Vốn xã hội và sức khoẻ của lao động di cư đến thành phố hồ chí minh tt - Pdf 45

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

----------------------

NGUYỄN LÊ HOÀNG THUỴ TỐ QUYÊN

VỐN XÃ HỘI VÀ SỨC KHOẺ CỦA LAO ĐỘNG DI CƯ
ĐẾN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Kinh tế - Phát triển
Mã số: 62310105

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP.Hồ Chí Minh - Năm 2017


Công trình này được hoàn thành tại: Trường Đại học Kinh
tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Hữu Dũng
PGS.TS. Nguyễn Văn Phúc
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp
trường họp tại:
Vào hồi

giờ ngày


in Ho Chi Minh City, Vietnam. Journal of Economics &
Development. 18(3)
6. Nguyễn Văn Phúc, Quan Minh Quốc Bình, Nguyễn Lê
Hoàng Thuỵ Tố Quyên (2016). Đo lường sự thành công


nghề nghiệp của lao động di cư đến thành phố Hồ Chí
Minh. Tạp chí Kinh tế & Phát triển. 234(11).
7. Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên, Nguyễn Thanh
Phong, Nguyễn Văn Phúc, Huỳnh Đặng Bích Vy (2017).
Prioritization of social indicators using extent analysis
method. International Journal of Advanced and Applied
Sciencies, 4(10) (ISI)
8. Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên, Nguyễn Hữu Dũng,
Nguyễn Văn Phúc (2017). Social capital and health:
Evidence from Vietnam. International Journal of
Economic Research, 14(9) (SCOPUS)
9. Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên (2017). Roles of social
capital in health production model: evidence from
Vietnam. International Journal of Applied Business and
Economic Research,15 (SCOPUS)
10. Nguyễn Lê Hoàng Thuỵ Tố Quyên (2017). Indirect
impact of social capital on health: evidence from rural to
urban migrant laborers in Vietnam. International Journal
of Economics Perspectives (SCOPUS) (kèm theo thư của
Tổng Biên Tập xác nhận đăng bài)
Các đề tài đã tham gia
1. Vốn xã hội và sức khỏe người già tại khu vực đồng bằng
sông Cửu Long, thành viên đề tài cấp Trường, bắt đầu năm
2012, đã nghiệm thu 2013, loại Tốt.

sức khoẻ, một trong 17 mục tiêu phát triển bền vững đến năm 2030
của Liên Hiệp Quốc.
1.1.2

Bối cảnh lý thuyết
Từ năm 1897, Durkheim đã tìm thấy bằng chứng về vai trò

của vốn xã hội đối với sức khỏe (Durkheim, 1897). Vốn xã hội và sức
khỏe ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm của cộng đồng nghiên
cứu, đặc biệt là trong hai thập niên gần đây (Harpham & cộng sự,
2002). Nhìn chung, các nghiên cứu thực tiễn đã chứng minh vốn xã
hội có tác dụng tích cực đối với sức khỏe (Danso,2014; Stoyanova &
Diaz-Serrano,2013; Kim & cộng sự (2013); Rocco & Suhrcke, 2012;
Zhao & cộng sự, 2010).
Trong khi tác động tích cực của vốn xã hội đến sức khỏe được
chứng minh qua khá nhiều nghiên cứu thì cũng có nhiều kết quả ngược
lại được công bố. Các nhà nghiên cứu cho rằng sự không nhất quán
trong việc đo lường vốn xã hội đã gây hạn chế trong việc so sánh các


2
kết quả nghiên cứu và làm yếu các minh chứng về mối quan hệ này.Vì
vậy, cần đánh giá tất cả các khía cạnh khác nhau của vốn xã hội để có
thể đưa ra kết luận về vai trò của vốn xã hội thay vì chỉ xem xét vốn
xã hội ở từng khía cạnh riêng lẻ như trong các nghiên cứu về sức khỏe
trước đây (Hawe & Shiell, 2000; Wolf & cộng sự, 2010). Han & cộng
sự (2012) cho rằng việc phân tích tác động của từng loại vốn xã hội
đến sức khỏe của từng đối tượng cụ thể và cơ chế tác động là rất cần
thiết.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này tập trung vào di cư nội địa, cụ thể là di cư từ

các tỉnh, thành khác đến TP.HCM. Trong nghiên cứu này, vốn xã hội
và sức khoẻ được xem xét ở cấp độ cá nhân. Nghiên cứu tiến hành
khảo sát số liệu sơ cấp tại TP.HCM, từ tháng 9/2015 đến tháng 1/2016,
bao gồm 2 giai đoạn với câu hỏi mở ở giai đoạn 1 và bảng hỏi cấu trúc
với những câu hỏi đóng ở giai đoạn 2.
1.5.2

Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận án là vốn xã hội và sức khoẻ

của người lao động di cư đến TP.HCM
1.5.3

Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu là lao động di cư đến TP. HCM, thoả

mãn ba điều kiện: i) những người trong độ tuổi từ 18-55; ii) đang sống
và làm việc tại thành phố từ 6 tháng đến 10 năm; và iii) nơi sinh ra và
lớn lên (0-dưới 18 tuổi) không phải là TP.HCM.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.6.1

Kỹ thuật Delphi và Mô hình AHP: nhằm xác định các chiều
kích và chỉ báo đo lường biến vốn xã hội trong bối cảnh Việt
Nam

1.6.2


nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu cho thấy: mạng lưới bắc cầu - kết nối
giúp cải thiện khía cạnh GH của sức khoẻ. Bên cạnh tác động trực tiếp,
mạng lưới này còn giúp tăng cường vốn con người, từ đó tác động đến
thói quen ăn uống lành mạnh và cải thiện khía cạnh MH của sức khoẻ.


5
Bên cạnh đó, lòng tin tổng quát giúp cải thiện sức khoẻ ở các khía cạnh
GH, PF, VT và SF. Tương tự, mạng lưới bắc cầu giúp tăng cường sức
khoẻ ở các khía cạnh GH, PF và SF. Ngoài ra, nghiên cứu cũng cho
thấy lòng tin cụ thể có tác động âm, có ý nghĩa thống kê ở mức 5%,
đối với các khía cạnh PF, SF và BP của sức khoẻ. Nhìn chung, kết quả
nghiên cứu đã cung cấp bức tranh toàn diện về vai trò của vốn xã hội
đối với sức khoẻ, giúp giải quyết vấn đề tranh luận về các kết quả
nghiên cứu trước đây.
1.7.2

Ý nghĩa khoa học
Thứ nhất, nghiên cứu góp phần hệ thống hoá lý thuyết về vốn

xã hội và chỉ ra thứ tự quan trọng của các loại vốn xã hội cấu thành
nên chỉ số tổng hợp đo lường vốn xã hội. Kết quả nghiên cứu giúp: 1)
cung cấp thông tin tổng quan về vốn xã hội của lao động di cư từ nông
thôn đến TP.HCM 2) là cơ sở cho các nghiên cứu vi mô về tác động
của vốn xã hội trong bối cảnh Việt Nam.
Thứ hai, nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ vai trò cũng như
cơ chế tác động của từng loại vốn xã hội đối với sức khoẻ.
Thứ ba, nghiên cứu đề xuất việc áp dụng kết hợp phương pháp
Delphi, AHP và PLS-SEM nhằm gia tăng sự thống nhất về việc nhận
dạng vốn xã hội, đánh giá thứ tự quan trọng của các loại vốn xã hội và


Lao động di cư

Định nghĩa lao động di cư của luận án này là: i) những người từ 18-55
tuổi vì phạm vi tuổi này thuộc độ tuổi lao động ở Việt Nam (từ 15 đến
55 tuổi, đối với nữ và 60 tuổi, đối với nam); ii) đang sống và làm việc
hoặc đang tìm việc làm tại TP.HCM từ trên 6 tháng đến 10 năm.
Như vậy, định nghĩa lao động di cư của luận án đã loại trừ
trường hợp di cư nội bộ trong phạm vi TP.HCM, cụ thể là những người
đăng ký hộ khẩu tại một nơi, nhưng lại cư trú tại một nơi khác cũng
trong TP.HCM
2.2.2
2.2.2.1

Sức khỏe
Định nghĩa
Để phục vụ cho mục đích của nghiên cứu này, tác giả sẽ tập

trung vào định nghĩa và đo lường sức khỏe cá nhân, xem xét sức khoẻ


7
là "trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội chứ
không phải là không có bệnh hay thương tật" (WHO,1948)
2.2.2.2

Đo lường
Từ năm 1991, bộ câu hỏi khảo sát sức khoẻ rút gọn gồm 36

câu hỏi (SF-36) đã được dự án đánh giá chất lượng quốc tế xếp hạng

Bourdieu (1986) cũng đồng quan điểm với Hanifan (1916) khi cho
rằng vốn xã hội có được từ việc sở hữu mạng lưới bền vững các mối
quan hệ quen biết, đã được thể chế hóa. Bourdieu (1986) đã mở rộng
khái niệm vốn xã hội của Hanifan (1916) khi cho rằng tất cả các mạng
lưới quen biết góp phần tạo ra vốn xã hội. Coleman (1988) đã bổ sung
thêm điều kiện là mối quan hệ được định hướng dựa trên các chuẩn
mực (norms). Fukuyama (1995) đã bao quát hơn khi cho rằng vốn xã
hội là nguồn lực hình thành từ lòng tin xã hội. Như vậy, định nghĩa
vốn xã hội chỉ đầy đủ khi bao gồm cả hai khía cạnh: cấu trúc và tri
nhận. Khía cạnh cấu trúc của vốn xã hội đề cập mạng lưới và thể chế
kết nối con người lại với nhau, đây là khía cạnh khách quan và có thể
quan sát được (hữu hình).Khía cạnh tri nhận của vốn xã hội ám chỉ các
giá trị (values) như chuẩn mực, lòng tin, trách nhiệm và kỳ vọng của
mỗi người, trong đó lòng tin thường được xem như là thành tố chính
của khía cạnh vốn xã hội tri nhận (Putnam, 1993, 1995, 2000;
Fukuyama, 1995; Dasgupta,2005).
a) Các cấp độ của vốn xã hội: vi mô, vĩ mô và trung
gian
b) Các lý thuyết về vốn xã hội: lý thuyết mối liên hệ
yếu; lý thuyết lỗ hổng cấu trúc; lý thuyết nguồn lực xã
hội
c) Phân loại vốn xã hội theo chức năng: gắn bó, bắc
cầu, kết nối.
d) Khung phân tích khái niệm vốn xã hội


9
Trong luận án này, biến vốn xã hội được phân tích ở 2 khía
cạnh: mạng lưới (ML) và lòng tin (LT). Ngoài ra, khía cạnh mạng lưới
còn được xem xét theo chức năng, bao gồm: i) mạng lưới gắn bó, ii)



10
hóa bổ sung của x. Becker & Murphy (2009) cũng cho rằng việc giả
định x, y và S có ảnh hưởng gián tiếp đến độ thỏa dụng sẽ thực tế hơn.
Như vậy, x, y và S sẽ là nhập lượng của hàm sản xuất để sản xuất ra
hàng hóa, là đối tượng được tiêu dùng nhằm tạo ra mức thỏa dụng. Với
cách tiếp cận này, mô hình sản xuất sức khỏe của Grossman (1972)
được áp dụng.
Ý tưởng lý thuyết sản xuất sức khỏe được áp dụng để xây dựng
nên hàm thỏa dụng như sau;
Ui= U(Hi, Zi)
Trong đó :
Hi : vốn sức khỏe
Zi : tiêu thụ hàng hóa khác
Theo Folland (2008), giả định hàm sản xuất sức khỏe:
Hi=H(HI, SC)
.

Trong đó:
HI: nhập lượng việc sản xuất sức khỏe
SC: vốn xã hội
Giả định là mỗi cá nhân sẽ chọn sự kết hợp các nhập lượng

cho hàm hữu dụng và mức hữu dụng được tối đa hóa dưới ràng buộc
của ngân sách và thời gian như sau:
Max Ui= U(Hi, Zi)
Ràng buộc:

Hi=H(HI, SC)

Như vậy, khi vốn xã hội tăng, tất cả những yếu tố khác không
thay đổi, thì hành vi có hại cho sức khỏe sẽ giảm.
2.3.1.1

Vai trò của mạng lưới gắn bó và lòng tin cụ thể đối với
và sức khoẻ
Do mối liên hệ mạnh thường có hiệu ứng bảo vệ cao nên sự

trợ giúp xúc cảm thường gắn kết với loại vốn xã hội này. Vốn xã hội
gắn bó cũng có những mặt tiêu cực đối với sức khỏe như tạo ra áp lực
đối với người di cư về việc chuyển tiền trợ giúp gia đình, sự thiếu hụt
tình cảm khi sống xa gia đình và những khó khăn trong việc hội nhập
vào cuộc sống nơi thành thị, tác động tiêu cực đến hành vi chăm sóc
sức khoẻ dự phòng (Moran-Taylor, 2008; Young, 2001; Story, 2014).
2.3.1.2

Vai trò của mạng lưới bắc cầu và lòng tin tổng quát đối
với sức khoẻ
Các mối quan hệ bắc cầu thực sự quan trọng đối với dân di cư

khi họ tìm đến mạng lưới rộng lớn hơn bên ngoài cộng đồng nhỏ hẹp


12
của mình, nhờ đó họ tiếp cận được nhiều nguồn lực có giá trị hơn, ví
dụ như cơ hội việc làm (Heath & Yu, 2005), dịch vụ chăm sóc sức
khỏe (Deri, 2005).Tuy nhiên, vốn xã hội bắc cầu cũng có hạn chế nhất
định như nguồn lực hạn chế, có tác động tiêu cực đến sức khoẻ tinh
thần (Miyamoto & cộng sự, 2015).
2.3.1.3

13
lao động di cư đến Canada trong cuộc khảo sát người di cư đến Canada
(LSIC) tháng 10/2000 và tháng 9/2001, gồm 3 vòng phỏng vấn: 6
tháng (vòng 1), 2 năm (vòng 2) và 4 năm (vòng 3) sau khi đến Canada.
Kết quả mô hình GEE cho thấy có sự khác biệt về tác động của từng
loại mạng lưới đến sức khỏe giữa các nhóm dân di cư khác nhau. Phát
hiện này gợi mở việc cần tìm hiểu và lý giải vai trò của việc tham gia
hội nhóm đối với sức khỏe.
Với cùng bộ dữ liệu LSIC và mô hình hồi quy Probit tác động
ngẫu nhiên, nghiên cứu của Berchet & Laporte (2012) đã góp phần
phân tích vai trò của các hội nhóm khác nhau đối với sức khỏe. Việc
tham gia một số hội nhóm có liên quan đến sức khỏe có tác động đến
tình trạng sức khỏe tốt hơn các hội nhóm khác. Ngoài ra, Berchet &
Laporte (2012) còn cho thấy tác động thay thế giữa vốn xã hội và vốn
con người trong việc gia tăng tình trạng sức khỏe, trong khi đối với
việc sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe thì hai biến này có tác động
bổ sung.
Stoyanova & Diaz-Serrano (2013) đã sử dụng bộ dữ liệu trong
cuộc điều tra sức khỏe 2006 của Tây Ban Nha, áp dụng mô hình đa
cấp (multilevel) và kết quả nghiên cứu cho thấy vốn xã hội có tác động
tích cực đến sức khỏe. So với cư dân bản địa, người di cư có mạng
lưới xã hội kém hơn, do đó tác động của vốn xã hội đến sức khỏe của
người di cư cũng ít hơn. Với nghiên cứu này, Stoyanova & DiazSerrano (2013) đã góp phần làm giàu lý thuyết về vốn xã hội và sức
khỏe khi xây dựng chỉ số vốn xã hội bao gồm cả hai khía cạnh (cấu
trúc và tri nhận). Tuy nhiên, nghiên cứu chưa đi sâu vào lý giải cơ chế
mà vốn xã hội tác động đến sức khỏe của người di cư, qua đó hiểu rõ
hơn tác động tích cực cũng như tiêu cực của từng loại vốn xã hội.


14

15
2.3.3

Mô hình nghiên cứu và các biến
Vốn con người

H2 (+)

- Giáo dục
Vốn xã hội

Hành vi lành mạnh

H2(+)

- Gắn bó
- Bắc cầu
- Kết nối

H2(+)

- Thói quen ăn uống

Sử dụng dịch vụ

H3(+/-)

Đặc

điểm

Chức năng thể chất (PF);
Vai trò thể chất (PR); Đau

H1 (+)

cơ thể (BP);Sức khỏe tổng
quát

(GH);

Sức

sống

(VT);Chức năng xã hội
(SF);Vai

trò

xúc

cảm

(RE);Sức khoẻ tinh thần
(MH)

Nguồn: tác giả đề xuất dựa trên lược khảo lý thuyết
Hình 2. 1: Mô hình nghiên cứu
TÓM TẮT


chuyên gia thì đáng tin cậy hơn cá nhân, có ưu điểm nổi bật là tránh
sự đối đầu trực tiếp giữa các chuyên gia (Dalkey & Helmer, 1963;
Okoli & Pawlowski, 2004), thường được tiến hành tối thiểu 2 vòng để
có thể nhận phản hồi và cấu trúc lại bảng hỏi nhằm hướng đến kết quả
ổn định (Mullen,2003), với quy mô từ 10-15 chuyên gia (Skulmoski
& cộng sự, 2007). Các tiêu chí như: phân bố theo tần suất, độ lệch
chuẩn, khoảng tứ phân vị được sử dụng để đánh giá sự nhất trí của các
chuyên gia.
3.3.1.2

Phương pháp AHP
Đây phương pháp xây dựng mô hình đo lường thông qua so

sánh cặp dựa trên ý kiến của chuyên gia để tính toán thang đo ưu tiên,
dùng trong việc đo lường các biến không quan sát được, bao gồm các
bước: 1) xây dựng mô hình thứ bậc đo lường vốn xã hội; 2) thiết lập
ma trận so sánh cặp của các chỉ báo/thang đo; 3) tính toán vectơ ưu
tiên của các chỉ báo/thang đo; 4) thử tính nhất quán của từng chỉ
báo/thang đo; 5) tổng hợp các trọng số của vectơ ưu tiên của các chỉ
báo/thang đo; 6) kết luận mô hình


17
Phương pháp phân tích đường dẫn (path-analysis): Mô

3.3.2

hình cấu trúc (SEM)
Trước khi áp dụng kỹ thuật PLS-SEM để phân tích dữ liệu,
việc sàng lọc dữ liệu được tiến hành thông qua các kiểm tra sau: (i)

áp dụng trong luận án này. Khảo sát được thực hiện với người lao động
di cư sống tại 480 địa chỉ (10 quận/huyện x 2 phường/xã x 2 tổ dân
phố x 2 con đường x 6 địa chỉ =480 địa chỉ). Tại mỗi địa chỉ, tác giả
phỏng vấn tất cả những quan sát thuộc đối tượng nghiên cứu.
TÓM TẮT


18
CHƯƠNG 4: MÔ HÌNH ĐO LƯỜNG VỐN XÃ HỘI

4

GIỚI THIỆU
KỸ THUẬT DELPHI
Trong nghiên cứu này, 12 chuyên gia, bao gồm 4 nhà nghiên
cứu về vốn xã hội, 2 nhà nghiên cứu về lao động di cư, 6 nhà nghiên
cứu về kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội được lựa chọn theo 4 tiêu chí
sau: 1) có kiến thức và kinh nghiệm về vốn xã hội; 2) sẵn lòng tham
gia; 3) có đủ thời gian để tham gia; và 4) kỹ năng giao tiếp hiệu quả.
Việc thảo luận thang đo được tiến hành thông qua các bước
sau:
Bước 1: Xây dựng khung đo lường vốn xã hội
Bước 2: Thảo luận thang đo tổng thể.
Kết quả thảo luận ở bước 2 là thang đo tổng thể đo lường vốn
xã hội, bao gồm 6 loại, trong đó (1) mạng lưới gắn bó (2) mạng lưới
bắc cầu (3) mạng lưới gắn bó – kết nối (4) mạng lưới bắc cầu-kết nối
thuộc khía cạnh cấu trúc và (5) lòng tin tổng quát (6) lòng tin cụ thể
thuộc khía cạnh tri nhận
Bước 3: Thảo luận về các biến quan sát của từng thang đo tổng
thể

gắn bó-kết nối, bắc cầu-kết nối, lòng tin tổng quát, lòng tin cụ thể
Hành vi lành mạnh đến sức khoẻ: bao gồm thói quen ăn
uống; khám sức khoẻ và bảo hiểm sức khoẻ
Giới tính: là biến giả, với 1 là “Nam” và 0 là “Nữ”
Tình trạng hôn nhân: tập trung vào 02 phạm trù “chưa lập
gia đình” và “khác”, sử dụng biến giả
Tuổi: được chia thành 3 nhóm chủ yếu dựa vào các cột mốc
quan trọng đánh dấu sự thay đổi về sức khoẻ 1) dưới 30 tuổi; 2) từ 3040 tuổi; và 3) trên 40 tuổi (Miron-Shatz & cộng sự, 2015; Le, 2013).
Nơi xuất cư
Theo Nguyễn Đức Khiển (2010), sức khoẻ con người có liên


20
quan chặt chẽ đến vị trí địa lý tự nhiên. Vì vậy, biến nơi xuất cư được
phân chia theo địa lý tự nhiên, thành 03 miền: 1) xuất cư từ miền Nam
2) xuất cư từ miền Trung và 3) xuất cư từ miền Bắc.
Thu nhập: tác giả theo nghiên cứu của Song (2013) phân chia
thu nhập thành 02 mức: thu nhập cao và khác.
Giáo dục: là biến liên tục, được đo bằng số năm đi học
Thời gian di cư: là biến liên tục, được đo bằng số năm.
CHIẾN LƯỢC PHÂN TÍCH: Mô hình PLS-SEM được ước
lượng bằng phần mềm R với gói PLSPM.
KẾT QUẢ MÔ HÌNH
5.5.1

Mô hình đo lường: tính đơn hướng cao, giá trị hội tụ và giá
trị phân biệt được xác nhận, mô hình đo lường có giá trị.

5.5.2


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status