ĐỀ TÀI:
“MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÚP TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI
KHÁM PHÁ KHOA HỌC QUA HOẠT ĐỘNG THÍ NGHIỆM,
QUAN SÁT HIỆN TƯỢNG”
1. Phần mở đầu:
1.1. Lý do chọn đề tài:
Mục tiêu của giáo dục mầm non là giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị
cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ những chức năng tâm sinh lí,
năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp
với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng
cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời.
Đối với giáo dục mẫu giáo, phương pháp giáo dục phải tạo điều kiện cho trẻ
được trải nghiệm, tìm tòi, khám phá môi trường xung quanh dưới nhiều hình thức
đa dạng, đáp ứng nhu cầu, hứng thú của trẻ theo phương châm “chơi mà học, học
bằng chơi”. Chú trọng đổi mới tổ chức môi trường giáo dục nhằm kích thích và tạo
cơ hội cho trẻ tích cực khám phá, thử nghiệm và sáng tạo ở các khu vực hoạt động
một cách vui vẻ. Kết hợp hài hoà giữa giáo dục trẻ trong nhóm bạn với giáo dục cá
nhân, chú ý đặc điểm riêng của từng trẻ để có phương pháp giáo dục phù hợp. Tổ
chức hợp lí các hình thức hoạt động cá nhân, theo nhóm nhỏ và cả lớp, phù hợp
với độ tuổi của nhóm /lớp, với khả năng của từng trẻ, với nhu cầu và hứng thú của
trẻ và với điều kiện thực tế.
Chính vì vậy khám phá khoa học là một hoạt động quan trọng trong việc
giáo dục trẻ ở trường mầm non, đặc biệt là đối với trẻ 5-6 tuổi, nó có tác dụng góp
phần tích cực vào việc giáo dục toàn diện cho trẻ . Qua hoạt động khám phá khoa
học, trẻ được trực tiếp quan sát, được thử nghiệm, được thực hành, điều đó giúp trẻ
nhớ sâu hơn và nắm chắc kiến thức đã học hơn, thông qua đó sẽ giúp trẻ phát triển
óc sáng tạo, trí tưởng tượng, khả năng tư duy và đặc biệt là vốn ngôn ngữ của trẻ
được phát triển, nhờ đó đáp ứng được tính tò mò, ham hiểu biết của trẻ. Hình
thành khả năng quan sát, phân tích, tổng hợp, đồng thời ôn luyện củng cố kiến
Khỏm phỏ khoa hc- mt thut ng nghe qua tng chng nh xa vi v
quỏ tm nhn thc i vi tr. Nhng thc cht ú ch l nhng gỡ ht sc quen
thuc, gn gi thng din ra xung quanh cuc sng ca tr hng ngy. Trong
nhng nm qua vic dy tr mu giỏo 5-6 tui khỏm phỏ khoa hc qua hot ng
thớ nghim, quan sỏt hin tng hu nh cha c chỳ trng nờn cha phỏt huy
c tớnh tớch cc, sỏng to ca tr, có phần ảnh hởng đến việc chăm
sóc giáo dục trẻ .Với yêu cầu dy hc Ly tr lm trung tõm thỡ vic cho tr
khỏm phỏ khoa hc qua hot ng thớ nghim, quan sỏt hin tng l vic lm ht
sc cn thit v quan trng ca mi mt giỏo viờn mm non nhm nõng cao cht
lng chm súc giỏo dc tr phự hp vi tỡnh hỡnh hin nay.
Nm hc 2012 2013 tụi c phõn cụng dy lp mu giỏo 5-6 tui, qua
quỏ trỡnh thc hin vic chm súc giỏo dc tr, bn thõn tụi ó gp mt s thun
li v khú khn sau:
2.1.1. Thun li:
Bn thõn nhn c s quan tõm giỳp , ch o sõu sỏt ca ban giỏm hiu
nh trng tụi thc hin tt nhim v ca mỡnh, c nh trng u t v c
s vt cht to iu kin cho tụi tớch cc tham gia vo cỏc lp hc o to nờn
trỡnh chuyờn mụn khỏ vng vng.
Một số phụ huynh có ý thức trách nhiệm, quan tâm đến việc học tập của con
em mình, phối hợp thường xuyên với giáo viên.
Các giáo viên trong trường luôn quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau.
Bản thân đã nhiều năm dạy trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nên phần nào hiểu được
đặc điểm tâm sinh lý, khả năng tiếp thu kiến thức của trẻ ở lứa tuổi này.
2.1.2. Khó khăn:
Trình độ nhận thức, tiếp thu kiến thức, kỹ năng của trẻ còn hạn chế, lại
không đồng đều.
Đa số trẻ là con nông dân, tuy phụ huynh quan tâm đến việc học của trẻ
nhưng việc cho trẻ khám phá khoa học qua hoạt động thí nghiệm, quan sát hiện
8/27 = 29,6%
12/27 = 44,4%
LVPTNN 2/27 = 7,4%
5/27 = 18,5%
7/27 = 25,9%
13/27 = 48,1%
LVPTTC 4/27 = 14,8%
8/27 = 29,6%
10/27 = 37%
5/27 = 18,5%
Qua kết quả trên, bản thân tôi nhận thấy chất lượng trên trẻ của lớp tôi còn
quá thấp so với yêu cầu của một trường đóng trên địa bàn khá thuận lợi. Điều đó
làm tôi luôn trăn trở và rút ra những nguyên nhân sau:
- Đa số trẻ trong lớp trình độ nhận thức, tiếp thu kiến thức, kỹ năng của trẻ
còn hạn chế, lại không đồng đều.
- Đa số trẻ là con nông dân nên việc cho trẻ khám phá khoa học qua hoạt
động thí nghiệm, quan sát hiện tượng còn quá mới mẻ và ít được chú ý, trẻ ít có
điều kiện để trải nghiệm qua thực tế.
+Bước 2: Cho trẻ lần lượt thả các đồ vật đó vào chậu nước, trẻ được quan
sát và phát hiện vật nào nổi ( gổ, nhựa), vật nào chìm (nam châm, sắt)
+Bước 3:Lựa chọn và phân loại vật nào nổi để sang một bên, vật nào chìm
để sang một bên sau đó cô giáo giải thích vì sao vật này lại nổi, vật kia lại chìm.
+Bước 4: Cô giáo tổng hợp đánh giá, hôm nay trẻ đã làm được gì, phát hiện
điều gì?
Giải pháp 2: Tìm kiếm, nghiên cứu các thí nghiệm và chọn nguyên vật
liệu.
Tư duy của trẻ là tư duy trực quan hình tượng, nên việc sử dụng các hoạt
động thí nghiệm trong trong giảng dạy trẻ khám phá khoa học là rất quan trọng.
Đặc biệt, trẻ ở độ tuổi này rất thích tự tìm tòi, khám phá những điều mới lạ trong
cuộc sống, qua thao tác với các đồ vật thí nghiệm, trẻ sẽ tích lũy thêm kinh nghiệm
và hiểu biết nhiều hơn. Nếu trong một tiết học, cô không sử dụng đồ dùng trực
quan thì sẽ không thu hút được sự chú ý của trẻ và trẻ chóng chán, khiến chất
lượng dạy và học không cao. Hơn thế nữa đồ dùng trực quan là một minh họa sinh
động để giúp trẻ chú ý và tiếp thu một cách nhanh chóng nội dung vấn đề cô cần
truyền đạt. Chính vì vậy khi tìm kiếm, nghiên cứu các thí nghiệm và chọn nguyên
vật liệu phải đảm bảo được những tính sau:
- Lựa chọn các hoạt động thí nghiệm vừa sức với trẻ.
- Góc dành riêng cho trẻ khám phá gồm sách, các dụng cụ thí nghiệm đơn
giản và những vật có thể sờ, mó, ngửi như cân, chai, lọ nhựa, nam châm, hột hạt…
( Đảm bảo an toàn và vệ sinh cho trẻ)
- Đảm bảo tính sư phạm, hấp dẫn, kích thích trí tò mò của trẻ, trẻ có thể
thao tác với 1 nguyên liệu dễ tìm trong nhiều thí nghiệm.
Ví dụ: Từ một chai nhựa trẻ có thể thả vào chậu nước xem chai nhựa chìm
hay nổi. Trẻ thả vào mỗi chai nhựa một vật khác nhau như viên sỏi, gạo, lá khô…
trẻ sẽ phát hiện được âm thanh phát ra từ những chai nhựa đó…
Giải pháp 3: Cho trẻ được hoạt động mọi lúc mọi nơi
nắn, chỉnh sửa những câu trẻ lời chưa chính xác với tinh thần động viên, khuyến
khích là chính), chú ý quan tâm những trẻ yếu, nhút nhát, động viên kịp thời
những tiến bộ của trẻ.
Giải pháp 4: Khuyến khích trẻ trực tiếp làm thí nghiệm cùng cô.
Công việc này tuy đơn giản nhưng có giá trị rất lớn. Nó khắc sâu kiến thức,
kỹ năng cho trẻ, đồng thời giúp trẻ mạnh dạn, tự tin và đoàn kết với bạn.
Tạo hứng thú cho trẻ khi được chính tay mình làm thí nghiệm
Giáo dục trẻ ý thức biết trân trọng và giữ gìn đồ dùng, sản phẩm từ thí
nghiệm mình làm ra. Cung cấp thêm đồ dùng đồ chơi cho lớp.
Ví dụ: Để phục vụ cho các trò chơi âm nhạc ở góc nghệ thuật tôi tổ chức
cho trẻ cùng cô thả vào mỗi chai nhựa một vật khác nhau như viên sỏi, gạo, lá
khô…sau đó cho trẻ cùng cô lắc lần lượt các chai nhựa xem nó có gì khác. Lúc đó
trẻ sẽ phát hiện được âm thanh khác nhau phát ra từ những chai nhựa, từ đó tôi sẽ
lưu lại để sử dụng cho các trò chơi âm nhạc.
Hoặc cô có thể cho trẻ cùng cô làm thí nghiệm “Gieo hạt” xuống đất, sau
vài ngày cô cho trẻ ra quan sát xem điều gì đã xảy ra…
Giải pháp 5: Công tác tuyên truyền phối kết hợp với phụ huynh.
Để hoàn thành tốt công tác chăm sóc và giáo dục trẻ thì cần có sự phối hợp
và hỗ trợ cho nhau giữa gia đình và nhà trường. Thực hiện tốt sự phối hợp đó tôi
đã mạnh dạn chia sẽ suy nghĩ với phụ huynh về tầm quan trọng của việc chăm sóc
giáo dục trẻ mầm non, trong đó có nội dung dạy trẻ khám phá khoa học qua các
hoạt động thí nghiệm, quan sát hiện tượng, để từ đó phụ huynh có nhận thức đúng
đắn và xác định vai trò của mình trong việc chăm sóc giáo dục trẻ đặc biệt là giúp
trẻ được trải nghiệm qua các thí nghiệm khám phá thế giới xung quanh.
- Lên kế hoạch hoạt động tuần, ngày đầy đủ rồi trao đổi trực tiếp với phụ
huynh trong giờ đón trẻ, trả trẻ để phụ huynh biết được kiến thức, kỹ năng trẻ sẽ
học gì? Qua đó xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa giáo viên phụ huynh và các
thành viên trong gia đình trẻ để cùng tạo ra các hoạt động cho trẻ trải nghiệm.
liệu, học hỏi chị em đồng nghiệp, giáo viên cần phải tích cực hóa đứa trẻ, tạo hứng
thú cho trẻ trong mọi hoạt động. Tôi còn phải sáng tạo trong việc tìm kiếm các
hoạt động cho trẻ thử nghiệm, nhằm thúc đẩy sự phát triển trí tuệ của trẻ trong giai
đoạn đầu đời của trẻ mới giúp trẻ phát triển toàn diện hơn.
Cần có sự phối kết hợp với phụ huynh một cách khéo léo, lôi cuốn phụ
huynh để phụ huynh cùng đóng góp các vật liệu sẳn có ở địa phương.
Bên cạnh đó, thông qua hoạt động khám phá khoa học trẻ được sử dụng các
giác quan và trực tiếp thực hiện, trẻ cùng tham gia thí nghiệm, cùng chơi cùng trải
nghiệm. Hình thành cho trẻ trí tưởng tượng và phát triển tư duy, ngôn ngữ trí nhớ
lâu bền . Mục đích cuối cùng là tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm, đó là việc
hình thành và rèn luyện kỹ năng dự đoán, quan sát, làm việc nhóm, chia sẻ kinh
nghiệm của bản thân với các bạn.
Như chúng ta biết lứa tuổi mẫu giáo, tuy trẻ còn nhỏ nhưng trẻ luôn luôn tìm
hiểu thế giới xung quanh vốn muôn vàn câu hỏi thắc mắc: Tại sao cái này lại nổi?,
Cái kia lại chìm?, Tại sao âm thanh phát ra từ 2 cái chai giống nhau lại khác nhau?
Tại sao? Tại sao?...
*Qua việc lựa chọn và sử dụng một số biện pháp giúp trẻ khám phá khoa
học qua hoạt động thử nghiệm, quan sát hiện tượng. Đây là hoạt động thiết thực
góp phần nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ và trong quá trình thực hiện
các biện pháp trên tôi đã thu được một số kết quả sau:
- Đối với bản thân:
+ Đã hiểu rõ hơn mục đích, ý nghĩa hoạt động khám phá khoa học, hoạt
động thử nghiệm
+ Đã tạo mối quan hệ gắn kết giữa phụ huynh, tạo sự thân thiện giữa cô và
trẻ, giữa cô với phụ huynh.
+ Đã đưa chất lượng của lớp mình lên cao hơn.
- Đối với trẻ:
- Trẻ mạnh dạn, tự tin, thích tò mò, ham hiểu biết, thích quan sát khám phá,
10/27 = 37%
12/27 = 44,4%
5/27 = 18,6%
LVPTTC
15/27 = 55,6%
8/27 = 29,6%
4/27 = 14,8%
-Đối với phụ huynh:
+ Phụ huynh đã hiểu được công việc, hoạt động của cô giáo.
Xếp loại Yếu
+ Phụ huynh vui mừng khi con mình mạnh dạn, nhanh nhẹn, tự tin. Thấy
được tầm quan trọng và trách nhiệm của mình trong việc kết hợp với giáo viên
cùng quan tâm chăm sóc giáo dục trẻ.
+ Phụ huynh đã quan tâm hơn tới nội dung của các môn học, biết hướng dẫn,
rèn luyện một số kỹ năng cơ bản cho trẻ lúc ở nhà.
Trên đây là một số bài học kinh nghiệm mà bản thân tôi đúc rút ra từ tình hình
thực tế giảng dạy. Tuy nhiên bài sáng kiến kinh nghiệm của tôi cũng không tránh
khỏi những hạn chế, kính mong sự góp ý, giúp đỡ của hội đồng sư phạm nhà
trường, bạn bè đồng nghiệp, phòng giáo dục đào tạo để tôi có nhiều kinh nghiệm
hơn trong công tác giảng dạy.