- Họ và tên: Lê Thị Thanh Thúy.
- Đơn vị công tác: Trường tiểu học Minh Đức.
- Tên đề tài: Một số biện pháp nâng cao chất lượng
trong dạy và học toán có lời văn lớp 2.
1
A. Phần mở đầu :
I –Bối cảnh của đề tài :
Bậc Tiểu học được coi là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục Quốc
dân.Vì thế giáo dục có vai trò rất quan trọng đó là nhằm giúp học sinh hình
thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mĩ. Bước đầu chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học các bậc học
cao hơn.Vì vậy, việc nâng cao chất lượng dạy, học ở môn Toán nói chung giải
toán có lời văn nói riêng là điều vô cùng cần thiết.
Từ khi nhận nhiệm vụ giảng dạy lớp Hai đến nay, trong quá trình giảng
dạy tôi nhận thấy việc giải toán có lời văn giáo viên và cả học sinh vẫn còn lúng
túng. Cụ thể trong năm học 2010-2011 vừa qua đa số học sinh còn nhầm lẫn rất
nhiều khi thực hiện giải toán có lời văn. Từ đó dẫn đến hiệu quả chất lượng
không như mong muốn.
II. Lí do chọn đề tài :
Xuất phát từ định hướng đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới đánh
giá kết quả học Toán của học sinh Tiểu học.
Cùng với các môn học khác ở bậc Tiểu học, môn Toán có vai trò vô cùng
quan trọng, nó giúp cho học sinh nhận biết được số lượng và hình dạng không
gian của thế giới hiện thực, nhờ đó mà học sinh có những phương pháp, kĩ năng
nhận thức một số mặt của thế giới xung quanh. Nó góp phần rèn luyện phương
pháp suy luận, suy nghĩ đặt vấn đề và giải quyết vấn đề; góp phần phát triển ốc
thông minh, suy nghĩ độc lập, linh động, sáng tạo cho học sinh. Mặt khác các
kiến thức, kĩ năng môn Toán ở Tiểu học còn ứng dụng nhiều trong đời sống thực
nhầm góp phần nâng cao kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 2 nói
riêng và trong môn toán 2 nói chung. Để từ đó, các em có thể thành thạo hơn với
các giải toán có lời văn khó và phức tạp hơn ở các lớp trên.
III. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu :
- Vấn đề mà đề tài này đề cập đến là những khó khăn mà học sinh lớp Hai
thường gặp khi giải các bài toán có lời văn.Thực hiện từ năm học 2010 - 2011.
- Đề tài nhằm nghiên cứu những vướng mắc mà học sinh lớp Hai thường
gặp khi giải các bài toán có lời văn và biện pháp khắc phục giúp học sinh rèn kĩ
năng học Toán.
IV. Mục đích nghiên cứu :
3
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng của vấn đề : Trình độ nhận thức
của học sinh không đồng đều. Một số học sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm
tắt, đặt đề toán còn hạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu kĩ bài toán, lựa
chọn phép tính còn sai, chưa bám sát vào yêu cầu bài toán để tìm lời giải thích
hợp với các phép tính. Kĩ năng tính nhẩm với các phép tính (hàng ngang) và kĩ
năng diễn đạt bằng lời còn hạn chế. Một số em tiếp thu bài một cách thụ động,
ghi nhớ bài còn máy móc nên còn chóng quên các dạng bài toán. Vì thế phải có
phương pháp khắc sâu kiến thức để từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm giúp học
sinh có thể giải các bài toán được tốt và thông qua đó góp phần nâng cao hiệu
quả dạy và học Toán lớp Hai.
V. Điểm mới trong kết quả nghiên cứu :
- Hệ thống lại các kiến thức về giải toán có lời văn mà học sinh đã được
học ở lớp Hai.
- Rèn cho học sinh kĩ năng xác định các dạng toán cơ bản đã học từ đó
giúp học sinh tự tin hơn khi giải các bài toán có lời văn.
PHẦN NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận :
những đức tính của con người mới. Có ý thức vượt qua khó khăn, đức tính cẩn
thận, làm việc có kế hoạch, thói quen xét đoán có căn cứ, thói quen tự kiểm tra
kết quả công việc mình làm óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo, giúp học sinh vận
dụng các kiến thức, rèn luyện kĩ năng tính toán, kĩ năng ngôn ngữ. Đồng thời
qua việc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện ra những
ưu điểm, thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy để giúp các em phát
huy những mặt được và khắc phục những mặt thiếu sót. “ Kiến thức ở trường
được coi như những viên sỏi và trẻ em nhận nó như một món quà ở nhà trường,
chứ không buộc phải nhận nó như một nhiệm vụ”.(Tạp chí GD tập 42 -2010 )
II. Thực trạng của vấn đề :
1.Thuận lợi :
Nội dung sách giáo khoa Toán Hai được soạn thảo hiện đại và cập nhật sự
phát triển của khoa học công nghệ, kinh tế, tăng cường thực hành vận dụng, gắn
bó với thực tiễn Việt Nam. Hơn nữa nội dung chương trình và sách có tính
thống nhất cao, phù hợp với trình độ phát triển chung của đa số học sinh, tạo cơ
5
hội và điều kiện học tập, phát triển năng lực, góp phần phát hiện và bồi dưỡng
những học sinh có năng lực đặc biệt.
Giáo viên vững về chuyên môn, luôn có ý thức tìm tòi, sáng tạo, nhiệt tình
trong công tác giảng dạy. Các em học sinh phần lớn ham hiểu biết, có ý thức
trong học tập và rèn luyện tu dưỡng đạo đức .
2.Khó khăn :
Trong những năm học vừa qua, qua giảng dạy ở trên lớp và dựa trên cơ sở
bài thi của học sinh. Nhìn chung, kết quả giải bài toán có lời văn đạt tỉ lệ rất
thấp. Qua thực tế giảng dạy và thảo luận cùng đồng nghiệp, tôi nhận thấy:
+ Việc đọc đề, tìm hiểu đề đang còn nhiều khó khăn đối với học sinh lớp 2. Vì
kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao, nên các em đọc được đề toán và
13 em = 48.2%
Từ thực trạng trên, để công việc đạt hiệu quả tốt hơn, giúp các em học sinh có
hứng thú trong học tập, nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, tôi đã
mạnh dạn cải tiến nội dung, phương pháp trong giảng dạy như sau:
III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề :
Để giúp cho học sinh có kĩ năng thành thạo trong việc giải toán thì chúng ta
không chỉ hướng dẫn học sinh trong giờ toán mà một yếu tố không kém phần
quan trọng đó là luyện kĩ năng nói trong giờ Tiếng việt.
* Chúng ta đã biết, học sinh lớp 2 còn thụ động, rụt rè trong giao tiếp.
Chính vì vậy , để các em mạnh dạn tự tin khi phát biểu, trả lời người giáo viên
cần phải: luôn luôn gần gũi, khuyến khích các em giao tiếp, tổ chức các trò chơi
học tập, được trao đổi, luyện nói nhiều trong các giờ Tiếng việt giúp các em có
vốn từ lưu thông; trong các tiết học các em có thể nhận xét và trả lời tự nhiên,
nhanh nhẹn mà không rụt rè, tự ti. Bên cạnh đó, người giáo viên cần phải chú ý
nhiều đến kĩ năng đọc cho học sinh: Đọc nhanh, đúng, tốc độ, ngắt nghỉ đúng
chỗ giúp học sinh có kĩ năng nghe, hiểu được những yêu cầu mà các bài tập nêu
ra.
Tóm lại: Để giúp học sinh giải toán có lời văn thành thạo, tôi luôn luôn
chú ý rèn luyện kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cho các học sinh trong các giờ học
Tiếng Việt, bởi vì học sinh đọc thông, viết thạo là yếu tố “đòn bẩy” giúp học
sinh hiểu rõ đề và tìm cách giải toán một cách thành thạo.
* Theo chương trình SGK mới đến tuần 23 học sinh lớp 1 mới tập giải
toán có lời văn. Ở lớp 1 yêu cầu học sinh nhìn tranh nêu phép tính, tập nêu tiếp
câu hỏi để hoàn chỉnh đề toán, tập viết câu lời giải ở dạng đơn giản và chưa yêu
cầu lời giải hay, chính xác. Trong khi thời gian dành cho cả tiết học là không
quá 40 phút, với nhiều yêu cầu kiến thức khác nhau nên các em chưa được rèn
luyện nhiều. Vì vậy, khi lên lớp 2 những tuần đầu khi học đến phần giải toán có
11 bưu ảnh.
Bình nhiều hơn An: 3 bưu ảnh.
Bình có:
…bưu ảnh?.
- Tôi cho học sinh đọc thầm, đọc miệng tóm tắt rồi nêu đề toán bằng lời
theo yêu cầu.
Học sinh: An có 11 bưu ảnh. Bình có số bưu ảnh nhiều hơn số bưu ảnh của
An là 3 cái. Hỏi Bình có tất cả có bao nhiêu cái bưu ảnh?
Sau đó cho các em luyện cách trả lời miệng:
Số bưu ảnh của Bình có là: 11 + 3 = 14 (bưu ảnh)
Rồi tự trình bày bài giải:
Bài giải
Số bưu ảnh của Bình có là:
11 + 3 = 14 (bưu ảnh)
Đáp số: 14 bưu ảnh.
8
3. Áp dụng qua các tiết dạy.
Chương trình Toán lớp 2 mới thường được cho dưới các dạng bài tập sau:
+ Lớp 2A có 15 bạn gái, số học sinh trai của lớp ít hơn số học sinh gái 3
bạn. Hỏi lớp 2A có bao nhiêu học sinh trai?
+ Tháng trước tổ em được 16 điểm mười, tháng này tổ em được nhiều hơn
tháng trước 5 điểm mười. Hỏi tháng này tổ em được bao nhiêu điểm mười?...
Nhưng dù ở hình thức nào, dạng nào tôi cũng tập trung luyện cho học sinh
các kĩ năng: Tìm hiểu nội dung bài toán, tìm cách giải bài toán và kĩ năng trình
+ Bài toán cho biết gì? ( Vườn nhà Mai có 17 cây cam)
+ Bài toán còn cho biết gì nữa? (Vườn nhà Hoa có ít hơn vườn nhà Mai 7
cây)
+ Bài toán hỏi gì? (Vườn nhà Hoa có bao nhiêu cây cam)
+ Muốn biết vườn nhà Hoa có mấy cây cam em làm sao? (Lấy số cây cam
vườn nhà Mai trừ đi số cây cam vườn nhà Hoa)
+ Ta làm phép tính gì? ( Trừ)
+ Lấy mấy trừ đi mấy? (17 – 7)
+ 17 – 7 bằng bao nhiêu? ( 17 – 7 = 10 )
b. Đặt câu lời giải thích hợp.
Thực tế giảng dạy cho thấy việc đặt câu lời giải phù hợp là bước vô cùng
quan trọng và khó khăn nhất đối với học sinh lớp 2. Chính vì vậy việc hướng
dẫn học sinh lựa chọn và đặt câu lời giải hay cũng là một khó khăn lớn đối với
người dạy. Tuỳ từng đối tượng học sinh mà tôi lựa chọn các cách hướng dẫn
sau:
- Cách 1: (Được áp dụng nhiều nhất và dễ hiểu nhất): Dựa vào câu hỏi
của bài toán rồi bỏ bớt từ đầu “hỏi” và từ cuối “mấy” rồi thêm từ “là” để có câu
lời giải: “Vườn nhà Hoa có số cây cam là:”
- Cách 2: Nêu miệng câu hỏi: “Vườn nhà Hoa có mấy cây cam?” Để
học sinh trả lời miệng: “Vườn nhà Hoa có số cây cam là:” rồi chèn phép tính
vào để có cả bước giải (gồm câu hỏi, câu lời giải và phép tính):
Vườn nhà Hoa có số cây cam là:
17 – 7 = 10 (cây cam)
Đáp số: 10 (cây cam).
10
Tóm lại: Tuỳ từng đối tượng, từng trình độ học sinh mà hướng dẫn các
em cách lựa chọn, đặt câu lời giải cho phù hợp.
Bên cạnh việc hướng dẫn cách trình bày như trên, tôi cũng luôn luôn nhắc
nhở, rèn luyện cho học sinh kĩ năng viết chữ - viết số đúng mẫu - đẹp. Việc kết
hợp giữa chữ viết đẹp và cách trình bày đúng cũng là một yếu tố góp phần tạo
nên sự thành công trong vấn đề giải toán có lời văn của các em.
Cùng với việc áp dụng các biện pháp ngay từ đầu năm học và áp dụng
trực tiếp các biện pháp vào bài dạy đầu tiên về giải toán có lời văn, tôi đã cho
học sinh làm một số dạng bài tập giải toán có lời văn như sau:
Ví dụ 1: Nam có 6 lá cờ, Hùng có 9 lá cờ. Hỏi cả hai bạn có bao
nhiêu lá cờ?
Không cần hướng dẫn, học sinh lớp tôi thực hiện được ngay cách làm như
sau:
Tóm tắt
Namcó:
Bài giải
6 lá cờ.
Hùng có:
Cả hai bạn có số lá cờ là:
9 lá cờ.
6 + 9 = 15 ( lá cờ)
Cả hai bạn : … lá cờ?
Đáp số: 15 lá cờ.
9 bài.
- Số bài trung bình:
5 bài.
- Số bài yếu:
Không có.
4. Khích lệ học sinh tạo hứng thú khi học tập.
12
Đặc điểm chung của học sinh tiểu học là thích được khen hơn chê, hạn chế
chê các em trong học tập, rèn luyện . Tuy nhiên, nếu ta không biết kết hợp tâm
lý từng học sinh mà cứ quá khen sẽ không có tác dụng kích thích. Đối với những
em chậm tiến bộ, thường rụt rè, tự ti, vì vậy tôi luôn luôn chú ý nhắc nhở, gọi
các em trả lời hoặc lên bảng làm bài. Chỉ cần các em có một “tiến bộ nhỏ” là tôi
tuyên dương ngay, để từ đó các em sẽ cố gắng tiến bộ và mạnh dạn, tự tin hơn.
Đối với những em học khá, giỏi phải có những biểu hiện vượt bậc, có tiến bộ rõ
rệt tôi mới khen.Chính sự khen, chê đúng lúc, kịp thời và đúng đối tượng học
sinh trong lớp đã có tác dụng khích lệ học sinh trong học tâp.
Ngoài ra, việc áp dụng các trò chơi học tập giữa các tiết học cũng là một
yếu tố không kém phần quan trọng giúp học sinh có niềm hăng say trong học
tập, mong muốn nhanh đến giờ học và tiếp thu kiến thức nhanh hơn, chắc hơn.
Vì chúng ta đều biết học sinh tiểu học nói chung, học sinh lớp hai nói riêng có
trí thông minh khá nhạy bén, sắc sảo, có óc tưởng tượng phong phú. đó là tiền
đề tốt cho việc phát triển tư duy toán học nhưng các em cũng rất dễ bị phân tán,
rối trí nếu bị áp đặt, căng thẳng hay quá tải. Hơn nữa cơ thể của các em còn đang
học tôi lại rút ra được một vài kinh nghiệm sau:
- Người giáo viên phải thực sự có lòng nhiệt tình, say mê với nghề nghiệp
với lương tâm trách nhiệm của người thầy.
- Trong quá trình giảng dạy phải luôn nắm bắt, đúc rút những vướng mắc,
khó khăn thực tế ở lớp mình dạy, để từ đó nghiên cứu tìm ra hướng giải quyết
tốt nhất.
- Mỗi biện pháp giáo dục của các giáo viên phải được thực hiện đúng thời
điểm, đúng nội dung ở từng bài học.
- Không nên quá phụ thuộc vào sách giáo viên, vì sách giáo viên chỉ là tài
liệu hướng dẫn – tham khảo, không thể áp dụng đại trà với mọi đối tượng học
sinh trong lớp được.
- Cần quan tâm động viên, khuyến khích, giúp đỡ các em vượt qua mọi khó
khăn để học tập tốt hơn.
- Trong quá trình hướng dẫn giải toán có lời văn ( Lớp 2) giáo viên cần lưu ý
hơn tới việc hướng dẫn cho các em đặt câu lời giải cho hay, cho xúc tích.Vì việc
thực hiện phép tính các em đều có thể nêu ngay sau khi đọc xong đề toán.
- Để giúp học sinh có kĩ năng giải toán thành thạo, người giáo viên cũng cần
chú ý nhiều đến kĩ năng: nghe – nói – đọc – viết trong môn Tiếng Việt. Luyện kĩ
14
năng hỏi – đáp giúp các em có vốn từ ngữ lưu thông hơn, giúp các em dễ dàng
đạt câu lời giải cho bài toán.
- Phải cố gắng khắc phục các sai lầm của các em trong mỗi bài, mỗi phần,
mỗi dạng toán, tránh để các em sai lầm dồn lại sẽ khó giải quyết.
- Điều rất quan trọng là sự mềm mỏng, kiên trì uốn nắn học sinh của giáo viên
trong mọi lúc của giờ học.
- Trong từng tiết học, người giáo viên cũng cần phải tìm ra nhiều biện pháp,
nhiều hình thức hoạt động học tập như: Làm việc chung với lớp làm việc cá
nhân, làm việc theo nhóm và tập trung chú ý tới cả ba đối tượng để giúp các em
Sáng kiến này mang ý nghĩa thiết thực giúp giáo viên tự học tập và có
kinh nghiệm trong dạy toán nói chung và trong việc dạy giải toán có lời văn nói
riêng. Đồng thời nó còn giúp cho giáo viên từng bước nâng cao tay nghề của
mình.
IV.Những kiến nghị, đề xuất :
- Với ngành và nhà trường: Thường xuyên tổ chức những chuyên đề về giải
toán có lời văn để cho tập thể giáo viên chúng tôi được nghiên cứu, học tập lẫn
nhau.
- Với giáo viên: Là giáo viên giảng dạy, tôi mong muốn tất cả chúng ta khi dạy
các dạng toán này phải có sự kiên trì và thời gian không phải một tuần, hai tuần
là học sinh sẽ có khả năng giải toán tốt mà đòi hỏi phải có sự tập luyện, rèn giũa
trong thời gian dài, trong suốt quá trình học tập. Quý thầy cô hãy thử nghiệm lại
những gì mà tôi đã trình bày trong kinh nghiệm này.
Rất mong sự góp ý của Hội đồng khoa học. Tôi xin chân thành cảm ơn.
Tài liệu tham khảo
16
1. Chuyên đề Giáo dục Tiểu học , 2005
2. Đổi mới phương pháp dạy học ở Tiểu học, Nhà xuất bản Giáo dục, 2006.
3. Nguyễn Bá Kim, Phương pháp dạy học môn Toán, Nhà xuất bản Đại học Sư
phạm Hà Nội, 2002.
4. Sách giáo viên Toán 2, Nhà xuất bản Giáo dục, 2003.
5. Sách giáo khoa Toán 2, Nhà Xuất bản Giáo dục, 2003.
6. Thế giới trong ta – CĐ 38+39, 2005.
17
II. Thực trạng của vấn đề
4
III. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
6
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
12
Phần kết luận
I. Những bài học kinh nghiệm
13
II. Ý nghĩa của sáng kiến kinh nghiệm
14
III. Khả năng ứng dụng, triển khai
14
IV. Những kiến nghị, đề xuất
15
18