.
Thể lực chuyện môn cơ sở được hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển thể
lực chung – huấn luyện thể lực chung là nền tảng, còn việc lựa chọn các biện pháp phù
hợp mang những nét đặc trưng của môn thể thao, là tiền đề hình thành lên các tố chất
thể lực chuyên môn sau này. Việc hình thành thể lực chuyên môn cơ sở của các môn
thể thao không có chu kỳ là tương đối khó khăn, ở đây có 2 cách lựa chọn:
- Thứ nhất: bằng cách lặp lại nhiều lần những hoạt động chính, đặc trưng của
môn thể thao lựa chọn.
- Thứ hai: Lặp lại nguyên vẹn các bài tập thi đấu của chính môn thể thao đó.
Trên đây là các quan điểm của các chuyên gia nước ngoài về huấn luyện thể lực
chung và thể lực chuyên môn trong huấn luyện thể thao.
Qua tham khảo các nguồn tư liệu, các công trình nghiên cứu khoa học của nhiều
chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực lý luận và phương pháp huấn luyện thể thao trong
nước như: Lê Văn Lẫm, Lê Bửu, Dương Nghiệp Chí, Phạm Trọng Thanh, Nguyện
đạt thành tích cao ở những môn điền kinh khác nhau cho thấy ở các VĐV chạy cự ly
dài trình độ cao tỷ lệ phần trăm các đơn vị vận động co rút chậm (các sợi cơ “chậm”)
có trong cơ bắp cao rõ rệt. Ví dụ: các sợi “nhanh” và “chậm” ở các VĐV chạy
Maratông ưu tú (tương quan của các sợi) là từ 18 – 25% đến 82 – 75%; ở các VĐV
chạy ngắn cấp cao thì mối tương quan trên là ngược lại: từ 70 – 90% đến 30 – 10%.
Những số liệu trên đủ chứng minh về các khả năng có thể xác định sớm việc
chuyên môn hóa thể thao sau này của VĐV ngay từ khi chúng mới bước vào tập luyện
thể thao.
Một trong những nhiệm vụ hấp dẫn nhất đối với các nhà sinh lý thể thao là làm
rõ xem các đơn vị vận động khác nhau sẽ được biến đổi như thế nào theo lứa tuổi và
dưới ảnh hưởng của các chế độ huấn luyện khác nhau. Người ta nhận thấy là theo mức
độ già đi của con người thì số lượng các sợi nhanh trong cơ bị giảm đi. Ở những người
20 tuổi, trung bình các sợi nhanh chiếm khoảng 60%, ở những người 60 tuổi là 45%.
Ngoài ra trong quá trình phát triển, các sợi nhanh cũng bị bỏ lại theo lứa tuổi. Nếu như
ở tuổi 40, diện tích mắt cắt ngang của sợi co rút chậm nhỏ đi 20% thì ở sợi co rút
nhanh là 40%. Điều này có thể liên quan đến việc giảm sút tích tích cực hoạt động thể
lực của những người có tuổi, đặc biệt là giảm các lượng vận động có cường độ lớn đòi
hỏi sự tham gia tích cực của các đơn vị vận động nhanh trong cơ.
Trong huấn luyện thể thao, khi sử dụng các lượng vận động gần giới hạn và giới
hạn thì khả năng của hệ thần kinh được cải thiện, thu hút vào vận động một số lượng
ngày càng nhiều những đơn vị vận động nhanh và chậm. Khi tập luyện với cường độ
thấp thì chủ yếu chỉ những đơn vị vận động chậm tham gia vào hoạt động. Trong
trường hợp này nếu không tập luyện nhóm những đơn vị vận động co rút nhanh thì
VĐV sẽ thực sự bị giảm tiềm năng tốc độ - sức mạnh của mình.
12
Trong cơ thể người, các khả năng nhất định cả về thể hiện sức bền cũng như sức
nhanh đã được sắp đặt, vì vậy điều quan trọng là làm thế nào để có thể khám phá sớm
những năng khiếu này và phát triển chúng phù hợp với các quy luật sinh học. Việc cải
trong giới hạn 50 – 60 mililit/kg/phút. Có thể nói rằng đối với chạy cự ly ngắn cơ chế
đảm bảo năng lượng nhờ oxy là không đáng kể và quả đúng là như vậy nếu như chỉ
xem xét hoạt động thi đấu chạy trên cự ly ngắn. Ví dụ: trong chạy 100m VĐV thực
hiện từ 13 đến 19 lần hít vào không sâu.
Rõ ràng là khi hoạt động với cường độ rất cao, trong cơ thể, máu của con người
chỉ kịp thực hiện tuần hoàn đầy đủ sau 8 giây. Từ lúc súng phát lệch nổ, các VĐV chạy
ngắn đã lập tức phải đưa số lượng lớn những nhóm cơ mạnh vào hoạt động. Những
13
nhóm cơ này cần có một lượng oxy mà hêmôglôbin của máu không thể cung cấp đủ.
Dòng máu đạt được mục tiêu cuối cùng của nó chỉ sau lúc xuất phát 4 – 5 giây, tức là
lúc các VĐV đã vượt qua được một nửa cự ly. Song dù sao chỉ số tiêu thụ oxy tối đa
cũng khá quan trọng đối với các VĐV chạy trên cự ly ngắn. Tiêu thụ oxy tối đa ở mức
cao trước hết cho phép VĐV chịu đựng được lượng vận động tập luyện lớn, giúp VĐV
đạt được thành tích cao.
Khả năng ưa khí của VĐV càng cao thì quá trình hồi phục của họ diễn ra càng
nhanh hơn. Điều này giúp VĐV có khả năng đi tới vòng thi đấu sau ở trạng thái tương
đối khỏe hoặc là có thể sử dụng các buổi tập có cường độ thường xuyên hơn. Theo
mức độ tăng chiều dài của các cự ly chạy ngắn thì ý nghĩa (tầm quan trọng) của cơ chế
đảm bảo năng lượng có dùng oxy của các cơ hoạt động sẽ được nâng cao lên.
Khả năng ưa khí của con người bị giới hạn bởi kích thước của tim. Ở các VĐV
chạy cự ly dài ưu tú, thể tích tim vào khoảng 900 còn ở các VĐV chạy ngắn, thể tích
tim vào khoảng 900 . Như vậy khi số lần co bóp của tim bằng nhau thì số lượng máu
được chuyển đến cơ hoạt động ở các VĐV chạy cự ly ngắn ít hơn đáng kể. Công suất
(sức mạnh) của cơ tim, tốc độ dòng máu, khối lượng máu tuần hoàn, khả năng mang
số lượng oxy lớn hơn của máu, khả năng sử dụng oxy của các cơ hoạt động cũng là
những nhân tố quan trọng bảo đảm cơ chế cung cấp năng lượng có dùng oxy.
Từ thực tế huấn luyện cho thấy việc phát triển các khả năng ưa khí là có hiệu quả
nhất khi sử dụng lượng vận động tập luyện có cường độ đều, trong đó tần số mạch
Các kết quả nghiên cứu cho thấy việc tiêu thụ năng lượng lớn nhất ở VĐV là
trong giai đoạn chạy lao sau xuất phát. Đoạn này chiếm khoảng 1/3 cự ly chạy 100m
nhưng tiêu hao về năng lượng hơn 50%. Như vậy từ khía cạnh năng lượng việc duy trì
tốc độ chạy cao không phải là vấn đề chính yếu vì rằng để giữ được quán tính chuyển
động chỉ cần tiêu phí năng lượng để khắc phục sức cản không khí, di chuyển cơ thể
của VĐV theo quỹ đạo trong từng pha bay, cũng như hoạt động lăng và dừng lại của
chân lăng, tay, duy trì tư thế tối ưu.
Việc giảm tốc độ trên các cự ly ngắn là do sự tiêu hao dần các nguồn dự trữ bảo
đảm năng lượng và sự tích lũy axit lactic trong cơ thể. Việc nâng cao đáng kể sự tích tụ
sản phẩm của việc trao đổi năng lượng này dẫn đến làm rối loạn sự phối hợp động tác,
sức cơ yếu đi và bị chuột rút.
Phân tích việc tập luyện của VĐV chạy cự ly ngắn từ quan điểm năng lượng thì
việc huấn luyện cần được tiến hành theo hướng chủ yếu sau:
- Nâng cao nguồn năng lượng, chủ yếu đảm bảo hoạt động cơ ở chế độ phi lactac
– yếm khí, tạo điều kiện nâng cao công suất hoạt động trên đoạn xuất phát và tăng tốc
độ cực đại ở giữa quãng. Như các thí nghiệm cho thấy phương pháp chủ yếu để tăng
công suất nguồn năng lượng yếm khí là chạy lặp lại các đoạn 30 – 50m với tốc độ cực
đại. Lúc này thời gian kéo dài các đoạn nghỉ cần từ 3 – 5 phút và số lượng lần lặp lại
không quá 5 – 6 lần.
- Tăng công suất của cơ chế đảm bảo năng lượng mang tính chất gluco phân và
tăng dung lượng hệ thống đệm có tác dụng trung hòa những sản phẩm phân hủy gluco
phân. Trong máu người, các chất gluco phân đa dạng thực hiện chức năng này. Số
lượng các chất này chế định khả năng duy trì tốc độ cao ở cuối cự ly. Trong trường hợp
này, việc tập luyện thường gồm các đoạn chạy 150m và dài hơn, các quãng nghỉ tương
đối ngắn.
Việc nghiên cứu hệ thống huấn luyện các VĐV chạy cự ly ngắn cho thấy, trong
các cuộc thi đấu, VĐV thể hiện thành tích cao hơn so với trong tập luyện.
15
20,21 giây (0,168 giây)
3. Đ.Kvôri(Jamaica)
20,29 giây (0,154 giây)
Chỉ số thời gian có trong ngoặc sau thành tích của VĐV chỉ rõ thời gian từ lúc
súng lệnh nổ đến khi tay của VĐV rời khỏi mặt đường. Khoảng thời gian từ lúc súng
lệnh nổ đến khi VĐV bắt đầu hành động dường như hết sức nhỏ nhoi song rõ ràng
trong suất phát số phận của chiếc huy trương vàng đã được quyết định nghiêng về phía
VĐV Italia, người đã không để mất ưu thế có được trong suất phát cho tới khi về đích.
16
Đối với con người, thời gian tiềm tàng phản ứng vận động là những chỉ số khá
bảo thủ (khó biến đổi), song vẫn có những phương pháp giúp cải thiện phần nào. Các
VĐV có kinh nghiệm trong lúc trờ đợi tiếng súng lệnh nổ thường làm căng những
nhóm cơ nhất định và bắt đầu ấn nhẹ chân lên mặt tựa bàn đạp suất phát. Trong thời
điểm súng nổ các cơ sẽ bắt đầu hoạt động dường như đã có đà và vì thế thời gian cần
thiết để chuyển sang hoạt động tích cực được rút ngắn lại.
Như vậy thời gian tiềm tàng phản ứng vận động là một trong các chỉ số có thể sử
dụng để đánh giá tình trạng chức năng của VĐV trong thời điểm đó.
Thời gian tiềm tàng phản ứng vận động cũng phụ thuộc vào trình độ đẳng cấp
của VĐV. Thời gian tập luyện cho xuất phát càng nhiều thì phản xạ có điều kiện được
hình thành ở VĐV sẽ càng vững chắc. Việc chuyên môn hóa nhiều năm trong chạy cự
ly ngắn sẽ rút ngắn thời gian tiềm tàng phản ứng vận động xuống còn khoảng một nửa.
Thời gian mà VĐV cần từ lúc đạp vào mặt tựa bàn đạp xuất phát đến lúc rời khỏi
bàn đạp được gọi là thời kỳ vận động của xuất phát. Trung bình sự tác động lực của
VĐV vào điểm tựa trong xuất phát chiếm khoảng 0,22 – 0,45 giây. Độ dài thời gian
lưu lại của VĐV trên bàn đạp xuất phát phụ thuộc vào tốc độ các động tác của tay và
chân, kỹ thuật xuất phát và lực đạp sau vào bàn đạp xuất phát. Trình tự kế tiếp nhau
của các hành động xuất phát và thời gian trung bình mà các VĐV cần để thực hiện
phân tích những mối quan hệ tinh tế. Gần đây để ghi thời gian chạy trên các đoạn
người ta đã sử dụng cảm biến quang diện. Việc hoàn thiện phương pháp này đã cho
phép sử dụng các cảm biến quang điện đặc thù ghi lại sự thay đổi. Với sự hỗ trợ của
dụng cụ ghi vận tốc cũng có thể nghiên cứu diễn biến tốc độ chạy ngắn.
Việc phân tích diễn biến các thành phần tốc độ của các VĐV mạnh trên thế giới,
một trong phạm vi nhất định sẽ có ý nghĩa như mô hình mẫu để ứng dụng trong huấn
luyện. Thông thường trong chạy 100m người ta thường tiến hành xác định diễn biến
tốc độ qua các đoạn 10m. Trên cơ sở xác định được thời gian của từng đoạn trong cự
ly chạy, có thể dễ dàng xác lập biểu đồ diễn biến tốc độ trên cả cự ly chạy.
1.2.3.1.2. Tần số bước và độ dài bước chạy
Tốc độ chạy phụ thuộc vào sự thay đổi các thành phần như độ dài bước và tần số
bước. Vì vậy để phân tích diễn biến tốc độ chạy thì ngoài thời gian chạy qua các đoạn
trong cự ly chạy nhất thiết phải có thông tin về số lượng bước chạy trong các đoạn cự
ly để từ đó xác định tần số bước và độ dài bước chạy trong từng đoạn cự ly chạy.
Ngày nay bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đại có thể cho phép tiếp nhận các
thông tin về thời gian chạy, số lượng bước chạy trong từng đoạn cự ly chạy với độ
chính xác cao đảm bảo độ tin cậy. Từ các thông tin này sẽ cho phép xác định được độ
dài bước, tần số bước cũng như làm rõ độ dài bước và tần số bước chạy được thay đổi
như thế nào trong mối liên quan với sự thay đổi tốc độ chạy trên từng đoạn cự ly chạy.
Để làm sáng tỏ vấn đề nêu trên, đề tài xin trích dẫn các số liệu của các VĐV vào
chung kết tại Giải vô địch điền kinh thế giới ở Tokyo năm 1991 (bảng 1.1).
BẢNG 1.1. KẾT QUẢ THI CHUNG KẾT CHẠY 100m TOKYO – 1991
Họ tên VĐV
C.Leuyt
Thông
số
t
V
t
l
f
V
t
l
f
V
t
l
f
V
t
l
f
V
1.39
3.83
5.3
1.83
6.6
1.51
3.95
5.4
1.80
7.2
1.39
3.89
1.06
5.2
1.92
4.95
9.4
1.06
5.2
1.92
4.86
9.4
1.07
5.4
1.85
5.02
9.3
2.43
4.45
10.9
0.91
4.2
2.38
4.61
11.0
0.93
4.3
2.32
4.65
10.7
0.92
2.50
4.48
11.2
0.89
4.2
2.38
4.59
11.2
0.89
4.3
2.32
4.79
11.2
2.56
4.66
11.9
0.87
3.8
2.63
4.41
11.5
0.87
4.3
2.32
4.54
11.5
0.85
3.9
2.56
11.6
0.87
4.4
2.27
5.02
11.5
0.87
4.4
2.32
4.97
11.5
2.50
4.76
11.9
0.87
4.0
2.50
4.57
11.5
0.86
4.1
2.43
4.84
11.6
0.86
4.2
2.38
4.84
11.6
4.1
2.43
4.80
11.8
0.87
4.0
2.50
4.55
11.5
2.63
4.34
11.5
0.89
3.9
2.56
4.34
11.2
0.88
4.1
2.43
4.44
11.4
0.90
4.0
2.50
4.44
11.1
0.89
4.1
4.37
11.4
0.90
4.3
2.32
4.73
11.1
Ghi chú:
t: Thời gian chạy vượt qua 10m (s).
: Số lượng bước chạy (bước).
l: Độ dài bước chạy (m).
f: Tần số bước (bước/giây).
V: Tốc độ chạy (m/giây).
● Tốc độ chạy tối đa
Từ kết quả ở bảng 1.1 cho thấy 5 VĐV (Leuyt, Barrell, Myttrell, Phederic,
Cryxty) đều đạt được tốc độ tối đa của mình trong đoạn 70 – 80m. Mytrell đã đạt được
tốc độ tối đa trong đoạn 60 – 70m; còn Cryxty và Xtyuart đã đạt tốc độ tối đa trong
đoạn 40 – 50m. Kết quả trên cho thấy hầu như các VĐV (5/8) đều đạt được tốc độ tối
đa của mình trong đoạn 70 – 80m. Đặc biệt là VĐV Mytrell đã đạt được tốc độ tối đa
của mình trong đoạn 2 đoạn: 60 – 70m, và 70 – 80m của cự ly chạy.
19
Kết quả trong bảng cho thấy giữa tốc độ tối đa và vị trí thứ hạng của VĐV không
nhận thấy có mối liên quan với nhau. Cryxty và Phederic đã đạt tốc độ tối đa lớn hơn
Myttrell nhưng họ chỉ đạt vị trí thứ 4 và 5 trong bảng xếp hạng còn Myttrell lại chiếm
ở vị trí thứ 3. VĐV Xtyuart cũng đã đạt tốc độ tối đa như Myttrell nhưng lại ở vị trí
thứ 6.
Như vậy trong điều kiện tốc độ tối đa như nhau thì VĐV nào có khả năng lặp lại
Số lượng các đoạn trong cự ly chạy mà ở đó tốc độ chạy đã tăng cao có thể dao
động từ 8 – 6 đoạn và số lượng các đoạn này không liên quan đến vị trí thứ hạng của
VĐV. Chẳng hạn VĐV Leuyt (xếp thứ 1), VĐV Barrell (vị trí thứ 2) và VĐV Phederic
(vị trí thứ 8) có tốc độ chạy tăng cao trong 7 đoạn cự ly chạy. Tốc độ chạy tăng cao
trong 6 đoạn cự ly chạy cũng đã diễn ra ở các VĐV Myttrell (vị trí thứ 3), Xtyuart (vị
trí thứ 6) và Da – Xylva (vị trí thứ 7).
Sự tăng tốc độ chạy chỉ nhờ tăng tần số bước chạy được nhận thấy ở tất cả các
VĐV. Ở Cryxty và Leuyt hiện tượng này chỉ diễn ra trên 2 đoạn cự ly, số còn lại chỉ
diễn ra trên 1 đoạn cự ly chạy.
Sự tăng tốc độ chạy chỉ nhờ sự tăng độ dài bước cũng nhận thấy ở tất cả các
VĐV trên một số đoạn cự ly chạy như ở VĐV Barrell diễn ra trong 5 đoạn. Ở Leuyt,
Cryxty và Phederic diễn ra trong 4 đoạn cự ly chạy. Ở Myttrell, Xtyuart, Da – Xylva
và Xuryn diễn ra trên 3 đoạn cự ly chạy.
Sự tăng tốc độ chạy nhờ tăng tần số và độ dài bước cũng nhận thấy ở tất cả các
VĐV tham gia chung kết, trong 4 trường hợp (Myttrell, Cryxty, Xtyuart và Xuryn)
nhận thấy hiện tượng đó được diễn ra trong 4 đoạn cự ly; số còn lại (Leuyt, Barrell,
Phederic và Da – Xylva) chỉ diễn ra trên 2 đoạn cự ly chạy.
1.2.5. Mối quan hệ giữa độ dài bước và tần số bước chạy khi tốc độ chạy
giảm xuống.
Số lượng các đoạn cự ly mà ở đó tốc độ chạy bị giảm xuống thường dao động từ
1 – 3 đoạn trong cự ly chạy. Số lượng các đoạn này không liên quan đến vị trí xếp
hạng của VĐV. Chẳng hạn ở VĐV Phederic tốc độ chạy đã giảm xuống trong một
đoạn cự ly chạy nhưng chỉ đứng ở vị trí thứ 5 trong bảng xếp hạng. Trong khi đó, tốc
độ chạy của Leuyt đã giảm trong 2 đoạn cự ly chạy nhưng VĐV này đã giành chiến
thắng (chiếm vị trí số 1). Ở VĐV Da –Xylva tốc độ chạy cũng bị giảm trong 2 đoạn cự
ly chạy nhưng lại về đích ở vị trí thứ 7.
Sự giảm sút tốc độ do giảm tần số bước chạy được nhận thấy trong 5 trường hợp
(Myttrell, Cryxty, Phederic, Xtyuart và Da-Xylva). Hơn nữa trong 4 trường hợp đầu
thì tốc độ chạy gắn liền với sự ổn định độ dài bước, còn trong trường hợp cuối (DaXylva) độ dài bước chạy lại tăng lên.
Sự giảm tốc độ do giảm độ dài bước chạy cũng nhận thấy ở 6 VĐV tham gia
= (1 - )
Trong đó: – độ lớn tốc độ chạy ở thời điểm bất kỳ của cự ly chạy.
– Tốc độ chạy cực đại.
t – thời gian lúc xuất phát.
e – cơ số lôgarit.
k – hằng số cá nhân.
Diễn biến tốc độ của những VĐV chạy ngắn thế giới nổi tiếng trong các cuộc thi
đấu lớn đã được nhiều nhà khoa học nghiên cứu. Người ta nhận thấy các VĐV mạnh
nhất đạt được tốc độ cực đại ở đoạn 40 – 50m của cự ly và ở 5m cuối cùng thì tốc độ
hơi bị giảm xuống. Ngoài ra người ta nhận thấy việc xuất hiện của các đỉnh điểm tốc
độ cực đại mà các nhà nghiên cứu đã liên hệ nhịp suất hiện của chúng với tài nghệ của
VĐV.
22
Qua các chỉ số nêu trong bảng 1.2 có thể xem xét một số quy luật phát triển khả
năng phát triển tốc độ của con người. Các VĐV chạy ngắn có trình độ cao, sau khi đạt
được tốc độ chạy cực đại chỉ giảm tốc độ này xuống rất ít ở cuối cự ly. Họ làm được
như vậy là do họ không chỉ có khả năng tiềm tàng về mặt năng lượng mà cả kỹ thuật
chạy hợp lý, cho phép sử dụng nguồn năng lượng tiết kiệm hơn. Trình độ chuẩn bị của
VĐV càng thấp thì việc giảm tốc độ chạy của họ càng rõ ràng, thậm chí ở những đoạn
dài hơn.
Bảng 1.2. Thời gian chạy trung bình để vượt qua các đoạn 5m của cự ly ở
các VĐV có đẳng cấp khác nhau.
Thành tích trong chạy 100m (giây)
Các đoạn cự ly (m)
10.3
10.70
11.25
0.63
20 – 25
0.48
0.50
0.52
0.54
0.56
0.58
25 – 30
0.48
0.49
0.52
0.54
0.56
0.58
30 – 35
0.46
0.48
0.50
0.52
0.56
0.57
35 – 40
0.46
0.47
0.50
0.53
0.55
0.57
40 – 45
0.49
0.52
0.57
0.59
65 – 70
0.45
0.47
0.49
0.53
0.57
0.59
70 – 75
0.46
0.47
0.51
0.51
0.57
0.58
75 – 80
0.46
0.47
0.50
0.53
0.57
0.58
80 – 85
0.46
0.47
0.51
0.53
(m/giây)
Vì vậy không nên coi thành tích trên cự ly 100m là chỉ số phát triển sức nhanh ở
các VĐV vì trên một đoạn cự ly dài như vậy thì tố chất sức bền tốc độ có vai trò quyết
định.
Sự thay đổi tốc độ chạy ngắn có thể được chia làm 3 phần đặc trưng nhất:
- Chạy lao dau suất phát được thể hiện chủ yếu trên đoạn 30m. Sau đó phần lớn
VĐV đạt được tốc độ chạy cực đại (90 – 94%).
- Chạy với tốc độ cực đại. Độ dài này phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của
VĐV.
- Giảm tốc độ chạy cào cuối cự ly chủ yếu thể hiện đặc điểm sức bền tốc độ của
VĐV.
23
Trong chạy lao sau xuất phát trên đoạn 30m, các VĐV có đẳng cấp khác nhau
cần có thành tích sau:
Thành tích chạy 100m (giây)
10.0 10.3 10.7 11.2 11.7 12.3 12.8
Thành tích chạy 30m (giây)
3.6 3.8 4.0 4.2 4.4 4.5 4.6
Các VĐV đạt được tốc độ chạy cực đại ở đoạn cự ly từ 40 – 60m, và trình độ
VĐV càng cao thì duy trì tốc độ được lâu.
Độ lớn tốc độ cực đại phụ thuộc vào đẳng cấp của VĐV.
Thành tích chạy 100m (giây)
10.0 10.3 10.7 11.2 11.7 12.3 12.8
Thành tích chạy 20m TĐC (giây)
1.65 1.75 1.80 1.90 2.05 2.15 2.30
Tốc độ chạy cực đại (m/giây)
12.0 11.5 11.0 10.5 10.0 9.6 9.1
vô địch đã đạt được thành tích cao.
Ngày nay, khối lượng của lượng vận động đã đạt tới một giá trị rất lớn và rõ ràng
là việc tiếp tục tăng chúng đối với các VĐV cấp cao không phải là con đường duy nhất
nữa mà thường là cách không hiệu quả để nâng cao thành tích thể thao. Vì vậy điều
24
quan trọng đối với các HLV là phân tích toàn bộ cơ chế phức tạp của hệ thống huấn
luyện để tiến hành huấn luyện VĐV của mình ở trình độ hiện đại.
Vấn đề tổ chức quá trình huấn luyện trong chạy cự ly ngắn mặc dù các bài tập thi
đấu nhìn bề ngoài đơn giản nhất cũng rất phức tạp.
Nếu theo dõi sự phát triển của các kỷ lục thế giới đã được ghi lại từ khi thành lập
Liên đoàn Điền kinh quốc tế (tháng 7 năm 1912) thì ở các môn điền kinh khác nhau
thành tích được nâng lên với các tỉ lệ khác nhau: Trong ném đẩy (45%), trong các môn
nhảy (18 – 20%), trong chạy cự ly dài (10 – 15%), trong chạy cự ly ngắn (5 – 8%).
Cần phải nhận thấy là việc thay đổi cơ bản kỹ thuật thực hiện các bài tập thường
có ảnh hưởng đến việc phát triển các kỷ lục thế giới. Ví dụ trong nhảy cao hay như
việc xử dụng các dụng cụ hiện đại như sào nhảy và lao. Song dù sao thi các kỷ lục phát
triển chủ yếu nhờ vào việc hoàn thiện phương pháp phát triển các tố chất vận động của
con người.
Việc nghiên cứu của các nhà sinh lý cho thấy rằng trong quá trình huấn luyện thể
thao, nhiều chức năng của cơ thể ở một chừng mực này hay khác bị biến đổi nhiều. Do
đó con người có khả năng thực hiện hoạt động lâu hơn hay phát triển công suất lớn
hơn. Quá trình phát triển của các tố chất vận động riêng xảy ra không đồng đều.
Ngày nay các huấn luyện viên và VĐV biết cách phát triển sức mạnh một cách
nhanh chóng, hiệu quả với độ tin cậy cao. Việc áp dụng các trọng lượng lớn, chế độ ăn
uống cân bằng, cường độ huấn luyện cao là những phương pháp huấn luyện sức mạnh.
Phương pháp phát triển sức bền cũng được hoàn thiện. Nhiều phương pháp huấn luyện
cho phép nâng cao sức bền như: huấn luyện khoảng cách Pharơtlec, lượng vận động