Kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình... ”
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài.
Thơ Trung Đại Việt Nam được coi là bộ phận văn học gắn liền với một
giai đoạn cực kì quan trọng trong chiều dài lịch sử đất nước ta - giai đoạn nhà
nước phong kiến Việt Nam được xác lập, đi từ chỗ cực thịnh rồi chuyển dần tới
chỗ suy vi. Qua các giai đoạn phát triển của văn học Việt Nam gắn với từng thời
kì lịch sử của dân tộc, có thể khẳng định được giai đoạn văn học trung đại đã để
lại cho nền văn học Việt Nam một di sản vô cùng quý báu; đồ sộ về khối lượng;
phong phú và hết sức đa dạng về nội dung; đạt tới nhiều đỉnh cao về nghệ thuật.
Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu di sản này, chúng ta càng thêm gắn bó với truyền
thống cao đẹp của dân tộc. Bởi lẽ như lời khẳng định của cố thủ tướng chính phủ
Phạm Văn Đồng: “Mỗi tác giả với thiên tài của mình và giới hạn của thời đại,
phản ánh một thời kì lịch sử, đánh dấu một bước tiến của văn học, làm giàu
thêm cho tư tưởng, tình cảm và tiếng nói Việt Nam”. Chúng ta có thể tìm thấy
trong di sản này những kho tư liệu quý giá giúp ta có thể nhìn lại được cả một
quá khứ vinh quang nhưng không ít khó khăn, gian khổ của dân tộc, để rồi từ đó
có thể hướng cái nhìn đến hiện tại một cách thấu đáo hơn và hướng đến tương
lai một cách tin tưởng, lạc quan hơn. Đối với nhà trường THCS, di sản này đóng
một vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục, hình thành nhân cách đạo đức cho
người học sinh, giúp học sinh từng bước hướng tới những giá trị chân - thiện mĩ cao đẹp,... thông qua những thành quả nổi bật của người xưa trong lĩnh vực
sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, kết tinh trong các tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu.
Việc dạy văn học ở nhà trường nói chung và dạy thơ trữ tình trung đại
theo hướng tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh nói riêng là một vấn đề
đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu về phương pháp dạy học văn cũng như
nhiều giáo viên giảng dạy văn học quan tâm. Thực tế cho thấy ở hầu hết các tác
phẩm thơ trữ tình trung đại trong chương trình Ngữ văn 7 có nhiều điểm tương
đồng cả về nội dung lẫn hình thức thể hiện. Mỗi tác phẩm đều chứa đựng trong
nó những giá trị nội dung sâu sắc, phản ánh một cách toàn diện xã hội đương
thời, thể hiện quan niệm nhận thức, tâm tư, tình cảm ... của con người một cách
hợp học sinh lại tỏ ra rất “sợ học” thơ Đường, bởi vì có những bài thơ có phiên
âm chữ Hán, từ ngữ khó hiểu, điển cố nặng nề gây cho các em nhiều khó khăn
trong quá trình học và tìm hiểu, mặt khác đôi khi chính cách giảng bài của người
thầy chưa thực sự tạo ấn tượng sâu sắc, muốn khám phá và tìm hiểu cho học
sinh. Chính vì thế mà ở học sinh dần dần mất hứng thú học văn. Từ đó kéo theo
chất lượng học văn ngày càng sa sút
Một lí do nữa có thể nhận thấy đó là trong quá trình giảng dạy các tác
phẩm thơ chữ Hán, khi tiến hành phân tích tác phẩm, đôi khi một số giáo viên
chủ yếu hướng dẫn các em tìm hiểu văn bản dựa theo bản dịch thơ mà sao nhãng
hoặc quên mất bản phiên âm (bản gốc), do đó có nhiều học sinh không thể nhớ
nổi một từ hay một câu thơ hay trong bản gốc. Vì thế, người giảng dạy gặp rất
nhiều khó khăn trong công tác soạn giảng giáo án, phải đầu tư không ít thời
gian và công sức trong việc tìm hiểu, khám phá những cái hay, cái đẹp trong
mỗi tác phẩm văn học để từ đó từng bước tạo ra hứng thú, niềm say mê tìm
hiểu những giá trị đặc sắc chứa đựng trong các tác phẩm thơ trung đại Việt
Nam. Để thực hiện được điều đó thì vấn đề trước mắt được đặt ra là phải có
những biện pháp tối ưu nhằm giúp giáo viên và học sinh đạt hiệu quả cao
trong giảng dạy và học tập thơ trữ tình trung đại Việt Nam. Đó chính là lí do
thôi thúc tôi nghiên cứu nội dung đề tài sáng kiến kinh nghiệm về “Một
số phương pháp nâng cao chất lượng giảng dạy thơ trung đại Việt Nam ở môn
Ngữ văn 7 trong nhà trường THCS” với mong muốn có thể ứng dụng hiệu
quả hơn trong giảng dạy để dạy tốt các bài thơ trữ tình Trung Đại trong
chương trình Ngữ văn 7, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả dạy, học môn ngữ
văn ở trường THCS.
Người thực hiện: Đỗ Mai Thanh
2
Kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình... ”
4
Kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình... ”
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Chương 1: Tổng quan.
1.1. Cơ sở lý luận.
- Biện pháp: Cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể. Ví dụ: Biện
pháp hành chính. Biện pháp kĩ thuật. Có biện pháp đúng.
- Nâng cao: Làm tăng thêm: Nâng cao nhiệt tình cách mạng.
- Chất lượng: là tập hợp các đặc tính của một thực thể tạo cho thực thể
đó khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra và nhu cầu tiềm ẩn.
- Thơ là một hình thức nghệ thuật dùng từ, dùng chữ trong ngôn ngữ làm
chất liệu, và sự chọn lọc từ cũng như tổ hợp của chúng được sắp xếp dưới một
hình thức lôgíc nhất định tạo nên hình ảnh hay gợi cảm âm thanh có tính thẩm
mỹ cho người đọc, người nghe.
- Trữ tình: Đây là một tính từ có nội dung phản ánh hiện thực bằng cách
biểu hiện những ý nghĩ, xúc cảm, tâm trạng riêng của con người trước cuộc
sống.
Ví dụ:
+ Thơ trữ tình.
+ Những làn điệu quan họ mang đậm chất trữ tình”.
- Tác phẩm trữ tình là văn bản biểu hiện tình cảm, cảm xúc của tác giả
trước cuộc sống. Thơ là thể loại văn học phù hợp để biểu hiện tình cảm, cảm
xúc, tuy nhiên cũng có thơ tự sự, truyện thơ. Văn xuôi phù hợp với kể chuyện,
tuy nhiên cũng có những loại văn xuôi trữ tình hoặc mang nặng tính chất trữ tình
như tùy bút.
- Thế nào là thơ trữ tình ?
ngắn và ý nghĩa thường ẩn sâu trong các lớp ngôn từ của tác phẩm, đôi khi vượt
ra ngoài ngôn ngữ biểu hiện...Vì vậy, giáo viên thường thụ động dựa vào hướng
dẫn và các bản dịch để giảng cho học sinh mà có phần xa dời nguyên tác tác
phẩm. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới việc chuyển tải cái hay, cái đẹp của
tác phẩm tới học sinh. Do đó, học sinh thường chỉ nhớ "vẹt" ý của bài mà không
hiểu sâu sắc tác phẩm, không phát huy được năng lực sáng tạo; chỉ sau một thời
gian ngắn, những nội dung ấy nếu không được ôn lại, sẽ nhanh chóng ra khỏi
chỗ nhớ, lâu dần, thói quen đó làm mất hứng thú của học sinh đối với bộ môn
Văn.
Trước tình hình ấy, để khắc phục những khó khăn đó và đáp ứng yêu cầu
giảng dạy, giáo viên phải tìm hiểu kĩ chương trình, bổ sung thêm kiến thức từ
các sách nghiên cứu, đi sâu tìm hiểu, lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp,
vừa sức với học sinh, giúp các em vượt qua những khó khăn trên để cảm nhận
được cái hay, cái đẹp của tác phẩm thơ này. Tiếp nhận thơ trữ tình trung đại đối
với lứa tuổi học sinh trung học cơ sở, đặc biệt học sinh lớp 7 quả là điều không
hề đơn giản. Chính vì vậy người giáo viên phải là chiếc cầu nối giúp các em cảm
nhận được thơ ca trung đại, đặc biệt thơ Đường - một thành tựu của thơ ca nhân
loại.
Thế kỉ 21 là thế kỉ của sự hội nhập toàn cầu, đời sống kinh tế xã hội phát
triển, lúc này trong suy nghĩ và nhận thức của người học những môn học thời
thượng như: Toán, Lý, Hoá, Tin học, Ngoại ngữ…giữ vị trí quan trọng hơn bao
giờ hết; văn chương không có tính năng ứng dụng, tương lai người học không
được đảm bảo, chính vì thế mà học sinh ngày càng xa rời văn chương. Đặc biệt,
một thực tế đang tồn tại mà bất kì giáo viên nào cũng nhận thấy đó là : Sách
tham khảo, sách hướng dẫn để học tốt, sách chuẩn kiến thức, những bài văn
mẫu… quá nhiều, vô hình dung đã làm cho học sinh bỏ rơi sách giáo khoa, học
sinh tỏ ra biết đầy đủ nội dung tác phẩm văn chương được học dựa vào bài soạn
Người thực hiện: Đỗ Mai Thanh
6
Kém
Lớp
số
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
7B
32
Kém
Lớp
số
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
7B
32
Kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình... ”
chung về nhận thức của học sinh. Vậy nguyên nhân do đâu mà lại có tỉ lệ chênh
lệnh như thế ? Thực tế cho thấy, thể loại, thi pháp văn học cổ có nhiều xa lạ với
thi pháp văn học đương đại nên đó là điều khó khăn cho học sinh tiếp nhận.Vốn
sống kinh nghiệm thực tế học sinh còn ít, học sinh khó khăn khi tái hiện hoàn
cảnh xã hội, hiểu các điển tích, điển cố được sử dụng trong tác phẩm văn học cổ.
Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển đi lên của đất nước, chúng ta có những
thành tựu quan trong về lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên với cơ chế nền kinh tế thị
trường đã tạo ra những phức tạp và những ảnh hưởng không lành mạnh đối với
đời sống con người, nhất là thế hệ trẻ. Đặc biệt là đối tượng học sinh, trong đó
có học sinh bậc trung học cơ sở. Một bộ phận lớn học sinh chịu ảnh hưởng của
các yếu tố tiêu cực của xã hội chi phối nên ý thức học tập không cao, thiếu tự
giác. Trong khi đó, phần văn học trung đại là phần văn học khó nhất. Vì thế, chất
lượng học sinh thuyên giảm. Ngoài ra, sự quan tâm, cách nhìn nhận của phụ
huynh học sinh là sính học các môn Khoa học tự nhiên cũng có những ảnh
hưởng không tích cực đến việc nỗ lực phấn đấu của học sinh đối với môn Ngữ
văn. Bên cạnh đó, việc lựa chọn phương pháp học tập bộ môn không hợp lí cũng
là nguyên dẫn tới chất lượng các bài kiểm tra của các em chưa cao. Nhiều em
luôn duy trì thói quen học “vẹt”, học trước quên sau; việc ghi nhớ và tái hiện
kiến thức về các tác phẩm thơ trữ tình trung đại của các em chưa tốt; đa số các
chỉ học thuộc các văn bản thơ mà không có phần phiên âm, còn đối với những
văn bản có phần phiên âm thì hầu hết các em đều tỏ ra không mấy thích thú; học
thuộc một cách máy móc nên mất rất nhiều thời gian mà chất lượng bài kiểm tra
cũng không khá hơn. Một nguyên nhân nữa là do khả năng tư duy văn học của
các em chưa cao cùng với việc các em chưa chịu đào sâu suy nghĩ về các tầng ý
nghĩa được ẩn chứa trong những tác phẩm thơ cổ, do đó chất lượng các bài kiểm
tra viết của các em phần lớn là rất thấp. Đó chính là những câu trả lời cho lí do
của tác phẩm để hiểu được thấu đáo nội dung tư tưởng của tác phẩm. Hướng dẫn
học sinh soạn kĩ ở nhà (đặt câu hỏi, định hướng phần câu hỏi trọng tâm cần khai
thác...), kiểm tra kĩ bài soạn của học sinh, có biện pháp nhắc nhở, phê bình đối
với học sinh có biểu hiện soạn chống đối như soạn sơ sài, soạn nhưng chỉ là
chép lại mà không hiểu, không nhớ.
- Về phía học sinh: Luôn có ý thức chuẩn bị bài soạn chu đáo trên cơ sở
hướng dẫn của hệ thống câu hỏi trong sách giáo khoa và sự hướng dẫn của giáo
viên trước tiết học. Ngoài ra, để mở rộng thêm những hiểu biết về tác phẩm, cần
bố trí thời gian đọc thêm tư liệu có liên quan đến tác phẩm, tích cực sưu tầm các
câu thơ, bài thơ có nét tương đồng với tác phẩm sắp học hay các nhận định về
tác phẩm.
2.2.2. Đối với hoạt động dạy học trên lớp:
Hoạt động dạy học trên lớp được thực hiện với nhiều bước quan trọng, đó
là lúc thầy và trò cần phát huy được vai trò trung tâm của mình trong một giờ
học. Chính vì thế khi thực hiện dạy bất kì một văn bản thuộc thể loại nào đi
chăng nữa, người thầy giáo đều phải định hướng học sinh của mình theo các
bước như sau:
Bước 1: Giáo viên nên hết sức coi trọng mà không được coi nhẹ hay bỏ
qua khâu kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh, bởi đây chính là tiền đề quan trọng
để đánh giá sự cảm thụ được tác phẩm của học sinh ngay trên lớp.
* Ví dụ: Trước khi học văn bản “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh” của Lí
Bạch, giáo viên có thể thực hiện các hình thức kiểm tra xem học sinh có chuẩn
bị bài ở nhà hay không bằng những cách sau:
Một là: Đến từng bàn học sinh kiểm tra trực tiếp vở soạn bài của các em.
Hai là: dùng hình thức câu hỏi vấn đáp như “Hãy cho biết tác giả của bài
thơ “Cảm nghĩ...thanh tĩnh” là ai? Em hãy nêu hoàn cảnh sáng tác bài thơ này?
Người thực hiện: Đỗ Mai Thanh
9
theo âm vang của ngôn ngữ, nhất là ngôn ngữ thơ, và ngôn ngữ nhân vật, cái mà
đọc bằng mắt nhiều khi không đạt được. Đọc chính là tạo lên rung động thơ, tạo
lên sự đồng điệu về tâm hồn để rồi tiến tới sự đồng tình và đồng ý với tác giả.
Bước 4: Với phần phân tích:
* Phân tích tác phẩm cần phải gắn liền với thân thế, phong cách tác
giả và hoàn cảnh xã hội nảy sinh tác phẩm, điều đó sẽ giúp học sinh hiểu tác
phẩm một cách đúng đắn, sâu sắc hơn.
* Ví dụ: Khi dạy thơ Đỗ Phủ, giáo viên cần hướng học sinh vào chất
thánh trong con người ông, phong cách thơ ông khác hẳn với Lý Bạch, ông viết
Người thực hiện: Đỗ Mai Thanh
10
Kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình... ”
về mọi đề tài và không đề tài nào thoát ly thời cuộc vì cuộc đời ông nhiều gian
nan vất vả. Ông đã có một thời gian ngắn làm quan song từ quan vì xảy ra sự
biến An Lộc Sơn, vả lại bản thân ông cũng không được nhà vua tín nhiệm. Gần
như suốt cuộc đời ông sống trong cảnh nghèo đói bệnh tật. Ông là đại diện của
khuynh hướng thơ hiện thực, ngòi bút của ông luôn hướng vào phía dân nghèo:
… Ước được nhà rộng muôn ngàn gian
Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan,
(Bài ca nhà tranh bị gió thu phá)
Men theo chặng đường thơ Đỗ Phủ sẽ giúp học sinh thấy được bức tranh
hiện thực đời Đường đậm nét. Qua đó hiểu thêm về phong cách thơ của tác giả.
- Việc tìm hiểu về tác giả, tác phẩm giữ vai trò quan trong trong việc định
huớng cho học sinh đi sâu khai thác các giá trị của văn bản. Bởi lẽ trong thực tế
có nhiều tác phẩm chịu ảnh hưởng sâu sắc từ hoàn cảnh sống, từ phong cách
sáng tác của mỗi tác giả. Và đặc biệt hơn nữa có nhiều sáng tác là sự phản ánh
sông Như Nguyệt đầu năm 1077 để học sinh có thể ghi nhớ được những kiến
thức lịch sử quan trọng của dân tộc. Từ đó biết bồi đắp thêm tình cảm, niềm tự
hào đối với lịch sử dựng nước và giữa nước hào hùng của dân tộc ta.
* Dạy tác phẩm thơ trữ tình trung đại phải chú ý đến đặc trưng thể
loại:
Cho học sinh tìm hiểu về thể loại và đặc trưng của từng thể loại. Mỗi thể
loại văn học trung đại nói chung. Thơ trung đại nói riêng có dạng thức tồn tại và
phương thức biểu đạt nhất định. Phân tích tác phẩm theo đặc trưng thể loại là đi
vào thi pháp- đi lại con đường của người sáng tác để có thể thâm nhập và hiểu
tác phẩm được dễ dàng. Cho học sinh nắm được thi pháp của thơ trung đại. Thơ
Đường luật gồm có các thể thơ: Tứ tuyệt, Thất ngôn bát cú...Dạy thơ Đường luật
thất ngôn bát cú (thể thơ được học nhiều ở THCS) cần chú ý các đặc điểm về
vần, niêm luật, đối và kết cấu, ngôn ngữ.
+ Bố cục của bài (thường theo đặc trưng thể loại hoặc theo nội dung văn
bản (diễn biến tình cảm, tâm trạng nhân vật). Căn cứ vào đó, giáo viên cần có
cách tìm hiểu linh hoạt:
* Ví dụ: Khi dạy bài thơ “Qua Đèo Ngang” của (Bà huyện Thanh Quan),
giáo viên nên hướng dẫn học sinh khai thác theo bố cục của bài thất ngôn bát cú,
vì đây là một bài thơ tuân theo các quy định nghiêm ngặt của phong cách thơ
Đường, gồm 4 phần đề - thực – luận – kết, ở mỗi phần luôn có sự song hành bức
tranh cảnh và bức tranh tâm trạng, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh khai
thác tìm hiểu.
Nhưng khi tiến hành dạy bài thơ “Bạn đến chơi nhà” (Nguyễn Khuyến),
vẫn là kết cấu: đề - thực – luận – kết, vẫn đủ 8 câu với niêm, luật, vần, đối rất
chuẩn như luật thơ Đường quy định nhưng bài thơ này lại có sự phá cách ở ý
tưởng, ở cấu tứ bài thơ. Vì thế, khi dạy bài thơ này nên đi theo diễn biến tự
nhiên quá trình cảm xúc của nhân vật trữ tình, nên chia bài thơ theo 3 ý như sau:
1-Cảm xúc khi bạn tới chơi (câu 1); 2-Cảm xúc về gia cảnh (câu 2 đến câu 7); 3Cảm xúc về tình bạn (câu 8).
+ Nhịp thơ, vần thơ, thanh điệu, âm hưởng: Đây là các yếu tố không thể
thiếu trong bất kì một tác phẩm thơ trữ tình nào, bởi chúng góp phần thể hiện
- Trong bài “Chinh phụ ngâm khúc”, một số tính từ được sử dụng có giá
trị biểu cảm cao: “xanh xanh”, “xanh ngắt”, sự có mặt của các tính từ này khiến
cho mức độ màu xanh ngày càng đậm lại, cả một không gian như thấm đẫm sắc
xanh vời vợi, mênh mông, thăm thẳm. Đó không chỉ là màu xanh cụ thể mà là
màu xanh trừu tượng (màu xanh tâm trạng): màu xanh nhung nhớ, màu xanh cô
đơn, màu xanh của sự chia lìa, buồn khổ và hoàn toàn tuyệt vọng. Chính màu
xanh ấy đã góp phần làm nổi bật tâm trạng cô đơn trĩu nặng của người chinh
phụ.
- Trong bài “Thiên Trường vãn vọng” (Trần Nhân Tông), tìm hiểu 2 câu
cuối, giáo viên nên chú ý hướng học sinh vào khai thác 2 hình ảnh mà tác giả
lựa chọn: “mục đồng” và “cò trắng”: trên những con đường nhỏ quanh co trở về
thôn xóm, từng đàn trâu nối đuôi nhau trong âm thanh tiếng sáo chiều réo rắt,
văng vẳng; trên những cánh đồng quê yên ả, từng đôi cò trắng bay liệng, nối tiếp
hạ xuống. Ngôn ngữ thơ, hình ảnh thơ đầy âm thanh và màu sắc, thanh tao và
dào dạt sức sống. Bút pháp điểm nhãn, lấy động tả tĩnh, cảnh đồng quê thanh
bình, êm đềm, tĩnh lặng và tràn đầy sức sống.
+ Đặc biệt, giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh khai thác triệt để
những từ được coi là “nhãn tự” của bài thơ.
* Ví dụ: Khi dạy bài thơ “Rằm tháng giêng” của Hồ Chí Minh, giáo viên
cần giúp học sinh phát hiện ra “nhãn tự” của bài thơ chính là từ “xuân”.
Người thực hiện: Đỗ Mai Thanh
13
Kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình... ”
+ Phép tu từ: Trong các tác phẩm thơ trữ tình trung đại thường sử dụng
chủ yếu các phép tu từ như: điệp từ, điệp ngữ, nhân hóa, đặc biệt phép đối....
Giáo viên nên hướng dẫn học sinh phát hiện ra các biện pháp nghệ thuật cơ bản
vào với không khí của sự so sánh, đối chiếu.
• Chẳng hạn, khi dạy bài Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh (Tĩnh dạ tứ) của
Lí Bạch giáo viên cần đưa ra cho học sinh các câu hỏi dạng như:
- Ở mỗi câu trong phần dịch thơ có gì khác với bản phiên âm?
Người thực hiện: Đỗ Mai Thanh
14
Kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình... ”
- Từ nào, ý nào đã bị mất trong bản phiên âm đã bị mất khi chuyển sang
bản dịch thơ ?
Phiên âm:
Sàng tiền minh nguyệt quang,
Nghi thị địa thượng sương.
Dịch nghĩa : Ánh trăng sáng đầu giường ,
Ngỡ là sương trên mặt đất.
Dịch thơ : Đầu giường ánh trăng rọi,
Ngỡ mặt đất phủ sương.
Bản dịch dùng 2 động từ "rọi" và " phủ" chỉ biểu hiện được chủ thể là ánh
trăng, nhưng trong nguyên tác, dùng một động từ "nghi" - đã biểu thị được chủ
thể là con người. Chính điều này ở bản dịch thơ làm cho ý vị trữ tình của bài thơ
trở nên mờ nhạt và tạo cảm giác 2 câu đầu chỉ đơn thuần tả cảnh - Thực ra, chủ
thể ở đây vẫn là con người: con người thấy ánh trăng sáng ngỡ là mặt đất phủ
một lớp sương trắng…điều đó cho thấy việc dịch sát ý và đối chiếu giữa phiên
âm, dịch nghĩa, dịch thơ là vô cùng quan trọng trong việc cảm thụ cái hay, cái
đẹp của bài thơ.
nặng trĩu trong tâm hồn người chinh phụ. Mọi địa điểm vị trí của câu thơ trước
đều bị nhòa mờ đi. Chỉ còn lại những hàng dâu nối nhau xanh xanh rồi xanh
ngắt, xanh đến rợn ngợp, xanh đến não nề, nhứt buốt tận đáy lòng. Để đến cuối
cùng người chinh phụ phải thốt lên một lời kêu: “Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn
ai?”. Như vậy đến lúc này tác giả không tả cảnh ngụ tình nữa mà đã chuyển sang
tả trực tiếp vào tâm trạng của người chinh phụ, và dường như đó cũng là chính
tâm sự của tác giả. Từ “sầu” trong câu cuối như đúc kết lại tất cả những cung
bậc tình cảm ở những câu trên. Đó là nỗi buồn biệt li đã trở thành nỗi sầu trong
lòng người vợ trẻ.
+ Cuối cùng một trong những biểu hiện tích cực của đổi mới phương
pháp dạy học trong giờ Đọc – hiểu thơ trữ tình là giảng bình.
Những lời bình giảng, phân tích của giáo viên trong giờ đọc – hiểu văn
bản là rất cần thiết, quan trọng góp phần làm nên dư vị ngọt ngào, khơi gợi cảm
xúc của học sinh khi tiếp nhận các giá trị văn chương. Và có một thực tế là
những giáo viên có những lời bình hay, độc đáo sẽ được học sinh nhớ mãi, ấn
tượng mãi.
Khi bình các thủ pháp nghệ thuật cũng phải chú ý lựa chọn. Trong mỗi
khổ thơ hoặc ngay trong một dòng thơ, tác giả cũng đã sử dụng nhiều thủ pháp
nghệ thuật khác nhau. Nếu bình tất cả thì không có thời gian, dẫn tới tình trạng
san bằng một cách bình quân mọi yếu tố nghệ thuật. Như vậy không thể làm nổi
bật cái hay, cái đẹp của các yếu tố nghệ thuật chủ yếu. Khi nhận ra những tín
hiệu nghệ thuật quan trọng phải tiến hành giảng dạy cho mạch lạc ý tứ mà câu
thơ thể hiện sau đó mới đi bình.
Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh phân tích hết bài thơ “Bạn đến chơi nhà”
của Nguyễn Khuyến, giáo viên có thể cho học sinh so sánh cụm từ “ta với ta”
trong bài thơ này với cụm từ “ta với ta” trong bài thơ “Qua Đèo Ngang” của Bà
huyện Thanh Quan, trên cơ sở đó giáo viên có thể bình về tình cảm của Nguyễn
Khuyến đối với bạn: Nếu “ta với ta” trong bài “Qua Đèo Ngang” là mình ta đối
diện với chính ta, là sự cực tả nỗi cô đơn đang xâm chiếm toàn bộ cõi lòng
người lữ khách thì “ta với ta” trong bài “Bạn đến chơi nhà” ấm áp tình bạn, ta
cho học sinh nắm bắt các nội dung và nghệ thuật cơ bản trong đoạn trích:
- Không gian li biệt nào được mở ra trong khúc ngâm thứ 3 ?
- Từ ngữ sử dụng trong đoạn thơ này có gì đặc biệt ?
- Phép láy và lặp từ có giá trị gợi tả một không gian như thế nào ?
- Thông thường, màu xanh tượng trưng cho điều gì? Tuy nhiên, màu xanh
trong mắt người chia li lại gợi cảm giác nào khác ?
- Phần cuối khúc ngâm có sử dụng một số phép tu từ đặc sắc, em hãy chỉ
ra ?
- Phép điệp nối tiếp, câu hỏi tu từ cùng với chữ “sầu” đặt cuối bài có tác
dụng gì trong việc diễn tẩ tâm trạng người chinh phụ ?
2.2.3. Đối với phần hướng dẫn về nhà:
- Phần hướng dẫn về nhà tuy không được bố trí nhiều thời gian nhưng nó
đòi hỏi người giáo viên cần có sự định hướng chuẩn bị thật chu đáo cho học sinh
về những đơn vị kiến thức nào cần phải học đối với bài vừa học và những đơn vị
kiến thức nới nào phải chuẩn bị cho tiết học sau. Đối với phần nay giáo viên có
thể yêu cầu học sinh sưu tầm các câu thơ, bài thơ cùng chủ đề của chính tác giả
Người thực hiện: Đỗ Mai Thanh
17
Kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình... ”
đó hoặc của những tác giả khác, cùng thời hoặc khác thời để mở rộng kiến thức
về tác phẩm đã học, phần sưu tầm cần ghi riêng vào một quyển sổ tay văn học
- Cho học sinh sưu tầm những ý kiến nhận xét về tác phẩm.
- Yêu cầu học sinh viết đoạn văn cảm thụ về một chi tiết, hình ảnh hay nội
dung tư tưởng trong tác phẩm.
- Hướng dẫn học sinh soạn kĩ bài sau.
Để giờ dạy tác phẩm thơ trữ tình trung đại lớp 7 đạt hiệu quả cao, đòi hỏi
Người thực hiện: Đỗ Mai Thanh
18
Kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình... ”
thức, kỹ năng về tiếng để cảm nhận thuyết giải các văn bản trên cơ sở đã thực
hành tạo lập văn bản.
* Ví dụ: Khi dạy văn bản “Cảm nghĩ trong đêm thanh tĩnh” (Lý Bạch),
giáo viên có thể đưa ra hệ thống câu hỏi như sau:
1. Bài thơ làm theo thể thơ nào ? Giống với thể thơ bài thơ nào trong
phần thơ Đường luật của các tác giả Việt Nam ? (Tích hợp thơ Đường luật Việt
Nam đã học trước đó, văn bản "Phũ giá về kinh").
2. Em có nhận xét gì về nghĩa cặp từ: "Đê - Cử" ? (Tích hợp từ trái
nghĩa).
4. Nhìn trăng nhớ quê, nhà thơ đã thể hiện đề tài nào quen thuộc trong
thơ cổ ? (Vọng nguyệt hoài hương). (Tích hợp dọc).
5. Văn bản này là sự kết hợp của những phương thức biểu đạt nào ?
Trong sự kết hợp này phương thức nào là phương thức chính, phương thức nào
là phương tiện ?
• Văn bản : Bài ca nhà tranh bị gió thu phá (Đỗ Phủ)
1. Văn bản này có thể chia làm mấy phần ? Xác định phương thức biểu
đạt của mỗi phần ? (Tích hợp ngang Tập làm văn).
2. Đoạn 1, tìm những từ đồng âm với từ "thu", "bay", "tranh" ?
3. Đoạn này câu nào là câu tả , câu nào là câu kể ?
4. Đoạn 2, tìm những từ kể cách cướp giật tranh ? Nêu 1 vài từ đồng âm
với từ "xô, cắp " (Tích hợp từ đồng âm).
2.2.5. Kết hợp với sử dụng công nghệ thông tin trong tiết dạy như: Việc sử
dụng công nghệ thông tin trong tiết dạy về tác phẩm thơ trữ tình trung đại góp
2.3. Kết quả.
Sau một năm tiến hành thực nghiệm chuyên đề về một số biện pháp nâng
cao chất lượng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở môn Ngữ
văn 7 - Trường THCS Tiên Lãng, đặc biệt là qua các bài kiểm tra khảo sát, kiểm
tra định kỳ, kiểm tra miệng, kiểm tra 15’ trong các học kỳ đối với học sinh lớp
7B, tôi đã thu được những kết quả sau:
- Kết quả thực tế:
+ Đa số học sinh đã chủ động tích cực học và có nhiều sáng tạo trong việc
cảm thụ tác phẩm thơ trữ tình trung đại Việt Nam. Với việc xây dựng hệ thống
câu hỏi khai thác kiến thức trong giảng dạy tác phẩm văn học các em đã chủ
động thâm nhập tác phẩm và cảm thụ tốt hơn. Đồng thời còn tự phát hiện ra
điểm yếu của bản thân mình để tự sửa chữa.
+ Học sinh có ý thức trong việc tìm hiểu và cảm thụ văn bản. Đó chính là
nâng cao hứng thú học tập bộ môn của học sinh.
- Kết quả học các tác phẩm văn học:
Đạt chỉ tiêu đề ra từ đầu năm học. Cụ thể như sau:
Tổng
Giỏi
Khá
TB
Yếu
Kém
Lớp
13
40,6
15
46,9
0
0
0
0
Người thực hiện: Đỗ Mai Thanh
20
Kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình... ”
- Kết quả chất lượng bộ môn Ngữ văn:
Tổng
Giỏi
Khá
7B
32
3
9,4
12
37,5
15
46,9
2
6,3
0
0
- So sánh với kết quả học kỳ II năm học trước.
* Kết quả bộ môn Ngữ văn năm học 2012- 2013
Lớp
7B
SL
%
32
3
9,4
10
31,3
16
50
3
9,4
0
0
* Kết quả bộ môn Ngữ văn năm học 2013 - 2014
Lớp
%
SL
%
32
3
9,4
11
34,4
16
50
2
6,3
0
0
- Chất lượng mũi nhọn:
+ Đạt 01 giải khuyến khích cấp Huyện (Em Phạm Thị Như Quỳnh).
- Có kế hoạch kiểm tra phần chuẩn bị bài của học sinh.
- Cần tôn trọng ý kiến học sinh, tạo điều kiện, dẫn dắt học sinh thể hiện quan
điểm cá nhân của mình.
- Thực hiện tốt các bước lên lớp đối với việc giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình
trung đại.
* Với việc áp dụng đề tài này vào thực tế giảng dạy bộ môn Ngữ văn 7 trong
năm học 2013 – 2014 bước đầu tôi đã thu được một số những thành công nhất
định. Cụ thể như sau:
- Chất lượng học tập bộ môn ngữ văn của học sinh so với đợt khảo sát đầu
năm học được nâng lên rõ rệt. Có một học sinh đạt giả khuyến khích cấp huyện, 3
học sinh đạt học sinh giỏi cấp trường, 12 học sinh đạt học sinh khá bộ môn ngữ
văn. Tỉ lệ yếu kém giảm mạnh so với đầu năm xuống chỉ còn 2 em.
- Ý thức học tập của học sinh đối với bộ môn ngữ văn đã có sự thay đổi.
Nhiều học sinh tỏ ra thích, say mê, có nhu cầu khám phá, thưởng thức cái hay, cái
đẹp trong những văn bản thơ trữ tình trung đại đã học. Đặc biệt hơn nữa là nhiều
em đã trở nên yên thích, có tình cảm đặc biệt đối với các tác phẩm thơ trữ tình mà
trước đây các em đã từng coi nhẹ và bỏ qua giá trị của nó trong từng lớp ngôn từ.
* Bên cạnh những thành công nhất định mà tôi thu nhận được trong quá
trình thực hiện đề tài này, vẫn còn những mặt hạn chế nhất định mà bản thân tôi và
các đồng nghiệp gặp phải:
- Kết quả thi học kỳ chất lượng chưa cao do việc nắm bắt kiến thức của học
sinh quá mờ nhạt, nhiều học sinh chưa có ý thức ôn bài trước khi kiểm tra.
Người thực hiện: Đỗ Mai Thanh
22
Kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình... ”
- Nhiều học sinh vẫn tỏ ra không yêu thích môn ngữ văn, có tư tưởng học
các biện pháp để nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình trung đại
Việt Nam để giáo viên các trường có cơ hội giao lưu, học hỏi và trao đổi kinh
nghiệm giảng dạy với nhau.
Người thực hiện: Đỗ Mai Thanh
23
Kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình... ”
Tôi xin chân thành cảm ơn và tiếp thu ý kiến !
Tiên Lãng, ngày 10 tháng 5 năm 2014
Người viết
Đỗ Mai Thanh
Người thực hiện: Đỗ Mai Thanh
24
Kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao chất lượng giảng dạy tác phẩm thơ trữ tình... ”
IV. TÀI LIỆU THAM KHẢO - PHỤ LỤC
1. Danh mục tài liệu tham khảo:
STT
TÊN TÀI LIỆU
1
9
Những bài văn mẫu 7 (Tập 1)
10
Bồi dưỡng nâng cao Ngữ văn 7.
Người thực hiện: Đỗ Mai Thanh
25