LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước Việt Nam ta đang hòa nhập và phát triển cùng với thế giới một nền kinh tế
tri thức và một xã hội thông tin đầy khó khăn và thách thức. Chính vì thế việc đào
tạo nguồn nhân lực về Công nghệ thông tin (CNTT) là rất quan trọng và cấp thiết.
Trong quyết định số 81/2001/QĐ - TTG, thủ tướng chính phủ đã giao nhiệm vụ trọng
tâm cho Ngành giáo dục là đào tạo nguồn nhận lực CNTT và đẩy mạnh ứng dụng
CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo.
* Những chủ trương của Đảng về ứng dụng CNTT trong giáo dục đào tạo
Chỉ thị số 58-CT/TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị nêu rõ
+ Ứng dụng CNTT là một nhiệm vụ ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế xã
hội, là phương tiện chủ lực để đi tắt đón đầu, rút ngắn khoảng cách phát triển so với
các nước đi trước.
+ Phát triển nguồn nhân lực CNTT là yếu tố then chốt có ý nghĩa quyết định với việc
ứng dụng và phát triển CNTT trong đó có nội dung:“Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ
thông tin trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học”.
Quyết định số 698/QĐ-TTg ngày 1/6/2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê
duyệt Kế hoạch tổng thể phát triển nguồn nhân lực công nghệ thông tin đến năm
2015 và định hướng đến năm 2020 cũng đặt ra mục tiêu: Đẩy mạnh ứng dụng CNTT
trong giảng dạy và trong quản lý giáo dục ở tất cả các cấp học. Đến năm 2020, toàn
bộ học sinh các cơ sở giáo dục phổ thông và các cơ sở giáo dục khác được học ứng
dụng CNTT. Trong những năm qua, Ngành GD&ĐT cũng đã có rất nhiều những văn
bản hướng dẫn thực hiện ứng dụng CNTT:
Chỉ thị số 55/2008/CT-BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào
tạo về tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành
giáo dục giai đoạn 2008-2012;
1
Thông tư số 08/2010/TT-BGDĐT ngày 01/03/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và
Đào tạo quy định về sử dụng phần mềm tự do mã nguồn mở trong các cơ sở giáo
2. Thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 tuổi
tại lớp 3 tuổi C …….……………………………………………………..……….. 19
* Thuận lợi …………………………….……………………………………..…… 19
* Khó khăn……………………………….……………………………..………..… 19
CHƯƠNG II. KẾT QUẢ VÀ CÁC GIẢI PHÁP CỦA ĐỀ TÀI
I. Một số giải pháp của đề tài ……………………………………………………… 21
II. Kết quả của việc nghiên cứu đề tài ……………………………………...………24
III. Bài học kinh nghiệm …………………………………………….………..…… 25
IV. Khả năng ứng dụng của đề tài …………………………….…….…...…… …..26
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
I. Kết luận …………………………………………………………………….........27
II. Kiến nghị ……………………………………………………………………….. 27
1. Về phía nhà trường ………………………………………….….……………... 27
2. Đối với phòng giáo dục…………………………………………………………. 27
3
PHẦN I. MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài
Giai đoạn lên 3 tuổi của một đứa trẻ là giai đoạn đánh dấu một bước ngoặt lớn về sự
phát triển ngôn ngữ - từ vựng của trẻ. “Thỏ thẻ như trẻ lên ba" "Trẻ lên ba, cả nhà
học nói” là những câu tục ngữ muốn nhấn mạnh đến đặc trưng ngôn ngữ ở năm thứ 3
của một đứa trẻ, bởi vì đây là thời điểm khả năng ngôn ngữ của trẻ phát triển vượt
bậc so với giai đoạn trước. Lựa chọn phương pháp nào để phát triển ngôn ngữ cho trẻ
ở giai đoạn này cũng vì vậy mà trở nên vô cùng quan trọng với các bậc làm cha, làm
mẹ và những người chăm sóc – giáo dục trẻ Mầm non chúng ta. Ngôn ngữ phát triển
tốt sẽ giúp trẻ nhận thức và giao tiếp tốt, hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ.
Việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 3 tuổi sẽ giúp trẻ dễ dàng tiếp cận với các môn học
khác. Đặc biệt giúp trẻ khả năng phát triển tư duy và ngôn ngữ, cảm thụ cái hay, cái
truyền thống thì khó mà thực hiện được giúp tiết kiệm được thời gian cho giáo viên,
vừa tiết kiệm được chi phí cho nhà trường mà vẫn nâng cao được tính sinh động,
hiệu quả của giờ dạy. Nếu trước đây giáo viên Mầm non phải rất vất vả để có thể tìm
kiếm những hình ảnh, biểu tượng, đồ dùng phục vụ bài giảng thì hiện nay với ứng
dụng CNTT giáo viên có thể sử dụng Internet để chủ động khai thác tài nguyên giáo
dục phong phú, chủ động quay phim, chụp ảnh làm tư liệu cho bài giảng điện tử. Chỉ
cần vài cái “nhấp chuột” là hình ảnh những con vật ngộ nghĩnh, những bông hoa đủ
màu sắc, những hàng chữ biết đi và những con số biết nhảy theo nhạc hiện ngay ra
với hiệu ứng của những âm thanh sống động ngay lập tức thu hút được sự chú ý và
kích thích hứng thú phát âm của trẻ. Trẻ được chủ động hoạt động nhiều hơn để
khám phá nội dung bài giảng. Đây có thể coi là một phương pháp ưu việt vừa phù
hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, vừa thực hiện được nguyên lý giáo dục của
Vưgotxki “ Dạy học lấy học sinh làm trung tâm” một cách dễ dàng.
5
Có thể thấy ứng dụng của công nghệ thông tin trong giáo dục phát triển ngôn ngữ
Mầm non đã tạo ra một biến đổi về chất trong hiệu quả giảng dạy của ngành giáo dục
Mầm non, tạo ra một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao giữa cô giáo và
trẻ. Năm học 2015 - 2016, Phòng giáo dục và đào tạo Đại Từ tiếp tục triển khai
nhiệm vụ năm học đến các cấp học là: tiếp tục đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ
thông tin trong các hoạt động giáo dục Dạy và Học trong các Nhà trường.
Sự cần thiết của ứng dụng CNTT trong phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mầm non:
Ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ - đặc biệt
trong việc phát triển ngôn ngữ là nâng cao một bước cơ bản chất lượng học tập của
trẻ, tạo một môi trường giáo dục mang tính tương tác cao chứ không đơn thuần như
kiểu truyền thống. Trẻ được khuyến khích sử dụng ngôn ngữ để thể hiện khả năng và
ý kiến của bản thân, được tạo cơ hội để phát huy tính chủ động, sáng tạo của mình.
Ứng dụng CNTT trong phát triển ngôn ngữ cho trẻ không với riêng lĩnh vực phát
triển ngôn ngữ với bộ môn chính là Làm quen với văn học, mà với tất cả các lĩnh vực
tạo điều kiện cho sự hoạt động tương tác giữa trẻ và cô, giữa trẻ với thế giới xung
quanh.Góp phần nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục trong công tác giáo dục trẻ,
hình thành ở trẻ nhận thức về vẻ đẹp của ngôn ngữ Việt Nam, biết yêu cái đẹp, mong
muốn tạo ra cái đẹp trong cuộc sống.
IV. Đối tượng, phạm vi, nhiệm vụ nghiên cứu
1. Đối tượng nghiên cứu
Một số kinh nghiệm, biện pháp trong thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin vào
phát triển ngôn ngữ cho trẻ ở lớp 3 tuổi A trường Mầm non Bình Thuận
2. Phạm vi nghiên cứu
7
Công tác ứng dụng công nghệ thông tin vào việc phát triển ngôn ngữ trong các hoạt
động giáo dục trẻ ở lớp 3 tuổi A trường Mầm non Bình Thuận – Đại Từ tác động đến
quá trình giáo dục trẻ của nhà trường
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được đề tài nghiên cứu này, tôi đã đặt ra một số nhiệm vụ cụ thể:
1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động phát triển ngôn ngữ
2. Nghiên cứu nội dung chương trình hình thành kỹ năng cho trẻ Mẫu giáo bé ở mục
tiêu phát triển ngôn ngữ.
3. Tìm hiểu thực tế việc thực hiện các kỹ năng: nghe, ghi nhớ, đọc – kể,.. của trẻ
Mẫu giáo bé tại lớp 3 tuổi A – Trường MN Bình Thuận.
4. Đề ra các biện pháp ứng dụng công nghệ thông tin để giúp trẻ Mẫu giáo bé phát
triển ngôn ngữ tốt nhất.
V. Các phương pháp và thời gian nghiên cứu
* Các phương pháp nghiên cứu
1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các văn bản pháp quy, những quy định của ngành có liên quan đến công
tác thực hiện phát triển ngôn ngữ vào các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ của nhà
trường, xây dựng cơ sở nghiên cứu lý luận cho việc nghiên cứu đề tài.
nghệ thông tin vào phát triển ngôn ngữ cho trẻ Mẫu giáo bé với một số nội dung mới
hơn.
PHẦN II. NỘI DUNG
CHƯƠNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ
THÔNG TIN VÀO PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ MẪU GIÁO BÉ
I. Cơ sở lý luận của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào phát triển ngôn ngữ
cho trẻ Mẫu giáo bé
9
1. Vai trò của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào phát triển ngôn ngữ cho
trẻ Mẫu giáo bé
Từ khi công nghệ thông tin còn chưa ra đời thì ngôn ngữ của con người đã có trước,
và không thể phủ nhận việc ngôn ngữ của trẻ luôn phát triển cùng sự tiến bộ của loài
người, nhưng vận dụng sự hỗ trợ của công nghệ thông tin vào phát triển ngôn ngữ
cho trẻ là một hiệu quả lớn trong công việc phát triển ngôn ngữ của trẻ. Có nhiều
cách để ứng dụng công nghệ thông tin vào phát triển ngôn ngữ cho trẻ như: Sử dụng
trò chơi để kích hoạt ngôn ngữ cho bé yêu của bạn: Có nhiều cách thức bạn có thể
giúp bé yêu phát triển tư duy ngôn ngữ, trong đó không ngoại trừ thói quen sử dụng
các trò chơi bởi những lợi ích trò chơi mang lại cho bé là vô cùng lớn. Các trò chơi
ghép nối-các trò chơi này dạy cho trẻ cách miêu tả những thứ chúng đang tìm kiếm;
các bài hát - khi trẻ hát đi hát lại các bài hát, đó là lúc chúng tập nói, thay vì phải đi
mua các đĩa nhạc thiếu nhi ngoài cửa hàng, ta có thể tự tải các bài hát trên mạng về,
chọn các bài mà trẻ thích, lưu vào một file riêng cho trẻ, để khi mở lên trẻ sẽ được
nghe toàn những bài mình thích, tạo hứng thú cho trẻ ca hát, đọc lời bài hát theo đĩa
nhạc, giúp phát triển ngôn ngữ cho trẻ; đọc - việc đọc thơ, kể truyện giúp trẻ nhận
biết từ và ngữ pháp, vẫn là sử dụng việc cop – paste các câu truyện và bài thơ mà trẻ
thích, lưu vào một file riêng cho trẻ được nghe và xem những bài thơ, câu truyện
mình thích; Bạn có thể sử dụng bức tranh có hình vẽ mà trẻ thích, thay vì mua tranh
ngữ của trẻ từ 0 tuổi đến 6 tuổi. Dựa và những đặc điểm nổi bật về ngôn ngữ theo
từng giai đoạn tuổi của trẻ, chúng ta có thể có cái nhìn sơ bộ về khả năng ngôn ngữ
của trẻ. Từ đó, có thể có quyết định thực hiện ứng dụng công nghệ công tin như thế
nào vào việc hỗ trợ trẻ trong quá trình phát triển ngôn ngữ.” (Thạc sĩ ngôn ngữ học
Trương Thanh Loan tổng hợp)
* Năm thứ nhất
11
- Ngôn ngữ tiếp nhận :
+ 0 – 3 tháng
- Đáp ứng âm thanh và tiếng nói
- Giao tiếp mặt đối mặt
- Chú ý đến môi trường xung quanh
+ 3 – 6 tháng : Hướng mắt và đầu về phía âm thanh và tiếng nói
+ 6 – 9 tháng : Trẻ biết nhìn vào tranh và thực hiện được một vài yêu cầu đơn giản
có kèm động tác minh hoạ của người yêu cầu.
+ 9 – 12 tháng : Trẻ hiểu những yêu cầu như vỗ tay, ngưng hành động khi được yêu
cầu, biết quay lại khi nghe gọi tên mình.
- Ngữ diễn đạt
+ 0 – 3 tháng : - Trẻ biết khóc, phát ra một âm nào đó hoặc là gừ…gừ….trong cổ
họng. Trẻ biết cười , làm cử động, phát âm với giọng nhẹ khi được người khác nói
chuyện.
+ 3 – 6 tháng :
Phát ra hai nguyên âm khác nhau.
Phát một âm tiết gồm một phụ âm đầu và một nguyên âm.
Phát ra những âm khác nhau thể hiện cảm xúc khác nhau.
Biết làm hay bắt chước người khác làm những cử động của miệng.
+ 6 – 9 tháng :
Phát ra bốn nguyên âm khác nhau, có thể nói ba, ma.
Tính dễ hiểu của lời nói : người thân hiểu rõ.
13
- Ngôn ngữ diễn đạt
+ 0 – 3 tháng :
Trẻ biết khóc, phát ra một âm nào đó hoặc là gừ…gừ….trong cổ họng.
Trẻ biết cười , làm cử động, phát âm với giọng nhẹ khi được người khác nói chuyện.
+ 3 – 6 tháng :
Phát ra hai nguyên âm khác nhau.
Phát một âm tiết gồm một phụ âm đầu và một nguyên âm.
Phát ra những âm khác nhau thể hiện cảm xúc khác nhau.
Biết làm hay bắt chước người khác làm những cử động của miệng.
+ 6 – 9 tháng :
Phát ra bốn nguyên âm khác nhau, có thể nói ba, ma.
Bập bẹ nói chuyện với người quen.
Bắt chước làm lại âm thanh mà trẻ đã làm khi nghe người lớn phát ra âm đó.
Bắt chước hành động đơn giản.
+ 9 – 12 tháng :
Phát ra âm có ngữ điệu để thể hiện ý muốn hay trao đổi thông tin nào đó.
Bắt chước các cử động của miệng, các hành động kèm theo phát âm như vừa vỗ
bụng vừa kêu bum….bum
* Năm thứ ba
- Ngôn ngữ tiếp nhận
+ 12 -15 tháng
- Trẻ biết chọn, chỉ và đưa vật theo yêu cầu (chọn 1 trong 2 vật)
+ 15 -18 tháng
Bắt đầu nhận biết 1 bộ phận cơ thể
14
Chọn vật theo nhóm.
Nhận biết thêm các từ tương phản.
Nhận biết các thành phần giống và khác nhau của nhóm.
- Ngôn ngữ diễn đạt
+ 3 – 4 tuổi
Sử dụng câu 3 từ.
Biết đặt câu hỏi.
Nói tên họ
Trả lời câu hỏi về chức năng của vật.
Hát bài hát đơn giản.
Bắt đầu sử dụng mạo từ.
Sử dụng đại từ thứ ba.
Lặp lại câu 6 từ.Có ngữ điệu trong câu nói.
- Ngôn ngữ mạch lạc :
Đối với trẻ mẫu giáo, ngôn ngữ mạch lạc là khả năng sử dụng lời nói gọn gàng, dễ
hiểu, có thứ tự trong giao tiếp. Sự mạch lạc càng tốt hơn khi trẻ vào giai đoạn cuối
tuổi mẫu giáo.
- Đặc điểm ngữ pháp :
Ở tuổi mẫu giáo bé, câu của trẻ sử dụng có cấu trúc hoàn chỉnh, đủ thành phần hơn.
Trong giao tiếp, trong kể chuyện, câu nói của trẻ có ngữ điệu rõ ràng, thích hợp ngữ
cảnh. Bé dùng từ cảm thán, sử dụng câu cảm thán khá nhiều trong các cuộc đối thoại.
Ngoài các câu đơn trẻ còn sử dụng các hình thức câu phức và câu ghép. Sự phức tạp
của câu tăng theo độ tuổi của bé.
16
Đối với trẻ Mẫu giáo bé, sự phát triển ngôn ngữ là vô cùng quan trọng để đứa trẻ bắt
đầu tiếp nhận những thông tin từ thế giới xung quanh nó một cách rõ ràng, đầy đủ và
tinh tế nhất
Ngay từ khi còn trong bụng mẹ đứa trẻ đã có thể cảm nhận giọng nói, âm thanh, các
rèn luyện cho mình cách nói rõ ràng, ngắn gọn, chính xác, nói chuyện với trẻ đúng
đắn, thân ái, lịch sự.
2. Đặc điểm của quá trình ứng dụng công nghệ thông tin vào tổ chức hoạt động
phát triển ngôn ngữ cho trẻ
Qua các năm thực hiện ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy – tổ chức các
HĐ: đọc thơ, kể chuyện, đọc ca dao, đồng dao, chơi trò chơi,.. cho trẻ MGB, tôi
thường xuyên chú ý đến phương pháp, hình thức cho trẻ nói, vì trẻ MGB có nhu cầu
phát triển ngôn ngữ rất lớn. Số từ ngữ của trẻ tăng nhanh ở tuổi này, trẻ nói nhiều.
Tiếp sau đọc là kể diễn cảm và dạy trẻ kể lại chuyện, kể sáng tạo hay đóng kịch dưới
nhiều hình thức đa dạng và phong phú. Tuy đóng kịch là phương pháp giúp trẻ được
thể hiện khả năng nghe, nói, ghi nhớ, diễn cảm, ..giúp PTNN rất tốt, nhưng việc dạy
trẻ đóng kịch còn có nhiều hạn chế, chưa có sáng tạo trong việc chuyển thể từ
chuyện kể sang kịch bản sân khấu, không tạo ra được tính kịch - sự kiện - sự biến, lời
thoại còn dài dòng khó hiểu, giáo viên còn nặng nề trong việc dẫn chuyện làm cho
kịch bản trở nên rời rạc - kém hấp dẫn.
Bên cạnh đó vẫn còn một số GV khả năng còn cảm nhận các tác phẩm văn thơ
chuyện còn hạn chế giọng đọc và cách phối hợp ánh mắt, cử chỉ, điệu bộ, minh họa
chưa bộc lộ cảm xúc hấp dẫn cuốn hút trẻ, phương pháp lồng ghép tích hợp chưa
linh hoạt sáng tạo kết quả trên trẻ chưa cao, trẻ chưa thực sự say mê, hào hứng, sử
dụng đồ dùng dạy học chưa có khoa học, dẫn đến giờ học trẻ ít tập trung chú ý hiệu
quả trên tiết học chưa cao. Hầu hết các vở kịch còn thiếu các yếu tố phụ trợ như: Âm
thanh, cảnh trí, trang phục… làm hoạt động đóng kịch không thu hút được sự chú ý
18
của trẻ. GV chưa chủ động linh hoạt trong việc tổ chức các hoạt động đóng kịch cho
trẻ - nếu có thì chủ yếu là trong tiết học. Còn trong các giờ chơi, các buổi sinh hoạt
thì hầu như chưa có.
Đối với giáo dục Nầm non yêu cầu trẻ “Học mà chơi, chơi mà học” trong tất cả các
hoạt động một cách nhẹ nhàng, gần gũi. Vậy nên trong đề tài nghiên cứu này tôi xin
còn hạn chế, chưa đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh
không dám mạnh dạn khai thác, mặt khác phương pháp dạy học cũ vẫn còn như một
lối mòn khó thay đổi, sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xóa được.
2. Thực trang của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào phát triển ngôn ngữ
cho trẻ tại lớp 3 tuổi A
* Thuận lợi:
Tôi thực hiện đề tài tại lớp 3 tuổi A trường Mầm non Bình Thuận, bản thân thường
xuyên học hỏi đồng nghiệp qua các buổi dự giờ hoạt động và tìm hiểu qua các loại
sách báo, đồng thời có kế hoạch xây dựng các hoạt động ứng dụng công nghệ thông
tin vào phát triển ngôn ngữ theo chủ đề phù hợp với khả năng nhận thức và sự hứng
thú của trẻ.
Lớp 3 tuổi A có số trẻ ra lớp đúng độ tuổi và đa số trẻ đã học lớp nhà trẻ, được rèn
nhiều thói quen tốt với tổng số trẻ là 38.
Bản thân tôi được đào tạo chuyên ngành công tác chăm sóc – giáo dục trẻ. Trong quá
trình thực hiện đề tài tôi được Ban giám hiệu nhà trường quan tâm trang bị đầy đủ đồ
dùng, phương tiện cho các hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin vào phát triển
ngôn ngữ.
Các đồng nghiệp nhiệt tình đóng góp ý kiến, giúp đỡ tôi trong các hoạt động.
* Khó khăn
Số trẻ đến lớp cao, 38 trẻ, vượt quá 13 trẻ so với quy định, ngôn ngữ, nhận thức của
các cháu chưa đều, một số cháu chưa qua lớp nhà trẻ nên chưa có nhiều thói quen
học tập tốt. Như cháu: Nguyễn Duy Mạnh, Nguễn Bích Liên, Đào Tuấn Vũ, Nguyễn
Văn Trường, Trần Hoàng Linh, .. khả năng nhận thức còn rất chậm so với các bạn
trong lớp. Môi trường và thời tiết diễn biến phức tạp, đặc biệt giai đoạn tháng 2,
20
tháng 3, tháng 4 có nhiều dịch bệnh: quai bị, sốt vi rút, thủ đậu, nghiêm trọng nhất là
dịch bệnh rika mới xuất hiện và cùng bùng phát dẫn tới việc thực hiện đề tài không
được đều đặn do các cháu còn nghỉ học.
Biểu cảm
19/38
50%
19/38
50%
Giao tiếp
14/38
36.8%
24/38
63.2%
Quan sát
20/38
52.6%
18/38
47.4%
Ghi nhớ
18/38
47.3%
20/38
Biện pháp 2: Chọn nội dung bài giảng để ứng dụng công nghệ thông tin thích
hợp:
Khi soạn giáo án điện tử giáo viên nên cân nhắc việc đưa công nghệ thông tin vào
bài giảng vì không phải bài nào cũng áp dụng được mà cần lựa chọn 1 cách hợp lý
dựa vào nội dung mục đích yêu cầu cách tích hợp trong bài dạy.
Ví dụ: Xây dựng giáo án điện tử áp dụng vào các tiết như Văn học, làm quen chữ
viết, toán, tạo hình, trò chơi âm nhạc.
22
Tiết dạy phát triển ngôn ngữ - thơ: “Hoa kết trái”
Trò chơi ứng dụng công nghệ thông tin cho từng nhóm trẻ
Muốn làm được như vậy thì giáo viên phải nắm vững phương pháp của từng bộ
môn, từng loại tiết theo từng độ tuổi
Tuy nhiên theo tôi, có ba điểm cơ bản để quyết định nên soạn bài bằng giáo án điện
tử hay không:
- Mong muốn của giáo viên tổ chức hoạt động học tập tích cực bằng cách liên
kết hình ảnh với lời nói một cách tự nhiên, bằng cách vận dụng hình ảnh và ngôn từ
cô đọng trên các slide powerpoint để khơi gợi kích thích sự liên tưởng và tưởng
tượng của trẻ .
- Nội dung chủ yếu của bài dạy đòi hỏi phải mở rộng và chứa đựng một số ý
tưởng có thể khai thác thành các tình huống có vấn đề đưa trên nhận thức của trẻ và
phù hợp với từng độ tuổi.
23
- Nguồn tư liệu hình ảnh phong phú liên quan đến nội dung bài dạy sẵn có (có thể
- Trong các giờ đón, trả trẻ, tôi trò chuyện cùng phụ huynh về bài học trong ngày,
hướng dẫn phụ huynh tự copy các bài hát, câu truyện trên mạng internet về cho trẻ
nghe và xem ở nhà.
- Tôi thường xuyên nhắc nhở phụ huynh trò chuyện với trẻ, khuyến khích trẻ kể về
cô giáo, các bạn, về những điều trẻ được học, hỏi, động viên, yêu cầu trẻ kể, đọc các
câu chuyện, bài thơ, ca dao, đồng dao,.. ở lớp.
Biện pháp 5: Ứng dụng các phần mềm công nghệ thông tin
Năm học 2015 – 2016 là năm học không thể thiếu được nhiệm vụ đẩy mạnh ứng
dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy, từ nhiệm vụ đó, tôi đã tập trung tìm hiểu và
rút ra một số cách ứng dụng công nghệ cụ thể trong hoạt động phát triển ngôn ngữ
cho trẻ. Chuẩn bị thiết bị, đồ dùng, đồ chơi cho hoạt động rất cần thiết, nó quyết định
kết quả hoạt động.
Ngoài việc đã sử dụng phần mềm Powerpoint (PP) để soạn các giáo án điện tử, tạo
các Video, các file có kèm âm thanh chuẩn được chọn lọc để cho trẻ nghe, đọc theo,
hát theo, tạo hứng thú cho trẻ. Tôi thường xuyên cập nhật các phần mềm chỉnh sửa,
cắt, dán, ghép hình ảnh và âm thanh, xem video mới như: Picasa, Formatfactory,
Video 123, Media, Aleo,.. Khi đưa vào sử dụng, tôi thấy hiệu quả rất cao, trẻ rất
hứng thú, không chỉ với mục tiêu PTNN, tôi còn sử dụng PP trong tất cả các HĐ và
các mục tiêu khác: Phát triển thẩm mỹ, phát triển thể chất,..
* Lưu ý: với các phần mềm yêu cầu người dùng thường xuyên kết nối máy tính với
mạng internet để phần mềm thường xuyên được cập nhật phiên bản mới nhất.
II Kết quả của việc nghiên cứu đề tài:
Sau một năm thực hiện, với kinh nghiệm của bản thân và những kiến thức được trang
bị trong quá trình công tác tôi đã áp dụng những biện pháp trên vào quá trình phát
triển ngôn ngữ cho trẻ. Tuy chỉ là những biện pháp có được từ cá nhân tôi, dựa vào
25