ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ THU PHƢƠNG
THÈM QUYÒN XÐT Xö C¸C Vô ¸N HµNH CHÝNH
CñA TßA ¸N NH¢N D¢N - Tõ THùC TIÔN TØNH THANH HãA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TRẦN THỊ THU PHƢƠNG
THÈM QUYÒN XÐT Xö C¸C Vô ¸N HµNH CHÝNH
CñA TßA ¸N NH¢N D¢N - Tõ THùC TIÔN TØNH THANH HãA
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ MINH HÀ
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Khái niệm thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính của Tòa án .......... 11
1.2.
Thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính ở một số nƣớc trên
thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam ........................................... 15
1.2.1. Thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính theo mô hình Tòa án
hành chính chuyên trách và độc lập hoàn toàn với tòa án tư pháp .... 15
1.2.2. Thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính của tòa án hành chính
chuyên trách nhưng không độc lập hoàn toàn so với tòa án tư pháp..... 16
1.2.3. Mô hình và thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính của tòa án
thường có chức năng tài phán hành chính.......................................... 18
1.2.4. Thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính của tòa án theo mô
hình trung gian ................................................................................... 21
1.3.
Cơ sở quy định thẩm quyền xét xử vụ án hành chính ở Việt Nam .... 23
1.3.1. Cơ sở lý luận ...................................................................................... 23
1.3.2. Cơ sở thực tiễn ................................................................................... 28
Chƣơng 2: THẨM QUYỀN XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THEO LUẬT TỐ TỤNG HÀNH
CHÍNH VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG Ở TỈNH THANH HÓA ... 32
2.1.
Pháp luật về thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính ................ 32
ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH VỀ THẨM
QUYỀN XÉT XỬ XÁC VỤ ÁN HÀNH CHÍNH CỦA TÒA ÁN
Ở TỈNH THANH HÓA ...................................................................... 72
3.1.
Quan điểm hoàn thiện các quy định của pháp luật về thẩm
quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án ................................... 72
3.2.
Giải pháp cụ thể nâng cao chất lƣợng áp dụng các quy định
của pháp luật về thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính
của Tòa án nhân dân ở tỉnh Thanh Hóa ........................................ 73
3.2.1. Vấn đề hoàn thiện pháp luật về thẩm quyền xét xử vụ án hành
chính của Tòa án ................................................................................ 73
3.2.2. Tăng cường nguồn lực và phương tiện cho hoạt động xét xử án
hành chính ở tòa án hai cấp tỉnh Thanh Hóa ...................................... 77
3.2.3. Đảm bảo tính độc lập và quyền giải thích pháp luật của Tòa án ....... 81
KẾT LUẬN .................................................................................................... 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 89
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
TTHC:
Tố tụng hành chính
UBND:
1
giám sát cơ quan quản lý Nhà nước từ bên ngoài - một thiết chế mới có thể
bảo vệ hữu hiệu quyền, lợi ích hợp pháp của người dân trong mối quan hệ
giữa Nhà nước và người dân.
Lần đầu tiên trong lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng
hành chính Việt Nam, quyền khởi kiện vụ án hành chính của người dân để yêu
cầu Toà án bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình đã được ghi nhận tại Pháp
lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996. Văn bản này đã ghi nhận
Toà án có thẩm quyền giải quyết 8 loại khiếu kiện; đến năm 1998 được sửa đổi,
bổ sung thêm 2 loại khiếu kiện. Quá trình này, Đảng ta tiếp tục xác định trong
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về "Chiến lược cải
cách tư pháp đến năm 2020" là "... mở rộng thẩm quyền xét xử của Toà án đối với
các khiếu kiện hành chính; đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện
hành chính tại Toà án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng,
bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Toà án...".
Trên cơ sở chủ trương đó của Đảng, ngày 05/4/2006, Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội khoá XI đã ban hành Pháp lệnh số 29/2006/PL-UBTVQH11 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành
chính. Theo đó, số lượng các khiếu kiện thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án
đã được mở rộng lên tới 22 loại việc. Như vậy, qua những lần sửa đổi, bổ
sung thẩm quyền xét xử của Toà án đối với các khiếu kiện hành chính đã liên
tục được mở rộng nhưng vẫn hạn chế thẩm quyền xét xử của Tòa án, không
đáp ứng được sự phát triển của điều kiện kinh tế xã hội và nhu cầu của thực
tiễn. Ngày 24/11/2010, Quốc hội khoá XII, Kỳ họp thứ 8 đã thông qua Luật
Tố tụng hành chính, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2011. Luật Tố tụng
hành chính 2010 đã khắc phục hạn chế của các Pháp lệnh trước đây bằng việc
quy định mang tính loại trừ - một phương pháp rất mở và bao quát, bao gồm
chọn đề tài "Thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính tại Tòa án nhân dân Từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa" làm luận văn thạc sĩ luật học.
3
2. Tình hình nghiên cứu
Từ khi Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính năm 1996 ra
đời cho đến khi có Luật tố tụng hành chính năm 2015 thì tài phán hành chính
nói chung, tố tụng hành chính nói riêng là đối tượng nghiên cứu cho nhiều
học giả. Có thể kể đến một số bài viết và đề tài nghiên cứu liên quan đến thẩm
quyền xét xử các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân như:
- Luận án Tiến sĩ luật học của tác giả Trần Kim Liễu “Tòa hành chính
trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì
dân” bảo vệ năm 2011;
- Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Thanh Bình “Thẩm quyền của
Tòa án nhân dân trong việc giải quyết khiếu kiện hành chính” bảo vệ năm 2003;
- Luận án Tiến sĩ luật học của tác giả Nguyễn Quốc Hồng “Đổi mới tổ
chức và hoạt động của Tòa hành chính đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước
pháp quyền Việt nam hiện nay” bảo vệ năm 2007;
Ở cấp độ Luận văn thạc sỹ, có thể kể đến luận văn có liên quan đến
thẩm quyền xét xử vụ án hành chính của Tòa án như:
- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Mạnh Hùng về “Thẩm
quyền xét xử hành chính của Tòa án nhân dân” bảo vệ năm 2002;
- Luận văn thạc sĩ luật học của tác giả Nguyễn Hồng Bách “Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn trong hoạt động xét xử các vụ án hành chính ở nước ta
hiện nay” bảo vệ năm 2003.
Những công trình nói trên tập trung nghiên cứu ở khía cạnh có liên
quan đến những vấn đề chung về tài phán hành chính, thẩm quyền xét xử án
hành chính của Tòa án, cơ cấu tổ chức và hoạt động của Tòa hành chính.
Liên quan đến vấn đề thẩm quyền xét xử vụ án hành chính có thể kể
tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng quy định đó.
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Nghiên cứu làm rõ khái niệm chung về thẩm quyền xét xử các vụ án hành
chính của Tòa án trong tố tụng hành chính, rút ra đặc điểm, lịch sử phát triển.
5
- Phân tích, đánh giá từng trường hợp cụ thể về thẩm quyền xét xử các
vụ án hành chính của Tòa án theo Luật tố tụng hành chính.
- Tìm hiểu thực tiễn thi hành quy định về thẩm quyền xét xử các vụ án
hành chính của Tòa án trong Luật tố tụng hành chính thông qua việc tổng hợp
số liệu giải quyết và đánh giá một số bản án sơ thẩm bị Tòa án cấp phúc thẩm
hủy, sửa của tỉnh Thanh Hóa. Đồng thời làm rõ những hạn chế xung quanh
việc áp dụng và những nguyên nhân của nó.
- Đề ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trên thực tiễn quy
định pháp luật về thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính của Tòa án trong
Luật tố tụng hành chính.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật tố
tụng hành chính Việt Nam về thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính của
Tòa án; thực tiễn thi hành quy định của Luật Tố tụng hành chính về thẩm
quyền xét xử các vụ án hành chính của Tòa án nhân dân hai cấp tỉnh Thanh
Hóa trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến nay. Trong khuôn khổ hạn chế
của luận văn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu khái quát về thẩm quyền xét xử
các vụ án hành chính của tòa án ở cấp sơ thẩm (không nghiên cứu về thẩm
quyền xét xử vụ án hành chính ở cấp phúc thẩm, thẩm quyền phán quyết của
hội đồng xét xử và trình tự, thủ tục giải quyết, xét xử của Tòa án trong giải
quyết vụ án hành chính), tìm hiểu những hạn chế trong các quy định của pháp
luật cũng như những khó khăn, vướng mắc trong việc áp dụng những quy
định pháp luật vào thực tiễn xét xử tại Tòa án hai cấp tỉnh Thanh Hóa để đưa
* Chương 2: Thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính của Tòa án nhân
dân theo Luật tố tụng hành chính và thực tiễn áp dụng ở tỉnh Thanh Hóa.
* Chương 3: Các giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành quy định của Luật
tố tụng hành chính về thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính của Tòa án.
* Kết luận.
* Danh mục tài liệu tham khảo.
7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN
HÀNH CHÍNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
1.1. Quan niệm chung về thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính
của tòa án nhân dân
1.1.1. Khái quát chung về vụ án hành chính
Nhà nước pháp quyền khác với nhà nước khác ở mối quan hệ giữa công
quyền với người dân. Trong nhà nước phong kiến mối quan hệ giữa Nhà nước
và công dân là mối quan hệ một chiều thể hiện ở việc thần dân chịu trách
nhiệm trước Nhà nước mà không có chiều ngược lại: chính Nhà nước cũng
phải chịu trách nhiệm trước người dân. Trong Nhà nước pháp quyền, mối
quan hệ giữa Nhà nước và công dân là mối quan hệ qua lại hai chiều. Nhà
nước hoàn toàn có thể và có nguy cơ bị công dân của mình khởi kiện ra Tòa
án nếu các quyết định của cơ quan thực hiện quyền hành pháp, hành vi công
vụ của công chức xâm hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Bên cạnh đó khi nói đến Nhà nước pháp quyền là nói đến một Nhà
nước mà ở đó quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong Hiến
pháp và pháp luật, đồng thời được bảo đảm thực hiện và bảo vệ trên thực tế
bằng các chế định pháp lý khác nhau. Khi quyền công dân bị xâm phạm bởi
cơ quan hành chính thì một trong những chế định pháp lý bảo vệ quyền công
dân hiệu quả nhất là việc giải quyết khiếu kiện bằng con đường Tòa án. Như
cứ đầu tiên để Tòa án xem xét thụ lý đơn khởi kiện nhưng không phải trường
hợp nào Tòa án thụ lý đơn khởi kiện cũng phát sinh vụ án hành chính. Việc
nhận đơn và thụ lý đơn khởi kiện phải tuân theo trình tự tố tụng nhất định.
Có thể nói các tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội rất đa dạng và
phong phú. Pháp luật quy định cụ thể về từng loại tranh chấp trong lĩnh vực
dân sự, kinh doanh thương mại, hành chính, do đó tùy từng loại tranh chấp cụ
thể mà xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án hay các cơ quan hành
9
chính Nhà nước. Để phân biệt tranh chấp hành chính với các loại tranh chấp
khác cần xác định tranh chấp hành chính là “tranh chấp phát sinh trong các
lĩnh vực khác nhau của hoạt động hành chính nhà nước” [35, tr.124-125].
Tranh chấp giữa chủ thể quản lý hành chính nhà nước với đối tượng quản lý
hành chính nhà nước phát sinh khi chủ thể quản lý hành chính nhà nước sử
dụng quyền lực nhà nước xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của đối
tượng quản lý nhà nước. Việc giải quyết tranh chấp này phải theo trình tự thủ
tục giải quyết khiếu nại hành chính hoặc giải quyết tại Tòa án theo thủ tục tố
tụng hành chính. Nếu các tranh chấp hành chính được giải quyết tại Tòa án thì
phát sinh vụ án hành chính, việc giải quyết vụ án hành chính sẽ tiến hành theo
trình tự thủ tục tố tụng do pháp luật quy định.
Mục đích của giải quyết khiếu kiện hành chính của công dân không chỉ
nhằm khôi phục, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân bị xâm
phạm từ phía các cơ quan hành chính nhà nước và các cán bộ, công chức hành
chính Nhà nước, mà còn góp phần phát hiện những hạn chế, khiếm khuyết
trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp,
những hành vi sai phạm của cán bộ, công chức khi thi hành công vụ.
Không phải mọi tranh chấp hành chính khi có yêu cầu khởi kiện thì đều
phát sinh vụ án hành chính mà điều quan trọng là tranh chấp hành chính đó
nên có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm thẩm quyền.
Theo từ điển tiếng Việt: “Thẩm quyền là quyền xem xét để kết luận và
định đoạt một vấn đề theo pháp luật” [51, tr.992].
Theo từ điểm Luật học thì Thẩm quyền được hiểu là: “Quyền chính thức
được xem xét để kết luận và định đoạt, quyết định một vấn đề” [53, tr.701]
Theo các khái niệm này, thẩm quyền gắn liền với quyền và nghĩa vụ
mà pháp luật quy định cho cơ quan nhà nước, người nắm giữ những chức vụ
lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan đó để thực hiện chức năng và nhiệm vụ
11
của họ. Mỗi cơ quan Nhà nước có chức năng và thẩm quyền được phân định
theo lĩnh vực, ngành, khu vực hành chính, cấp hành chính. Thực hiện chức
năng này, Tòa án có thẩm quyền xét xử.
Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc
nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó
nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết phù hợp với bản chất, mức độ trái
hay không trái pháp luật của vụ việc... Theo pháp luật hiện hành, Tòa án nhân
dân tối cao, Tòa án nhân dân các địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa
án khác do luật định là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam. Nghĩa là thẩm quyền xét xử là thẩm quyền chuyên biệt của Tòa án
mà không phải của bất kỳ một cơ quan nhà nước nào khác. Đó là quyền của
Tòa án được xem xét, đánh giá, đưa ra phán xét về tính chất, mức độ pháp lý
của một vụ việc, nhưng quan trọng nhất chính là được nhân danh Nhà nước
đưa ra một phán quyết để giải quyết vụ việc về mặt pháp lý.
Theo từ điển Luật học: “Thẩm quyền xét xử của Tòa án là quyền xem
xét và định đoạt trong hoạt động xét xử của Tòa án theo quy định của pháp
luật” [53, tr. 701].
Để làm rõ khái niệm này, Từ điển Luật học đưa ra hai cách hiểu cụ thể:
Xác định thế nào là một tranh chấp hành chính thuộc thẩm quyền xét
xử của Tòa án là một vấn đề khá phức tạp. Về nguyên tắc, nên coi tất cả các
tranh chấp có tính chất hành chính (trừ một số lĩnh vực nhất định) thuộc thẩm
quyền xét xử của Tòa án. Tuy nhiên, cần có những quy định rõ ràng trong văn
bản pháp luật để tạo thuận lợi cho công dân và cả Tòa án xác định được
những vụ việc thuộc thẩm quyền của mình. Tòa án có thẩm quyền giải quyết
các khiếu kiện đối với hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước hoặc cán
bộ, công chức trong cơ quan hành chính Nhà nước khi thi hành công vụ. Như
vậy đối tượng chủ yếu của xét xử hành chính là các quyết định hành chính,
hành vi hành chính trong hoạt động quản lý hành chính của cơ quan nhà nước,
giải quyết các tranh chấp hành chính giữa Nhà nước và công dân.
13
Khái niệm thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính là căn cứ để phân
biệt với thẩm quyền xét xử các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hôn nhân và gia
đình... và cũng là một trong những căn cứ để phân định ngành Luật tố tụng
hành chính với các ngành luật quy định về tố tụng khác trong hệ thống pháp
luật Việt Nam. Vì vậy không được nhầm lẫn thẩm quyền xét xử các vụ án hành
chính được quy định cho Tòa án nói chung với quyền hạn của Tòa án ở các giai
đoạn trong quá trình giải quyết vụ án (như quyền quyết định đối với yêu cầu
của người khởi kiện tại cấp sơ thẩm, quyền quyết định đối với kháng cáo ở cấp
phúc thẩm, quyền quyết định đối với kháng nghị giám đốc thẩm,....).
Việc trao cho Tòa án chức năng xét xử các vụ án hành chính tạo ra cơ
chế riêng, độc lập, khách quan, công khai, dân chủ, công bằng hơn để bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức trước khả năng bị
xâm hại bởi quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan nhà nước,
người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước.
Trong hệ thống pháp luật nói chung và đặc biệt là pháp luật về quản lý
(luật hành chính) hiện nay ở nước ta chưa phát triển, chúng ta không phân
vẫn có thể ban hành. Việc xem xét lại các đạo luật này chỉ có thể là Nghị viện
mà không thể là Hội đồng Nhà nước.
Hai là, tòa án không giới hạn xem xét các vấn đề hành chính được liệt
kê cũng như không công nhận điều khoản dự phòng (trong trường hợp pháp
luật có quy định khác). Luật hành chính Pháp chỉ đưa ra một nguyên tắc ngoại
lệ là tòa án sẽ không xem xét, giải quyết các vụ việc liên quan đến quá trình
lập pháp của cơ quan Nghị viện, các mối quan hệ luật pháp quốc tế, các hoạt
động hành chính nhưng mang bản chất dân sự như hợp đồng hành chính... Về
nguyên tắc, người dân có thể kiện bất kỳ một quyết định hay hành vi công
quyền nào ra tòa án có thẩm quyền nếu không thuộc những trường hợp ngoại
lệ. Chính phủ không thể tự ý trao cho tòa án quyền xét xử một vụ việc nào
đấy thông qua điều khoản dự phòng như Việt Nam đã từng có.
15
Ba là, Tòa án hành chính Pháp có thể giải quyết các vụ kiện đòi bồi
thường thiệt hại do hành chính gây ra.
Bốn là, về căn cứ để đưa ra phán quyết, luật của các nước này đều cho
phép tòa án phán quyết tính hợp pháp của các quyết định và hành vi bị kiện.
Tuy nhiên, họ quy định rõ việc xem xét tính hợp pháp về hình thức và nội dung
của đối tượng khởi kiện, chẳng hạn: luật của Pháp quy định rõ hai căn cứ để
xem xét về hình thức là: 1) không đúng thẩm quyền; 2) vi phạm các quy định
về thủ tục; và hai căn cứ để xem xét về nội dung là: 1) vi phạm nội dung luật;
2) sự lạm dụng quyền lực. Bên cạnh đó, xuất phát từ học thuyết về giới hạn
quyền tự định đoạt, hành chính có những quyền tự quyết định trong phạm vi
của mình. Như vậy, trong một số trường hợp, tòa án có thể xem xét các quyết
định hay hành vi này có vượt ngưỡng của quyền tự định đoạt hay không.
Năm là, tòa án có thể xem xét tính hợp pháp của các quyết định, hành
vi công quyền bất kể khi nào khi có yêu cầu khởi kiện mà không cần trải qua
dân sự giải quyết. Tòa thấp nhất là Tòa án sơ cấp thuộc các bang, gọi chung là
Tòa án hành chính. Mỗi bang có nhiều Tòa án hành chính sơ cấp.
Cộng hòa liên bang Đức cũng như Cộng hòa Pháp, có hệ thống cơ quan
tài phán hành chính hoàn toàn độc lập với Tòa án tư pháp, nhưng khác với cơ
quan tài phán hành chính ở Pháp, cơ quan tài phán hành chính ở Đức không
có thêm chức năng tư vấn pháp lý. Trong hệ thống Tòa án hành chính có 52
Tòa án hành chính khu vực, 16 Tòa án chính liên khu vực và một Tòa án hành
chính liên bang. Quyền về bảo vệ pháp luật “triệt để” của công dân trước
quyền lực hành pháp phát sinh từ khoản 4 điều 19 của Hiến pháp. Tính triệt
để này được thể hiện ở chỗ công dân được bảo vệ trước tất cả các văn bản
hành chính hay nói cách khác, các Tòa án phải bảo đảm sự bảo vệ pháp luật
về mặt nguyên tắc chống lại tất cả những hành vi vi phạm pháp luật của cơ
quan hành pháp. Các thẩm phán hành chính có nghĩa vụ phải nghiên cứu nội
dung, làm rõ việc tranh chấp và trong trường hợp cần thiết có thể đưa ra ý
17
kiến của mình về cách giải quyết vụ việc. Tòa án không bị ràng buộc bởi các
bằng chứng và giải trình của các bên. Bằng nguyên tắc này, Tòa án hành
chính có thể bù đắp sự không cân bằng giữa công dân và cơ quan hành chính
và có thể giúp đỡ công dân trong quá trình tố tụng.
1.2.3. Mô hình và thẩm quyền xét xử các vụ án hành chính của tòa
án thường có chức năng tài phán hành chính
Hệ thống này với những hình thức khác nhau được áp dụng ở nhiều
nước như ở các nước Anglo-saxon như Anh Quốc, Hoa Kỳ, Ailen, Na Uy,
Đan Mạch, Canada, Síp, Nhật Bản…
Ở những nước theo hệ thống này dường như không tồn tại khái niệm
về lợi ích công trong phân biệt với lợi ích cá nhân nên Luật hành chính
không phải là một ngành luật phát triển. Các quan hệ xã hội chủ yếu được