SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT BA ĐÌNH – NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
HƯỚNG DẪN HỌC SINH LỚP 12
ÔN TẬP PHẦN ĐỌC - HIỂUVĂN BẢN THEO HƯỚNG THI THPT
QUỐC GIA MÔN NGỮ VĂN
Họ tên:
Trần Xuân Thành
Chức vụ:
Giáo viên
SKKN thuộc môn: Ngữ Văn
THANH HÓA, NĂM 2015
A/PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Theo hướng dẫn thi THPT Quốc gia năm 2014-2015, trong cấu trúc của một đề
thi có một phần dành cho việc đọc- hiểu văn bản nhằm đánh giá năng lực của học sinh. Như
vậy đọc- hiểu văn bản là một phần không thể thiếu trong bài thi của học sinh. Đọc- hiểu đòi
hỏi các em phải biết tổng hợp kiến thức, phát hiện, nhận biết kiến thức và vận dụng kiến thức
đã học để giải quyết một bài tập cụ thể. Do đó học sinh đang còn rất lúng túng, thậm chí chưa
hình thành được kỹ năng, phương pháp khi giải những bài tập thuộc dạng này.
Mặt khác, đối với học sinh thi cử luôn là một áp lực gây căng thẳng tâm lí cho các
em, đặc biệt là học sinh lớp 12.Thông thường các em lớp 12 đã có những tiếp thu căn bản
trong quá trình học song thời gian chia đều cho nhiều môn thi muốn để có kết quả cao không
phải là bài toán đơn giản.Vấn đề đặt ra là mỗi người thầy trong quá trình hướng dẫn cho các
em ôn thi cần phải có một phương pháp thiết thực để các em ôn tập đạt được hiệu quả cao
- Phương pháp nghiên cứu qua sản phẩm: bài làm và thống kê điểm của học sinh.
B/ PHẦN NỘI DUNG:
I. Những cơ sở của việc hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn tập phần đọc- hiểu văn bản theo
hướng thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn.
1. Cơ sở nhận thức.
Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người nhưng sự phản
ánh này không phải là sự đơn giản, thụ động mà là quá trình biện chứng dựa trên hoạt động
tích cực của chủ thể trong quan hệ đối với khách thể. Nhưng không phải con người nào cũng
đều là chủ thể của nhận thức.Con người trở thành chủ thể khi nó tham gia vào hoạt động xã
hội nhằm biến đổi nhận thức khách thể.Trong nhà trường, học sinh chính là chủ thể của hoạt
động nhận thức; còn khách thể chính là những tri thức kinh nghiệm.Theo cơ sở triết học: con
người tự làm ra mình bằng chính hoạt động của mình nhưng cái quan trong là làm ra cái đó
như thế nào vào bằng cách nào? Từ cơ sở ấy chúng ta có thể nói một cách đơn giản các em
học sinh lớp 12 không phải chỉ đơn giản là ôn cái gì mà điều quan trọng là ôn như thế nào?
Mặt khác, căn cứ vào văn bản hướng dẫn, chỉ thị hướng dẫn thi cử của Bộ GD &ĐT,
Sở GD &ĐT Thanh Hóa ban hành, đặc biệt là căn cứ vào đề thi mẫu môn Ngữ văn năm 2015
của Bộ đăng tải trên các báo và intrenet làm cơ sở để tôi hướng dẫn ôn tập cho học sinh.
2. Cơ sở thực tiễn.
Đọc- hiểu văn bản đòi hỏi cần phải hình thành được kỹ năng nếu không khó có thể
đạt được điểm tối đa ở câu hỏi này. Mặt khác nếu mất điểm ở phần này, các phần khác khó có
thể đạt được điểm tối đa nên điểm tổng của toàn bài sẽ thấp.
Qua kết quả thức tế mà tôi thống kê, tỷ lệ điểm ở phần này đạt được điểm tối đa
không cao.Vấn đề đặt ra cần phải có một cách hướng dẫn cụ thể mang tính khoa học để giúp
các em tháo gỡ những khó khăn trong quá trình thi cử.
II. Nội dung hướng dẫn học sinh lớp 12 làm bài tập phần đọc- hiểu văn bản theo hướng
thi THPT Quốc gia môn Ngữ văn.
1. Cấu trúc của một bài tập đọc- hiểu trong đề thi THPT Quốc gia.
Thông thường một bài tập đọc- hiểu văn bản gồm 2 phần:
3
câu chuyện Mỵ về làm người nhà quan thống lý.
4
(Trích Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài)
Đoạn văn trên được viết theo phương thức biểu đạt nào ?
Để trả lời được ở dạng câu hỏi như trên người giáo viên cần phải ôn lại cho các HS của
mình nắm được các phương thức biểu đạt của văn bản như sau :
STT
Kiểu văn bản
Đặc điểm của phương thức biểu đạt
Là việc trình bày một chuỗi các sự việc, sự việc
này dẫn đến sự việc kia và kết thúc mang một ý
1
Tự sự
nghĩa.
2
3
4
5
6
Miêu tả
Biểu cảm
Trong cấu trúc của câu hỏi của bài tập đọc- hiểu có thể xuất hiện dạng câu hỏi về các
loại phong cách ngôn ngữ. Cho nên thi hướng dẫn HS ôn tập và hình thành kỹ năng đọc hiểu
GV cần yêu cầu học sinh cần nắm vững 6 loại phong cách ngôn ngữ.
a. Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: Phong cách được dùng trong sinh hoạt hàng ngày không
quy định chặt chẽ về cách nói năng, cử chỉ, điệu bộ, lời nói, có thể nói lái, nói tiếng lóng…
không mang tính nghi thức, nhằm trao đổi tư tưởng, tình cảm với người thân, bạn bè…
b. Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: Sử dụng trong lĩnh vực nghệ thuật, được dùng rộng
rãi trong các sáng tác văn chương, không chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu
cầu thẩm mĩ của con người. Nó là ngôn ngữ được tổ chức, xếp đặt, lựa chọn, tinh luyện từ
ngôn ngữ thông thường và đạt được giá trị nghệ thuật - thẩm mĩ
c. Phong cách ngôn ngữ khoa học: Sử dụng trong các lĩnh vực khoa học, trong lĩnh vực
nghiên cứu, học tập, phổ biến khoa học. Là phong cách ngôn ngữ đặc trưng diễn đạt chuyên
môn sâu của những người làm công tác khoa học.
d. Phong cách hành chính - công vụ: Phong cách này dùng trong giao tiếp giữa Nhà nước
và nhân dân, nhà nước này với nhà nước khác, giữa cơ quan với cơ quan.
e. Phong cách ngôn ngữ chính luận: Nghị luận về vấn đề chính trị. Có lập luận chặt chẽ, lí
lẽ, dẫn chứng thuyết phục.
g. Phong cách ngôn ngữ báo chí ( Báo - công luận): Đòi hỏi tính thời sự, chính xác, logic,
ngắn gọn, thu hút sự chú ý của người đọc
Ví dụ Nhìn theo bóng Tràng và bóng người đàn bà lủi thủi đi về bến, người trong xóm
lạ lắm. Họ đứng cả trong ngưỡng cửa nhìn ra bàn tán. Hình như họ cũng hiểu được đôi
phần. Những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên. Có cái gì lạ lùng và
tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát, tăm tối ấy của họ. Một người thở dài. Người khác khẽ
thì thầm hỏi:
- Ai đấy nhỉ? ... Hay là người dưới quê bà cụ Tứ mới lên?
- Chả phải, từ ngày còn mồ ma ông cụ Tứ có thấy họ mạc nào lên thăm đâu.
- Quái nhỉ?
Im một lúc, có người bỗng lại cười lên rung rúc:
- Hay là vợ anh cu Tràng? ừ khéo mà vợ anh cu Tràng thật anh em ạ, trông chị ta thèn
Đi trả thù mà không sợ dài lâu
Ôi những dòng sông bắt nước từ lâu
Mà khi về Đất Nước mình thì bắt lên câu hát
Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác
Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”.
( Trích “Đất nước”- Trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm)
Người ra đề có thể yêu cầu : Nêu ý chính của đoạn thơ trên.
2.4 Dạng câu hỏi về các biện pháp tu từ.
Hỏi về biện pháp tu từ là người ra đề yêu cầu HS đánh giá về các biện pháp nghệ thuật và
hiệu quả của nó trong việc thể hiện nội dung của văn bản. Có nhiều biện pháp tu từ:
+ Biện pháp tu từ ngữ âm.
7
+ Biện pháp tu từ về từ.
+ Biện pháp tu từ cú pháp
Tuy nhiên, GV cần hướng dẫn cho các HS đặc biệt chú ý đến các biện pháp tu từ về từ. Cụ
thể là các biện pháp sau đây:
+ So sánh: So sánh là sự đối chiếu giữa các sự vật để làm nổi bật sự giống và khác nhau.Khi
phân tích hiệu quả của biện pháp này cần chú ý đến sự vật so sánh và sự vật được so sánh.
- Ẩn dụ: Là gọi tên sự vật, hiện tượng này bằng tên sự vật, hiện tượng khác dựa trên sự liên
tưởng về mối tương đồng giữa hai đối tượng nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn
đạt.
- Hoán dụ: Là gọi tên sự vật, hiện tượng, khái niệm bằng tên của sự vật, hiện tượng, khái
niệm có quan hệ gần gũi với nó, nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự vật.
- Ngoài ra cần chú ý đến một số các biện pháp khác như: Điệp từ, điệp ngữ, Liệt kê, Đối
lập
2.5. Dạng câu hỏi về từ vựng.
Câu hỏi đặt ra trong bài tập đọc- hiểu vô cùng phong phú, đa dạng có khi là câu hỏi về cấp
độ từ ngữ. Ỏ cấp độ từ GV hướng dẫn học sinh ôn tập không nên đi vào tìm hiểu ở phương
Dạng câu hỏi về các thao tác lập luận.
Trong cấu trúc của bài tập đọc- hiểu đôi khi người ra đề cuãng có thể đạt câu hỏi về các
thao tác lập luận. Do đó trong quá trình hướng dẫn ôn tập GV cũng cần ôn lại cho học sinh
nắm vững lí thuyết. Cụ thể các thao tác như sau:
a) Giải thích: Giúp người đọc hiểu đúng, hiểu rõ, hiểu sâu vấn đề thuộc về đời sống
hoặc văn học. Trả lời câu hỏi: ai?, cái gì?, tại sao?, vì sao?
b) Chứng minh: Kết hợp với lí lẽ, thao tác chứng minh dùng dẫn chứng cơ bản, đúng
đắn, toàn diện đủ sức thuyết phục người đọc, người nghe. Trả lời câu hỏi như thế nào?
c) Phân tích: Là chia vấn đề cần bàn luận ra thành các bộ phận (các phương diện, các
nhân tố) để có thể xem xét một cách cặn kẽ và kĩ càng.
d) Bình luận: Là bàn bạc, đánh giá về sự đúng sai, thật giả, lợi hại của các hiện tượng
đời sống như ý kiến, chủ kiến, việc làm.
e) So sánh: So sánh là một thao tác lập luận nhằm đối chiếu hai hay nhiều sự vật, hoặc
là các mặt trong cùng một sự vật. So sánh để chỉ ra những nét giống nhau gọi là so sánh
tương đồng. So sánh để chỉ ra sự khác biệt, đối chọi nhau gọi là so sánh tương phản. Nhưng
nhìn chung, so sánh là để thấy sự giống, khác nhau, từ đó mà thấy rõ đặc điểm và giá trị của
mỗi sự vật, hiện tượng.
g) Bác bỏ: Dùng lí lẽ và chứng cứ để gạt bỏ những quan điểm, ý kiến sai lệch hoặc
thiếu chính xác, từ đó nêu lên ý kiến của mình để thuyết phục người nghe, người đọc.
h) Suy lí: Thao tác suy lí dựa trên một vấn đề đã được khẳng định, đúc kết để suy ra
vấn đề có tư tưởng, tình cảm, hành động lớn lao, sâu sắc hơn.
i) Diễn dịch: Từ tiền đề chung, có tính phổ biến suy ra những kết luận về những sự
vật, hiện tượng riêng.
9
k) Quy nạp: Quá trình lập luận ngược với diễn dịch. Là từ cái riêng suy ra cái chung,
từ những sự vật cá biệt suy ra nguyên lí phổ biến.
vượt lên được cao hơn đầu người, cành lá sum sê như những con chim đã đủ lông mao lông
vũ. Đạn đại bác không giết nổi chúng, những vết thương của chúng chóng lành như những
vết thương trên một thân thể cường tráng. Chúng vượt lên rất nhanh, thay thế những cây đã
ngã... Cứ thế, hai ba năm nay rừng xà nu ưỡn tấm ngực lớn của mình ra, che chở cho làng...
(Trích Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành)
1. Đoạn văn trên được viết theo phương thức nào là chính?
2. Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản là gì ?
3. Trong đoạn văn trên, Nguyễn Trung Thành sử dụng các biện pháp tu từ như so sánh, nhân
hoá, đối lập. Xác định biểu hiện các phép tu từ đó và nêu tác dụng của hình thức nghệ thuật
này là gì ?
4. Xác định từ loại của các từ được gạch chân : mọc, lao, phóng, ham, tiếp, vượt, ưỡn trong
văn bản ? Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng các từ đó là gì ?
Hướng đẫn trả lời
1. Để trả lời được câu hỏi này. GV cần thực hiện các bước như sau:
+ Cho HS xác định thể loại văn bản.
+ Yêu cầu học sinh nhắc lại các phương thức biểu đạt đã được học.
+ Tìm các phương thức biểu đạt được sử dụng trong văn bản.
+ Văn bản trên được viết theo phương thức nào là chính. Sau đó lí giải tại sao. HS trả lời
đúng phải là : tự sự .
2. Nội dung chủ yếu của đoạn văn bản
+ GV cho HS xác định vị trí của đoạn trích trong tác phẩm “Rừng xà nu” của Nguyễn Trung
Thành.
+ Đối tượng trong đoạn văn là cây xà nu hay con người Xôman. HS trả lời là cây xà nu.
+ GV lại đặt câu hỏi để HS trả. Bởi vậy cây xà nu được nhà văn miêu tả với những đặc tính
và đặc điểm nổi bật nào ? Cuối cùng GV chốt lại nội dung chính của văn bản :
Văn bản viết về đặc tính của cây xà nu. Đó là cây ham ánh sáng mặt trời, sinh sôi
nảy nở nhanh và khoẻ. Khi bị đạn đại bác bắn, cây xà nu bị chặt đứt ngang thân, cây chết.
Nhưng một số cây còn sống, vết thương chóng lành, vượt lên trên cao để đón ánh nắng mặt
tượng trưng cho con người Tây Nguyên đau thương mà anh dũng trong cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước.
4. Từ loại của các từ được gạch chân : mọc, lao, phóng, ham, tiếp, vượt, ưỡn trong văn
bản.
- Để hướng dẫn học sinh đọc - hiểu dạng câu hỏi này GV cần thực hiện các bước sau :
+ Yêu cầu HS nhắc lại các loại từ trong Tiếng Việt.
+ Những từ là động từ : mọc, lao, phóng, ham, tiếp, vượt, ưỡn trong văn bản là loại từ gì ?
Hiệu quả của việc sử dụng ra sao ? HS có thể trả lời là động từ mạnh. Hiệu quả nghệ thuật
của việc sử dụng các động từ đó là : thể hiện tư thế chủ động của cây xà nu, ca ngợi sự khao
khát sống, khả năng sống tiềm tàng, mãnh liệt.
- Những bài tập sau GV hướng dẫn HS cũng tương tự như vậy.
Bài tập đọc- hiểu 2
Đọc đoạn thơ sau và thực hiện các yêu cầu sau :
12
“Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa
Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa...
Chiều nay con chạy về thăm Bác
Ướt lạnh vườn rau, mấy gốc dừa!
Con lại lần theo lối sỏi quen
Đến bên thang gác, đứng nhìn lên
Chuông ôi chuông nhỏ còn reo nữa?
Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn!”
(Trích Bác ơi! – Tố Hữu)
1. Nêu phương thức biểu đạt của đoạn thơ?.
2. Nội dung chính của đoạn thơ là gì?
3. Xác định nhịp thơ và nêu hiệu quả nghệ thuật cách sử dụng nhịp thơ ở 2 câu thơ cuối
ở đoạn thơ thứ 2?
Nẵng cũng như trong cả nước đã dành trọn cho đồng chí…Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp
tu từ đó là gì?
Hướng dẫn trả lời:
1/Phong cách ngôn ngữ trong văn bản:
- Phong cách ngôn ngữ báo chí
- Phong cách ngôn ngữ chính luận
- Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật
2/ Nội dung chính của văn bản:
- Thương tiếc và ca ngợi đồng chí Nguyễn Bá Thanh là một người cán bộ cách mạng kiên
trung, một người con, người chồng, người anh, người cha, người ông mẫu mực.
- Những phần thưởng cao quý mà Đảng, Nhà nước và nhân dân trao tặng để ghi nhớ công lao
to lớn của đồng chí Nguyễn Bá Thanh.
3/ Biện pháp tu từ về từ trong câu văn : Ẩn dụ: tấm huân chương của lòng dân
Hiệu quả nghệ thuật của biện pháp tu từ đó là ca ngợi, tin tưởng, ngưỡng mộ và tri ân
vô hạn của nhân dân trước những đóng góp to lớn của đồng chí Nguyễn Bá Thanh trong sự
nghiệp bảo vệ và xây dựng quê hương, đất nước.
Bài tập đọc- hiểu 4.
Đọc văn bản sau:
Các triệu chứng thường gặp của bệnh sởi là: có sốt, phát ban và kèm theo ít nhất một
trong các dấu hiệu sau: ho, chảy mũi, đau mắt đỏ, nổi hạch (cổ, chẩm, sau tai), sưng đau
khớp. Sau mắc sởi, do sức đề kháng của cơ thể suy giảm, bệnh nhân dễ bị biến chứng nếu
không được điều trị kịp thời như: mù lòa, tiêu chảy cấp, viêm phổi, viêm não, có thể dẫn đến
tàn phế, tử vong đặc biệt ở trẻ nhỏ, trẻ suy dinh dưỡng, mắc HIV/AIDS hoặc các bệnh suy
14
giảm miễn dịch bẩm sinh. Đối với phụ nữ mang thai, mắc sởi khi mang thai có thể gây ra xảy
thai, đẻ non…...
Tiêm vắc xin sởi là biện pháp tốt nhất chủ động phòng bệnh sởi. Để phòng bệnh có
hiệu quả, trẻ cần được tiêm 2 mũi. Mũi thứ nhất được tiêm cho trẻ từ 9 đến 11 tháng tuổi,
2014-2015 . Kết quả thực hiện ở hai lớp mà tôi trực tiếp giảng dạy như sau:
Câu 3 điểm đọc- hiểu văn bản
Lớp 12D
Lớp 12H
15
Mức điểm đạt
- Điểm tối đa 3 điểm 7/45
Chưa đạt điểm tối đa 38/54
- Điểm tối đa 3 điểm 9/47
Chưa đạt điểm tối đa 38/47
- Sau khi chưa áp dụng phương pháp này, tiến hành thi khảo sát chất lượng lần 2 cũng trên 2
lớp đó . Kết quả như sau:
Câu 3 điểm đọc-hiểu văn bản
Lớp 12D
Lớp 12H
Mức điểm đạt
- Điểm tối đa 3 điểm 18/45 - Điểm tối đa 3 điểm 21/47
Chưa đạt điểm tối đa
Chưa đạt điểm tối đa 26/47
27/45
C/KẾT LUẬN
Hướng dẫn học sinh lớp 12 ôn tập theo cấu trúc đề và giúp HS làm bài tập phần đọchiểu văn bản là rất quan trọng. Song, hướng dẫn học sinh làm thế nào để đạt được điểm tối đa
ở phần đọc- hiểu văn bản lại còn quan trọng hơn, bởi điểm thi của học sinh không chỉ đánh
giá năng lực, trình độ của học sinh mà nó còn đánh giá năng lực trình độ của người thầy.
Thiết nghĩ rằng mỗi một người thầy, người cô trong quá trình giảng dạy cũng đã tự đúc rút