BẢO HIỂM THƯƠNG MẠI Ở MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
MỤC LỤC
1.
Lịch sử hình thành và phát triển BHTM
Khái niệm bảo hiểm đã hình thành từ lâu và ngành bảo hiểm trên
thế giới đã có lịch sử phát triển khá lâu dài. Trước công nguyên, ở Ai
Cập, những người thợ đẽo đá đã biết thành lập “quỹ tương trợ” để giúp
đỡ nạn nhân trong các vụ tai nạn. Từ đó, các hoạt động mang tính chất
của bảo hiểm phát triển dần theo sự phát triển của xã hội loài người.
Bắt đầu bằng hình thức các quĩ dự trữ, tương trợ đơn giản, các loại hình
bảo hiểm dần dần được hình thành và phát triển.
Bảo hiểm hàng hải được coi là có lịch sử phát triển sớm nhất
trong các ngành bảo hiểm còn tồn tại đến ngày nay, và nó đã đặt nền
móng cho sự phát triển của bảo hiểm sau này. Ban đầu là các hợp đồng
bảo hiểm giữa các thương gia và chủ tàu tại Ý, Bản hợp đồng bảo
hiểm cổ nhất còn lưu lại được phát hành tại Genoa - Italia vào năm
ngày 23/10/1347. Sau đó, cùng với "cuộc cách mạng thương mại"
vào thế kỷ 14, 15 thúc đẩy sự mở rộng vận tải hàng hải, bảo hiểm
hàng hải cũng phát triển mạnh mẽ. Vào thời gian này, nhu cầu giao
thương giữa Châu Âu và các lục điạ tăng mạnh và hầu hết việc đi lại
được thực hiện bằng đường biển. Những thỏa thuận bảo hiểm hàng hải
xuất hiện đảm bảo bồi thường cho các khách hàng nếu tàu của họ gặp
rủi ro. Từ Italia, bảo hiểm phát triển sang Anh một cách nhanh
chóng và đầy đủ hơn. Nền kinh tế vô cùng thịnh vượng của Anh trong
giai đoạn nửa sau của thế kỷ 17 đã tạo ra một nhóm người giàu đông
đảo. Họ ngày càng ưa thích những sản phẩm xa xỉ đến từ các lục địa xa
London kéo dài 5 ngày (năm 1666), những công ty bảo hiểm hoả hoạn
đầu tiên đã xuất hiện ở Anh như: The Fire Office, Friendly Society Fire
Office. Sau đó, một loạt các công ty bảo hiểm cháy khác tiếp tục ra đời
ở Anh: Amicable (1696), Sun (1713), Union (1714), London (1714)…
Sau đó, bảo hiểm cháy mở rộng ra các nước khác trên lục địa Châu Âu:
ở Đức năm 1667, Pháp năm 1686. Sang thế kỷ XVIII, nhiều công ty
bảo hiểm hoả hoạn nổi tiếng ở Mỹ cũng ra đời.
Bảo hiểm nhân thọ ra đời khá sớm sau bảo hiểm hàng hải
nhưng do thiếu cơ sở khoa học nên bị nhà thờ cấm đoán. Hợp đồng
bảo hiểm nhân thọ đầu tiên xuất hiện tại Anh vào năm 1583, một
thuyền trưởng nảy ra ý kiến yêu cầu công ty bảo hi ểm phi nhân
thọ đang bảo hiểm cho con tàu và hàng hoá của ông hãy bán thêm
hợp đồng bảo hiểm cho sinh mạng của mình . Sự kiện này khiến
các công ty bảo hiểm phi nhân thọ thấy rằng: “Con người cũng có
thể được bảo hiểm như tàu bè và hàng hoá”. Từ đó Các văn phòng
bán bảo hiểm nhân thọ lần lượt ra đời. Đến thế kỷ 17, Ferma,
Pascal và sau đó là Bernouli khai sinh và phát triển xác suất thống kê
toán. Cơ sở khoa học của bảo hiểm đã được hình thành.
•
Năm 1759, công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ra
đời ở châu Mỹ nhưng chỉ bán các hợp đồng bảo hiểm
cho các con chiên trong nhà thờ của họ.
•
Năm 1762, công ty bảo hiểm nhân thọ Equitable là
công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên ở nước Anh áp
dụng phương pháp tính phí bảo hiểm dựa trên yếu tố
tỷ lệ tử vong.
nhân thọ hỗn hợp, Bảo hiểm trợ cấp hưu trí, mỗi công ty bảo
hiểm đều thiết kế những sản phẩm mang những đặc thù riêng để
đáp ứng nhu cầu tài chính của từng khu vực dân cư và phù h ợp v ới
chính sách kinh tế, xã hội của từng quốc gia. Người ta cũng th ường
có những điều khoản bổ sung trong đó phạm vi bảo hiểm là tai
nạn hoặc bệnh tật, ốm đau, các bệnh hiểm nghèo xảy ra trong
thời hạn bảo hiểm của hợp đồng chính (là một trong bốn dạng
trên). Trên thế giới, hiện nay doanh số của bảo hiểm nhân th ọ
chiếm trên 50% doanh số của ngành bảo hiểm.
Nhóm 5 | BHTM 1
4
Nhóm 5 | Bảo hiểm thương mại 1
4
2.
2.1.
BHTM ở một số quốc gia trên thế giới
Các Doanh nghiệp BHTM, Trung gian BH và Tái BH ở một số
quốc gia
Ngày nay BHTM đang giữ một vị trí rất quan trọng trong nền
kinh tế nhiều quốc gia, đặc biệt ở các nước đang phát tri ển. Theo
tạp chí SIGMA số 4/1997 của SWISS: Nếu tính bình quân/năm,
người Nhật đã chi tiêu nhiều nhất về bảo hiểm: 5.088USD/người
5
Nhóm 5 | Bảo hiểm thương mại 1
5
•
•
•
hiểm tại nước Anh và trên toàn thế giới. Lloyd's không
phải là một công ty mà là một thị trường bảo hiểm
gồm nhiều thành viên, thực hiện giao dịch bảo hiểm
thông qua 66 nghiệp đoàn, nó hoạt động như một
sàn giao dịch. Liên đoàn bảo hiểm Lloyd’s có ảnh hưởng
lớn đến thị trường bảo hiểm toàn thế giới về quy định các
quy tắc, điều kiện bảo hiểm và số lượng doanh thu.
Lloyd’s có một mạng lưới đại lý bảo hiểm lành nghề phục
vụ đắc lực tại hầu khắp các cảng khẩu quan trọng trên thế
giới.
Các Đại lý Lloyd’s: Là những đại lý do Liên đoàn Bảo
hiểm Lloyd’s của Anh quốc chỉ định và xây dựng thành
một mạng lưới đại lý tại hầu hết các cảng khẩu quan trọng
trên thế giới. Họ thường được tuyển chọn từ những người
thành thạo, giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực vận tải, giao
nhận và bảo hiểm. Đại lý Lloyd’s được giao nhiệm vụ theo
của Lloyd's hiện đã vươn sang hầu hết các lĩnh v ực
khác như hàng không, thiên tai, tai nạn nghề nghiệp,
động lực... Các công ty hàng đầu thế giới trong các lĩnh
vực sản xuất ôtô, dược phẩm, hàng không, ngân hàng,
điện tử, chế tạo hiện đều là khách hàng của Lloyd's.
Chẳng hạn, người mẫu Petra Morgan trả mỗi năm
86.000 USD để bảo hiểm... bộ ngực của mình. Nếu bộ
ngực bị tổn thương hoặc biến dạng, dẫn đến việc ph ải
chấm dứt sự nghiệp, cô sẽ được bồi thường 16 triệu
USD. Hay bảo hiểm lên tới 10 triệu bảng Anh (khoảng
14 triệu USD) cho… cái lưỡi của một chuyên gia nếm
cà phê. Lloyd's còn bảo hiểm cho các căn cứ quân sự
của Mỹ ở nước ngoài trước nguy cơ bị khủng bố tấn
công.
Thế giới hiện đại ngày một xuất hiện nhiều biến
động, biến đổi khí hậu khiến thiên tai xảy ra th ường
xuyên hơn, các bệnh dịch mới xuất hiện nhiều hơn,
chính trị nhiều khu vực cũng trở nên rối ren thậm chí
còn liên quan tới cả khủng bố, chưa kể đến ảnh hưởng
của mặt trái công nghệ.
Lĩnh vực bảo hiểm của Lloyd's rất phong phú, hầu như
có mặt ở khắp mọi nơi.
Tìm hiểu về một doanh nghiệp bảo hiểm nổi bật tại Anh: Tập
đoàn Prudential
• Thành lập năm 1848 tại Luân Đôn, Vương Quốc Anh, Tập
đoàn Prudential là một trong những tập đoàn tài chính
hàng đầu thế giới, cung cấp các sản phẩm bảo hiểm nhân
thọ, dịch vụ tài chính và quản lý tài sản tại Vương quốc
Anh, Mỹ và Châu Á. Với hơn 165 năm lắng nghe và thấu
hiểu nhu cầu của khách hàng, Prudential luôn nằm trong
thế vượt trội.
Tại Vương quốc Anh, Prudential là Công ty Bảo hiểm
Nhân thọ và Quỹ Hưu trí hàng đầu cung cấp các sản phẩm
tài chính cá nhân đa dạng.
Mỹ
Ngành công nghiệp bảo hiểm của Hoa Kỳ được xây dựng trên
mô hình bảo hiểm Anh. Vào năm 1735, Công ty bảo hiểm đầu tiên của
Hoa Kỳ đã ra đời ở Charleston, thủ phủ bang South Carolina. Vào năm
1759, Hội nghị Giáo hội Trưởng lão Philadelphia đã quyết định bảo trợ
cho tập đoàn bảo hiểm nhân thọ đầu tiên của Hoa Kỳ. Tập đoàn này
hoạt động vì lợi ích của các mục sư và tín đồ. Ngày 22/5/1761, tập
đoàn này đã ký kết được hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đầu tiên với công
chúng Mỹ.
Mặc dầu vậy, mãi đến 80 năm sau (tức là sau năm 1840) dịch vụ
bảo hiểm nhân thọ Mỹ mới thật sự cất cánh. Chìa khóa dẫn đến thành
công chính là nhờ các Công ty bảo hiểm đã hạn chế được những sự
chống đối từ các nhóm tôn giáo.
Khi Mỹ chuyển mình từ một thuộc địa xa bờ của Anh trở thành
một thế lực độc lập và từ một nước nông nghiệp thành nước công
nghiệp phát triển, ngành kinh doanh bảo hiểm của nước này cũng phát
triển mạnh theo hướng từ một vài Công ty ban đầu trở thành một ngành
công nghiệp quy mô lớn.
Một Doanh nghiệp BHTM nổi bật tại Mỹ: Tập đoàn Chubb
•
Tháng Giêng năm 2016, Tập đoàn ACE mua lại Tập đoàn
Nhóm 5 | BHTM 1
Tập đoàn Chubb không đề cao quy mô công ty, và chỉ coi
đó là một thước đo cho những gì công ty đạt được. Tại lễ
kỷ niệm 75 năm thành lập tập đoàn vào năm 1957, Hendon
Chubb – người đã cùng anh trai Percy lãnh đạo tập đoàn từ
năm 1895 – đã phát biểu, “ "Tôi cho rằng có lẽ hiện nay
các doanh nghiệp Mỹ đang có xu hướng quá coi trọng quy
mô của công ty, trong khi đối với tôi, đó chỉ nên là một sản
phẩm phụ của thành quả lao động."
Tập đoàn ACE
ACE Limited được thành lập năm 1985 trước tình trạng
đang có khủng hoảng thừa về bảo hiểm trách nhiệm và bảo
hiểm nhà quản lý trên thị trường bảo hiểm Hoa Kỳ. Nhận
biết được nhu cầu, một số nhân vật tiên phong đã đón đầu
và giúp hình thành một liên doanh góp vốn để thành lập
một loại hình công ty bảo hiểm mới. Những nhà tài trợ
sáng lập này đã lập ra một danh sách gồm 34 công ty nổi
tiếng từ nhiều ngành khác nhau, bao gồm: chăm sóc sức
khỏe, dược phẩm, sản xuất, vận tải, tiện ích, năng lượng,
ngân hàng và công nghiệp ô tô.
Nhóm 5 | BHTM 1
9
Nhóm 5 | Bảo hiểm thương mại 1
9
•
Hiện nay , kênh phân phối chủ yếu mà hầu hết các doanh nghiệp
BHNT dâng sử dụng vẫn là qua mạng lưới Đại lý. Hoạt dộng bảo hiểm
qua kênh này vẫn tỏ ra khá hiệu quả với việc đóng góp doanh thu.
•
•
Công ty bảo hiểm xe cơ giới State Farm với hơn 84,000
đại lý và nhân viên, công ty hiện đang cung cấp dịch vụ
bảo hiểm cho hơn 80 triệu khách hàng ở Mỹ và Canada.
Công ty bảo hiểm Farmers cung cấp dịch vụ bảo hiểm
cho hơn 10 triệu hộ gia đình với hơn 20 triệu hợp đồng
Nhóm 5 | BHTM 1
10
Nhóm 5 | Bảo hiểm thương mại 1
10
•
•
bảo hiểm cá nhân trên khắp tất cả 50 tiểu bang, thông qua
những nỗ lực đóng góp của hơn 50,000 đại lý độc quyền
và độc lập và đội ngũ nhân viên lên đến gần 24,000 người.
Bảo hiểm Chubb Corp cũng cộng tác với 8,500 đại lý và
các nhà môi giới độc lập trên toàn thế giới cung cấp dịch
lời cam kết mà công ty bảo hiểm đưa ra với khách hàng. Khách hàng
đóng phí để đổi lấy những cam kết bồi thường hoặc chi trả trong tương
lai. Khác với sản phẩm vật chất mà người mua có th ể cảm nhận
được qua cac giác quan, người mua sản phẩm bảo hiểm không thể
chỉ ra mầu sắc, hình dáng, kích thước hay mùi vị của sản phẩm. H ọ
cũng không thể cảm nhận được bằng các giác quan như cầm nắm,
sờ mó, ngủi hoặc nếm thử…
Để khắc phục những khó khăn đó, cũng là đ ể củng cố lòng
tin của khách hàng, các doanh nghiệp bảohiểm tìm cách tăngtính
hữu hình của sản phẩm: chú ý những lợi ích có liên quan đến d ịch
vụ: sử dụng những người nổi tiếng, có uy tín tuyên truy ền d ịch v ụ;
phát triển hệ thống đại lý chuyên nghiệp; xây dựng uy tín của công
ty bảo hiểm; tăng cường vai trò quan trọng của hoạt đ ộng
marketing. Như vậy, lòng tin và chất lượng dịch vụ khách hàng
chính là chìa khóa để bán sản phẩm bảo hiểm.
Bảo hiểm Phi nhân thọ
Sản phẩm của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân th ọ
cũng rất giống nhau, đặc biệt là loại hình bảo hiểm tự nguyện, ch ỉ
khác đôi chút về quyền lợi, mức phí đóng.
Nhóm 5 | BHTM 1
12
Nhóm 5 | Bảo hiểm thương mại 1
12
Hiện khối doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đang nghiên
13
•
•
Bảo hiểm cá nhân: Bảo hiểm Tai nạn cá nhân, Bảo hiểm
Phi nhân thọ cho Cá nhân, Đầu tư, Bảo hiểm Nhân thọ,
Bảo hiểm Sức khỏe, Bảo hiểm Du lịch.
Thương mại:
+ Bảo hiểm Thương mại theo Ngành nghề: Xây dựng,
Năng lượng, Các tổ chức Tài chính, Sản xuất, Hàng hải,
Bất động sản, Công nghệ Thông tin và Mạng.
+ Bảo hiểm Thương mại theo Loại Sản phẩm: Tai nạn và
Sức khỏe, Thương vong, Bảo hiểm Xây dựng, Bảo hiểm
Năng lượng, Môi trường, Các dòng Sản phẩm Bảo hiểm
Tài Chính, Bảo hiểm Hàng hải, Bảo hiểm Bất động sản.
Anh:
Bảo hiểm Phi nhân thọ ở Anh phát triển qua một quá trình lâu
dài. Ngày nay, các sản phẩm của các doanh nghiệp tại Vương Quốc
Anh cũng khá phong phú.
Bảo hiểm nhân thọ
Trên thế giới hầu hết các doanh nghiệp đều cũng cấp các loại
hình bảo hiểm Tử kỳ và hỗn hợp.
Ví dụ :
Anh:
nhân của MetLife bao gồm bảo hiểm nhân thọ dài hạn và
một số loại hình bảo hiểm nhân thọ , bao gồm toàn bộ
cuộc sống, đời sống toàn cầu và toàn bộ chi phí bảo hiểm
nhân thọ. Những dịch vụ khác nhau liên quan đến thời
gian và số tiền bảo hiểm có sẵn và liệu một khám sức
khỏe là cần thiết cho bảo hiểm. Công ty cũng cung cấp
bảo hiểm nhân thọ nhóm, cung cấp thông qua nhà tuy ển
dụng, bao gồm cuộc sống có thời hạn, cuộc sống vĩnh
viễn, và chết do tai nạn và phân chia. MetLife là công ty
bảo hiểm nhân thọ lớn nhất ở Hoa Kỳ, dựa trên bảo
hiểm nhân thọ
Nhóm 5 | BHTM 1
15
Nhóm 5 | Bảo hiểm thương mại 1
15
2.3.
Khách hàng
Xét tình hình khách hàng ở một số nước:
•
Anh
Với mức thu nhập bình quân hàng năm năm 2015 là 26.500
•
2,8 triệu khách hàng đã bảo hiểm cho vật nuôi của họ, với
trên 95% bảo hiểm dành cho mèo và chó.
Khoảng 70% khách hàng sẵn sàng chia sẻ ít nhất một dữ liệu cá
nhân cho doanh nghiệp bảo hiểm. 20% khách hàng giữ liên lạc về vấn
Nhóm 5 | BHTM 1
16
Nhóm 5 | Bảo hiểm thương mại 1
16
đề P&C công ty và 18% khách hàng giữ liên lạc chia sẻ về cuộc sống
của họ với doanh nghiệp bảo hiểm(năm 2016).
Về việc đánh giá chất lượng của dịch vụ năm 2016, khoảng 42%
đánh giá tốt về bảo hiểm ô tô, khoảng 45% đánh giá tốt về bảo hiểm bất
động sản, khoảng 40% đánh giá tốt về bảo hiểm nhân thọ và khoảng
61% xem các công ty bảo hiểm là tiềm năng của các dịch vụ bổ sung.
Mỹ
Với mức thu nhập bình quân hàng năm năm 2015 là 41.355
USD với GDP là 18,287 tỷ USD thì chi tiêu cho bảo hiểm là chiếm
11,3% GDP.
Cơ cấu khách hàng mua bảo hiểm tại các doanh nghiệp bảo
dịch vụ ở công ty khác sang và 18% là khách hàng mua mới, 60% mua
tập thể còn 40% mua theo kiểu truyền thống.
Khoảng 60% khách hàng sẵn sàng chia sẻ ít nhất một dữ liệu cá
nhân cho doanh nghiệp bảo hiểm. 22% khách hàng giữ liên lạc về vấn
đề P&C công ty và 24% khách hàng giữ liên lạc chia sẻ về cuộc sống
của họ với doanh nghiệp bảo hiểm(năm 2016).
Về việc đánh giá chất lượng của dịch vụ năm 2016, khoảng 22%
đánh giá tốt về bảo hiểm ô tô, khoảng 20% đánh giá tốt về bảo hiểm bất
động sản, khoảng 22% đánh giá tốt về bảo hiểm nhân thọ và khoảng
80% xem các công ty bảo hiểm là tiềm năng của các dịch vụ bổ sung.
Tóm lại, Trình độ dân trí, sự hiểu biết ý nghĩa tác dụng và
sự cần thiết của bảo hiểm, mức sống và thói quen mua bảo hiểm
của người dân là một nhân tố xã hội ảnh hưởng tới sự phát tri ển
của thị trường bảo hiểm.
•
•
Trình độ dân trí và mức sống quyết định lượng khách
hàng tiềm năng: Khách hàng tiềm năng bao gồm khách
hàng thực tế đang tham gia mua bảo hiểm và bộ phận
khách hàng trong tương lai sẽ tham gia mua bảo hiểm.
Qui mô, số lượng, chất lượng của khách hàng tiềm
năng có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng đến thị
trường bảo hiểm.
Do đó, ở các nước phát triển, thị trường bảo hiểm phát triển
rất mạnh mẽ.
Nhóm 5 | BHTM 1
•
Liên đoàn bảo hiểm Lloyds của London.
•
Dịch Vụ Thanh Tra Viên Tài Chính.
Điều lệ Hợp đồng Bảo hiểm Vương quốc Anh:
•
Đạo luật bảo hiểm người tiêu dùng 2012.
•
Đạo luật đảm bảo cuộc sống năm 1774.
•
Đạo luật Bảo hiểm Hàng Hải năm 1906.
•
Đạo luật bên thứ ba năm 2010.
•
Đạo luật bên thứ ba năm 1930.
quan hành chính. Các cơ quan này thường được gọi là Sở Bảo hiểm,
hoặc một số tên tương tự, và quan chức chính là Ủy viên Bảo hiểm,
hoặc một viên chức có tên tương tự. Cơ quan này sau đó tạo ra một
nhóm hành chính quy định để quản lý các công ty bảo hiểm đang cư trú
tại, hoặc làm kinh doanh trong tiểu bang. Ở Hoa Kỳ, quy định về các
công ty bảo hiểm gần như được thực hiện bởi một số tiểu bang và
các cơ quan bảo hiểm của họ. Chính phủ liên bang đã được miễn trừ
bảo hiểm từ quy định của liên bang trong hầu hết các trường hợp.
Nhóm 5 | BHTM 1
20
Nhóm 5 | Bảo hiểm thương mại 1
20
Trong trường hợp một công ty bảo hiểm tuyên bố phá sản , nhiều
quốc gia hoạt động độc lập các dịch vụ và quy định để đảm bảo ít gặp
khó khăn về tài chính ( Hiệp hội các Ủy ban Bảo hiểm quốc gia hoạt
động như một dịch vụ tại Hoa Kỳ).
Ở Hoa Kỳ và các cơ quan có thẩm quyền tương đối cao khác,
phạm vi điều chỉnh vượt ra ngoài sự giám sát thận trọng đối với các
công ty bảo hiểm và mức độ đầy đủ về vốn của họ, và bao gồm các vấn
đề như đảm bảo rằng chủ sở hữu hợp đồng được bảo vệ chống
lại các yêu cầu về đức tin xấu của bên bảo hiểm, Phí bảo hiểm không
quá cao (hoặc cố định), và các hợp đồng và chính sách ban hành đạt
tiêu chuẩn tối thiểu. Hành động xấu có thể tạo ra nhiều khả năng; Hãng
bảo hiểm từ chối yêu cầu bồi thường có vẻ hợp lệ trong hợp đồng hoặc
chính sách, hãng bảo hiểm từ chối thanh toán một cách vô lý thời gian,
Các lớp bắt buộc về bảo hiểm tại Nhật Bản bao gồm:
•
Bảo hiểm trách nhiệm pháp lý bắt buộc về ô tô. Chủ sở
hữu hoặc người sử dụng ô tô (với một số trường hợp ngoại
lệ) phải mua bảo hiểm trách nhiệm pháp lý bao gồm tử
vong hoặc thương tật cơ thể của bên thứ ba phát sinh từ
hoạt động (Điều 3, 5 và 11 của Đạo luật Bảo đảm Trách
nhiệm Xe hơi (Đạo luật Không. 97 năm 1955, với sự sửa
đổi)).
•
Bảo hiểm trách nhiệm năng lượng hạt nhân. Các nhà
khai thác kinh doanh hạt nhân tham gia vào lắp đặt lò phản
ứng hạt nhân, chế biến nhiên liệu hạt nhân hoặc nếu không
trong các doanh nghiệp liên quan đến năng lượng hạt nhân
phải mua trách nhiệm pháp lý bảo hiểm bao gồm thiệt hại
liên quan đến năng lượng hạt nhân cho bên thứ ba kết quả
từ hoạt động kinh doanh đó (Điều 6, 7, 7-2 và 8 của Đạo
luật bồi thường thiệt hại hạt nhân (Đạo luật số 147 năm
1961, như sửa đổi)) để bao gồm các sự kiện nhất định
được miễn trừ theo bảo hiểm đó (ví dụ như động đất và
sóng thần), các nhà khai thác kinh doanh hạt nhân tiếp tục
phải ký hợp đồng bồi thường tổn thất năng lượng hạt nhân
với chính phủ Nhật Bản (Điều 6, 7, 7-2 và 10 của Đạo luật
về Bồi thường thiệt hại hạt nhân và các Điều 2 và 3 của
Nhóm 5 | BHTM 1
22
Chủ doanh nghiệp có nhân viên, về nguyên tắc tham gia
trong hệ thống bảo hiểm tai nạn lao động công nghiệp,
theo những khoản trợ cấp bảo hiểm được trả cho người lao
động trong trường hợp có liên quan đến công việc thương
tích, bệnh tật, khuyết tật hoặc tử vong (các điều 2, 3 và 7
của Đạo luật bảo hiểm bồi thường tai nạn lao động công
nghiệp (Luật số 50 năm 1947, như sửa đổi)), cũng như
trong hệ thống bảo hiểm việc làm, theo đó trợ cấp bảo
hiểm được trả cho người lao động trong trường hợp thất
Nhóm 5 | BHTM 1
23
Nhóm 5 | Bảo hiểm thương mại 1
23
nghiệp (các điều 2, 3, 5 và 6 của Đạo luật Bảo hiểm Việc
làm (Đạo luật số 116 của 1974, với sự sửa đổi)).
•
Người dân Nhật Bản phải phụ thuộc vào tuổi tác, hệ thống
bảo hiểm, theo đó các khoản bảo hiểm được thanh toán
trong trường hợp bệnh tật, thương tích, sinh con hoặc tử
vong (các điều 2, 3, 5 và 6 của Đạo luật Bảo hiểm Y tế
Quốc gia (Đạo luật số 192 năm 1958, với sự sửa đổi)), Hệ
thống bảo hiểm chăm sóc, theo đó các khoản trợ cấp bảo
hiểm quy mô được thanh toán đối với các điều kiện cần
chăm sóc dài hạn hoặc một số loại Trợ cấp khác (điều 2, 3
Chế độ giấy phép kinh doanh (Công ty bảo hiểm nước
ngoài): các công ty bảo hiểm nước ngoài phải có giấy phép kinh doanh
bảo hiểm phi nhân thọ để bảo lãnh các lớp bảo hiểm bắt buộc được quy
định trong phần trên. Bất kỳ công ty bảo hiểm nước ngoài nào tham gia
hợp đồng bảo hiểm mà không có giấy phép kinh doanh bảo hiểm sẽ bị
trừng phạt, trong trường hợp cá nhân, bị phạt tù không quá hai năm
hoặc không có tội hình sự hơn ba triệu yên, hoặc cả hai (Điều 316, mục
4 của IBA), và nếu Cơ quan công ty (hành động thông qua một đại diện
hoặc nhân viên), bởi một tội phạm không quá ba triệu yen (Điều 321,
khoản 1, khoản 4 IBA).
Pháp
Các Chỉ thị EU đã được chuyển thành luật Pháp và các quy tắc
tương ứng có thể được tìm thấy trong Luật Bảo hiểm. Các quy tắc cụ
thể áp dụng cho hoạt động bảo hiểm và tái bảo hiểm cũng có thể được
tìm thấy trong Bộ luật Tài chính và Tiền tệ.
Các nguồn pháp luật khác cho hoạt động bảo hiểm và tái bảo
hiểm bao gồm: Bộ luật dân sự; Các tiền lệ pháp luật được Tòa án Tối
cao Pháp ( Cour de cassation ) thành lập đặc biệt; Nghề nghiệp chuyên
nghiệp (ví dụ, liên quan đến mối quan hệ giữa công ty bảo hiểm và môi
giới).
Quy định hợp đồng bảo hiểm:
Không có định nghĩa pháp lý về hợp đồng bảo hiểm theo luật
Pháp, trừ trường hợp Điều 1964 Bộ luật Dân sự quy định rằng các hợp
đồng đó thuộc loại "hợp đồng không liên quan", đó là các hợp đồng có
nghĩa là các thoả thuận lẫn nhau và có những ảnh hưởng tích cực hoặc
tiêu cực Đối với tất cả các bên, hoặc một hoặc nhiều người trong số họ,
phụ thuộc vào một sự kiện không chắc chắn.
Nhóm 5 | BHTM 1