Nâng cao hiệu quả cho phần đọc hiểu văn bản của học sinh trong kỳ thi THPT quốc gia môn ngữ văn - Pdf 44

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

TRƯỜNG THPT HẬU LỘC 3

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

TÊN ĐỀ TÀI
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CHO PHẦN ĐỌC - HIỂU VĂN
BẢN CỦA HỌC SINH TRONG KÌ THI THPT QUỐC
GIA - MÔN NGỮ VĂN.

Người thực hiện: Nguyễn thị Mỹ Hằng
Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực ( môn ): Ngữ Văn.

THANH HÓA NĂM 2017
MỤC LỤC
1


Tên mục
Trang
------------------------------------------------------------------------------------------------I. Mở đầu……………………………………………………………………3
1.1. Lí do chọn đề tài……………………………………………………… 3
1.2. Mục đích nghiên cứu…………………………………………………. 4
1.3. Đối tượng nghiên cứu………………………………………………… 4
1.4. Phương pháp nghiên cứu……………………………………………. 4
II. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm……………………………………... 4
2.1. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm…………………………… 4
2.2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm…….. 7
2.3. Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề…………………….. 8

chỉ có các kiến thức về thao tác lập luận, phong cách ngôn ngữ, các biện pháp tu
từ phục vụ cho phần đọc hiểu mà chưa có phần luyện tập cho học sinh kĩ năng
đọc hiểu trên các văn bản cụ thể.
Mặt khác, các câu hỏi được đưa ra ở phần đọc hiểu thường rất đa dạng,
không theo một khuôn mẫu cụ thể bởi nó còn tùy thuộc vào ngữ liệu mẫu được
đưa ra. Vì vậy, nếu giáo viên không chú trọng vào việc định hướng phương
pháp, kĩ năng cụ thể cho học sinh thì một điều chắc chắn là các em sẽ rất dễ
lúng túng hoặc hoàn toàn làm theo bản năng, nghĩ gì viết nấy, thậm chí không ăn
nhập gì với câu hỏi đưa ra. Kết quả là phần đọc hiểu này sẽ chiếm nhiều thời
gian trong dung lượng thời gian của toàn bài ( có thể đến 50 phút hoặc hơn,
trong khi các em có thể làm ở khoảng 30-35 phút nếu thuần thục kĩ năng và nắm
vững kiến thức cơ bản của phần này ) khiến bài Văn khó hoàn thành trong 120
phút, từ đó dẫn đến hiệu quả bài làm thường không cao.
Tất cả những vấn đề trên buộc những giáo viên của bộ môn Văn phải băn
khoăn, trăn trở, tự học, tự nghiên cứu cách thức nhằm hướng dẫn cho học sinh
cách làm phần đọc hiểu một cách khoa học nhất, đạt hiệu quả cao nhất.
Hơn nữa, tuy phần đọc hiểu chỉ có 3,0 điểm trong toàn bài thi nhưng đây
lại là phần đầu tiên của đề thi mà nếu làm tốt phần này, các em sẽ tự tin và có
tâm thế tốt hơn cho các phần bài làm tiếp theo.
Hiện nay, việc ôn thi cho đối tượng học sinh chuẩn bị bước vào kì thi
THPT Quốc gia môn Ngữ Văn chủ yếu chỉ dựa vào việc tự học, tự nghiên cứu
và kinh nghiệm của bản thân giáo viên là chủ yếu, cộng thêm việc trao đổi với
đồng nghiệp nhưng kết quả còn hạn chế; chưa có tài liệu nghiên cứu nào bàn sâu
về cách làm phần đọc hiểu này.
3


Vì vậy, tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm của bản thân đúc rút
được qua nhiều năm hướng dẫn học sinh ôn tập cho kì thi THPT Quốc gia.
Mong rằng những kinh nghiệm của tôi sẽ có điều kiện được triển khai sâu rộng

2.1.1.1. Khái niệm:
- Đọc là hoạt động dùng mắt để nhận biết các kí hiệu và chữ viết, dùng trí óc để
tư duy và lưu giữ những nội dung mà bản thân đã đọc, đồng thời sử dụng bộ
máy phát âm để phát ra âm thanh nhằm truyền đến với người nghe.
- Hiểu là nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng được trình bày
trong văn bản cùng ý nghĩa của mối quan hệ đó. Hiểu còn là sự bao quát hết nội
dung và có thể vận dụng vào đời sống. Hiểu là phải trả lời được các câu hỏi:
Nội dung nào đã được đề cập, đề cập đến như thế nào, có ý nghĩa ra sao ?
Như vậy, đọc - hiểu là đọc kết hợp với việc hình thành năng lực giải thích,
phân tích, khái quát, biện luận đúng- sai; nghĩa là đọc luôn kết hợp, đi liền
với năng lực tư duy và biểu đạt.
4


2.1.1.2.Mục đích: Đọc hiểu là phải nắm được:
- Phương thức biểu đạt, phong cách ngôn ngữ, thao tác lập luận của văn bản.
- Hình thức cấu trúc của các đoạn văn trong văn bản và ý nghĩa của hình thức
cấu trúc ấy.
- Nội dung của văn bản.
- Ý đồ, mục đích viết văn bản.
- Ý nghĩa của những từ, cụm từ hình ảnh, các biện pháp tu từ,…được dùng
trong văn bản.
- Nêu thông điệp ( bài học rút ra ) từ văn bản và có lí giải hợp lí.
Với học sinh THPT, có kĩ năng tốt trong đọc hiểu văn bản đồng nghĩa với việc
có thể tiến tới biết phân tích, xử lí các văn bản ở mức độ khó hơn trong tương
lai.
2.1.2. Phạm vi và yêu cầu của phần đọc – hiểu:
2.1.2.1.Phạm vi của đọc hiểu văn bản: Bao gồm các loại văn bản sau:
- Văn bản văn học: chủ yếu là những văn bản nằm ngoài chương trình học của
học sinh THPT.


- Biểu cảm: Là bộc lộ tình cảm, cảm xúc về thế giới xung quanh.
- Nghị luận: Là phương thức chủ yếu được dùng để bàn bạc phải, trái, đúng sai
nhằm bộc lộ rõ chủ kiến, thái độ của người nói, người viết.
- Thuyết minh: Là phương thức biểu đạt nhằm trình bày, giới thiệu những tri
thức về một sự vật, hiện tượng nào đó cho người đọc, người nghe.
- Hành chính – công vụ: Là văn bản điều hành xã hội, có chức năng xã hội.
Văn bản này qui định, ràng buộc mối quan hệ giữa các tổ chức nhà nước với
nhau, giữa các cá nhân với nhau trong khuôn khổ hiến pháp và các bộ luật văn
bản pháp lý dưới luật từ trung ương tới địa phương.
2.1.3.2. Kiến thức về phong cách chức năng ngôn ngữ: Gồm 6 phong cách
ngôn ngữ sau:
- Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt: Là phong cách mang những dấu hiệu đặc
trưng của ngôn ngữ dùng trong giao tiếp sinh hoạt hằng ngày.
Ngôn ngữ sinh hoạt gồm các dạng: chuyện trò, nhật kí, hồi ức cá nhân, thư từ;
mang tính khẩu ngữ, bình dị, suồng sã.
- Phong cách ngôn ngữ khoa học: Là phong cách được dùng trong giao tiếp
thuộc lĩnh vực khoa học ( khoa học chuyên sâu; khoa học giáo khoa; khoa học
phổ cập ).
- Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật: Là phong cách ngôn ngữ được dùng trong
các văn bản thuộc lĩnh vực văn chương (văn xuôi nghệ thuật, thơ, kich), không
chỉ có chức năng thông tin mà còn thỏa mãn nhu cầu thẩm mĩ của con người.
- Phong cách ngôn ngữ chính luận: Là ngôn ngữ được dùng trong những văn
bản thể hiện tư tưởng, lập trường, thái độ trong lĩnh vực chính trị, xã hội.
- Phong cách ngôn ngữ hành chính: Là phong cách được dùng trong giao tiếp
thuộc lĩnh vực hành chính, thể hiện rõ ở giấy tờ hành chính thông thường:Văn
bằng, chứng chỉ các loại, giấy khai sinh, hóa đơn, hợp đồng,…
- Phong cách ngôn ngữ báo chí :Là ngôn ngữ dùng trong lĩnh vực thông tin về
những vấn đề thời sự nhằm phản ánh chính kiến của tờ báo và dư luận quần
chúng, từ đó thúc đẩy sự tiến bộ xã hội.

nạp, song hành, móc xích, tổng – phân – hợp:
- Đoạn diễn dịch: là đoạn văn trong đó câu chủ đề mang ý nghĩa khái quát đứng
ở đầu đoạn, các câu còn lại triển khai ý, bổ sung, làm rõ cho câu chủ đề.
- Đoạn quy nạp: là đoạn văn đi từ ý cụ thể, chi tiết nhằm hướng tới ý khái quát
nằm ở cuối đoạn văn.
- Đoạn song hành: là đoạn văn mà mỗi câu trong đoạn nêu một khía cạnh của
chủ đề đoạn văn, các câu có vai trò ngang hàng với nhau. Đây là kiểu đoạn văn
không có câu chủ đề.
- Đoạn móc xích: là đoạn văn mà các ý được móc nối vào với nhau, thể hiện cụ
thể bằng việc lặp lại một vài từ ngữ đã có ở câu trước ở câu sau đó. Đoạn văn
này cũng không có câu chủ đề.
- Đoạn tổng-phân-hợp: là đoạn văn kết hợp giữa diễn dịch với quy nạp. Câu
mở đầu đoạn nêu ý khái quát bậc một, các câu tiếp theo triển khai ý khái quát
đó. Câu kết đoạn là ý khái quát bậc hai mang tính chất nâng cao, mở rộng.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm, tôi đã tiến hành thống kê kết quả
phần đọc hiểu của hai bài kiểm tra : kiểm tra tại lớp, thi học kì II tập trung tại
trường - năm học 2015 – 2016 của học sinh các lớp tôi dạy. Qua khảo sát thực tế
bài làm của học sinh, tôi thấy thực trạng cụ thể của phần đọc hiểu trong bài làm
của học sinh như sau:
Kiểm tra
định kì tại
lớp - Bài
số 5
Thi học kì
II

Lớp
11A1
10B3

25 / 43
13 / 43
12 / 43
11 / 43
7


Như vậy, qua bảng thống kê có thể thấy những dạng câu hỏi thông hiểu,
vận dụng thấp, vận dụng cao của phần đọc hiểu là những dạng đề mà học sinh
có kết quả khá thấp ( Chưa đạt tới 50% so với yêu cầu ). Nhiều em trả lời sai
hoặc không biết cách trả lời các câu hỏi của các phần này chứng tỏ các em thiếu
cả kiến thức lẫn kĩ năng, cần phải được rèn luyện, bổ sung để đáp ứng yêu cầu
của bộ môn.
2.3.Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề:
Để giải quyết những tồn tại ở trên, tôi đã đưa ra những giải pháp sau:
- Giải pháp 1: Hệ thống lại những kiến thức về đọc hiểu mà học sinh đã được
học ở THCS, đồng thời qua các bài dạy thuộc chương trình SGK, giáo viên cung
cấp, nhấn mạnh thêm kiến thức mới nhằm đáp ứng những yêu cầu của đề bài.
Ngoài ra, giáo viên cũng cần khuyến khích học sinh tự đọc, tự tìm hiểu kiến thức
qua các nguồn tài liệu đáng tin cậy khác.
Với mỗi đơn vị kiến thức, cần kết hợp với thực hành trên văn bản để khắc
sâu kiến thức và kĩ năng làm bài ở học sinh.Tuy nhiên, tùy theo từng đối tượng
học sinh mà việc cung cấp, hệ thống kiến thức sẽ có sự khác nhau. Chẳng hạn,
với học sinh lớp 10 thì chủ yếu là nhắc lại những kiến thức đã học ở cấp THCS,
kết hợp với các kiến thức về đọc hiểu được học trong SGK Ngữ Văn 10 để hình
thành nền tảng kiến thức vững chắc. Với học sinh lớp 11, có thể cung cấp kiến
thức ở mức độ nâng cao hơn. Đặc biệt, với học sinh lớp 12 chuẩn bị bước vào kì
thi THPT Quốc gia, cần tiến tới sự nhuần nhuyễn cả kiến thức lẫn kĩ năng đọc
hiểu để có thể làm tốt yêu cầu của đề.
- Giải pháp 2: Kết hợp các kiến thức về đọc hiểu đã học với nhau bằng cách

ảnh, câu văn theo
yêu cầu đề bài.

Mức độ câu hỏi
Thông hiểu
Vận dụng thấp
- Các hình thức cấu
trúc của một đoạn
văn ( diễn dịch, quy
nạp, song hành,
móc xích, tổng –
phân – hợp )..
- Tìm câu chủ đề
của văn bản.
- Hiệu quả (tác
dụng) của biện pháp
tu từ trong văn bản.

- Giải nghĩa từ ngữ,
trong văn bản.
- Giải nghĩa câu văn
hoặc ý kiến trong
văn bản ( Dạng câu
hỏi: Anh / chị hiểu
như thế nào về câu
nói – ý kiến; Vì sao
tác giả cho rằng…).

Vận dụng
cao

câu nói, ý kiến…? Vì sao tác giả cho rằng …? ), cần đọc kĩ và gạch dưới phần
văn bản ở đề bài có liên quan đến câu hỏi, căn cứ vào ý nghĩa của văn bản để
tìm câu trả lời. Trong quá trình suy nghĩ, có thể gạch đầu dòng các ý cần trả lời
ra giấy nháp, sau đó mới viết vào bài. Câu trả lời phải đúng hướng, tránh hỏi
một đằng, trả lời một nẻo.
+ Với dạng câu hỏi vận dụng cao, học sinh phải tư duy ở mức độ cao hơn,
phải lật đi lật lại vấn đề để tìm ra câu trả lời thỏa đáng. Ví dụ, với dạng câu hỏi :
“Thông điệp nào trong văn bản trên có ý nghĩa nhất đối với anh / chị ?”, cần
trình bày 2 ý:
9


Ý 1: Thông điệp của văn bản có ý nghĩa nhất: Là bất cứ ý nghĩa nào đó toát lên
từ toàn bộ văn bản, chứ không phải là việc trích một câu nào đó trong văn bản
rồi gọi đó là thông điệp như nhiều học sinh đã từng làm. Thông điệp – điều tâm
đắc đó được học sinh rút ra từ văn bản và diễn đạt nó bằng cách hiểu của chính
mình.
Ý 2: Lí giải vì sao thông điệp đó lại có ý nghĩa với bản thân: Ở góc độ này, nên
lấy những yếu tố ngoài văn bản, là thực tiễn hoặc kinh nghiệm sống, những hiểu
biết của bản thân học sinh để lí giải, vì có như vậy, học sinh mới bộc lộ được
chủ kiến của bản thân. Sự lí giải có thể không giống nhau ở mỗi học sinh song
cần đúng đắn, phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội.
Khi học sinh đã quen với các dạng câu hỏi trong đề và cách trả lời, bước
phân loại dạng câu hỏi cũng chỉ nên lướt qua để có thời gian chú trọng vào nội
dung cần đạt trong câu trả lời. Mặt khác, các câu hỏi của phần đọc hiểu bao giờ
cũng có sự xâu chuỗi, câu sau tiếp nối câu trước theo tư duy logic. Vì vậy, giáo
viên cần lưu ý học sinh nên làm theo trình tự câu hỏi được đưa ra.
Sau đây là một số đề bài cụ thể kèm theo cách thức triển khai tôi đã rút ra
được qua thực tiễn giảng dạy của bản thân. Trong mỗi đề bài không chỉ có sự
khác nhau về ngữ liệu ( dạng văn bản ) mà còn có sự khác nhau về dạng câu

Câu 4. Điều anh/chị tâm đắc nhất trong đoạn trích trên là gì?
Văn bản được đưa ra trong đề bài này là văn bản nghệ thuật ( một đoạn thơ ),
mang những nét đặc trưng riêng so với dạng văn bản nhật dụng.
Với đề bài này, tôi hướng dẫn học sinh thực hiện các bước như sau:
- Bước 1: Đọc kĩ ngữ liệu ở đề bài đưa ra, chú ý nguồn trích dẫn văn bản.
- Bước 2: Phân loại các dạng câu hỏi ở đề bài:
+ Câu 1: Dạng nhận biết.
+ Câu 2: Dạng vận dụng thấp.
+ Câu 3: Dạng thông hiểu.
+ Câu 4: Dạng vận dụng cao.
- Bước 3: Học sinh vận dụng các kiến thức và kĩ năng đã học để đưa ra cách
trả lời chính xác, phù hợp nhất, cụ thể:
+ Câu 1: Đọc kĩ văn bản, học sinh sẽ dễ dàng tìm được trong văn bản những
từ ngữ, hình ảnh được lấy từ chât liệu văn học dân gian: cô Tấm về làm hoàng
hậu, cây khế chua có đại bàng đến đậu, chim ăn - trả ngon ngọt, người trồng
cây dựng cửa.
+ Câu 2: Gồm hai bước:
. Đọc kĩ câu thơ ở đề bài để thấy được câu thơ có hai vế, vậy ta sẽ giải thích
từng vế: Đất đai cỗi cằn tượng trưng cho thiên nhiên khắc nghiệt mà con người
phải đối mặt; người nở hoa là tượng trưng cho thành quả mà con người đạt tới
sau rất nhiều thử thách.
. Chỉ ra được mối quan hệ giữa hai vế câu: quan hệ tương phản. Từ đó thấy
được ý nghĩa cả câu thơ: Tuy điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nhưng không cản
trở được những thành công của con người; ngược lại đó lại là thử thách đề con
người khẳng định mình trong cuộc sống.
+ Câu 3: Học sinh cần xác định được 2 ý trọng tâm:
. Biện pháp điệp từ được sử dụng trong bốn câu thơ cuối đoạn trích: từ những
được điệp lại 4 lần trong 4 câu thơ ( những chân trời, những mảnh đất, những
biển khơi, những ngàn sao ).
. Tác dụng của biện pháp điệp từ ở trên: Điệp từ những gắn liền với một loạt các

ảnh thơ ) đã mang lại hiệu quả như thế nào cho đoạn thơ ( phần hiệu quả biểu
đạt phải nêu cụ thể, không viết chung chung ).
Đề 2:
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
Thế giới của chúng ta có muôn vàn điều thú vị để khám phá. Cho dù bạn
đang ở độ tuổi nào, bạn cũng nên phá vỡ các giới hạn của nhận thức và luyện
cho mình kĩ năng quan sát bằng cách ra khỏi nhà, ra ngoài thiên nhiên và chú ý
tới mọi điều xung quanh. Hãy đặt cho bản thân những câu hỏi như: “Tại sao…?
Tại sao không…?” và thử tự tìm các câu trả lời hay sự trợ giúp của những
người quen biết. Đừng bao giờ tự cao tự đại nói rằng: “Tôi đã biết hết rồi,
anh/chị sẽ không chỉ cho tôi được điều gì mới đâu!”. Vì chỉ khi chúng ta nhận
thức được rằng vẫn còn nhiều điều có thể học, chúng ta mới có thể bổ sung
được nhiều kiến thức mới.
Hãy nghe nhạc cổ điển, đến thăm các viện bảo tàng và các phòng trưng
bày nghệ thuật, hãy đọc sách về nhiều chủ đề khác nhau, hãy có những sở
thích như khiêu vũ, chơi đàn, hội họa hay tập luyện một bộ môn thể thao. Dù
bạn chọn cho mình bộ môn nào đi nữa, bạn cũng nên theo học đến cùng và tìm
hiểu không ngừng nghỉ cho đến khi đạt được kiến thức sâu sắc về lĩnh vực đó
mới thôi. Đừng chỉ “chạm đến một lần rồi bỏ xó”. Hãy quyết tâm rèn luyện và
củng cố trí tò mò để nó trở thành một phần trong cá tính của bạn. Biết đâu,
trong một lần tò mò hay thắc mắc như vậy, bạn sẽ tìm ra được niềm đam mê cho
12


bản thân. Có khát vọng khám phá và tìm tòi là một trong những động lực giúp
bạn tiếp cận với thế giới và vươn ra biển lớn.
(Trích Tìm kiếm niềm đam mê, theo Hộ chiếu xanh đi quanh thế giới,
Nhà xuất bản Thế giới, 2017, tr17-18)
Câu 1. Ở mỗi đoạn văn trên đây, tác giả đã sử dụng cách trình bày nào trong
các cách sau:diễn dịch, quy nạp, tổng phân hợp, móc xích, song hành?

ta mới có thể bổ sung được nhiều kiến thức mới ”.Vậy câu trả lời đơn giản sẽ là:
Theo tác giả, khi “nhận thức được rằng vẫn còn nhiều điều có thể học”, chúng
ta sẽ có lợi ích: bổ sung được nhiều kiến thức mới.
13


+ Câu 3: Với dạng câu hỏi Tại sao tác giả cho rằng, cần suy nghĩ, lật đi lật
lại vấn đề để tìm ra câu trả lời phù hợp. Ở đây, ta cần định hướng cho học sinh
đặt ra những câu hỏi để trả lời:
. Tò mò hay thắc mắc sẽ mang lại cho ta điều gì ? Đó là giúp ta khám phá và
tìm hiểu cuộc sống, thế giới muôn màu muôn vẻ xung quanh, từ đó mà ta lĩnh
hội được nhiều kiến thức mới.
. Vì sao trong một lần tò mò hay thắc mắc như vậy, ta sẽ tìm ra được niềm
đam mê cho bản thân ? Bởi vì sự tò mò, thắc mắc sẽ là động lực giúp ta theo
đuổi mong muốn của bản thân, từ đó mà ta có được niềm đam mê tìm hiểu,
khám phá những kiến thức vô tận của cuộc sống này.
+ Câu 4: Thuộc dạng câu hỏi vận dụng cao, bởi vậy, học sinh cần huy động
kiến thức cùng những hiểu biết, kinh nghiệm sống của chính bản thân để đưa ra
câu trả lời. Cần hiểu rõ câu hỏi: Nêu những giải pháp để niềm đam mê khám phá
những điều kì diệu “trở thành một phần trong cá tính” ( nghĩa là khiến niềm
đam mê trở thành một phẩm chất của chính chúng ta ). Từ đó, học sinh có thể
nêu: Mỗi chúng ta cần phải không ngừng học hỏi nhằm tìm kiếm những kiến
thức mới; không ngại dấn thân vào khó khăn gian khổ để tích lũy kinh nghiệm
sống; theo đuổi đến cùng những đam mê tích cực của bản thân,...
Đề 3:
Đọc văn bản dưới đây và thực hiện các yêu cầu:
Nền văn hoá truyền thống Việt Nam thấm đẫm tinh thần nhân văn trước
hết vì nó luôn đặt con người ở vị trí trung tâm, luôn coi con người là sự kết tinh
những gì tinh tuý nhất của tạo hoá. Rất nhiều câu tục ngữ của ông cha ta đã thể
hiện tư tưởng này, như “người ta là hoa của đất”, “người sống đống vàng”,

Câu 4. Thông điệp nào của văn bản trên có ý nghĩa nhất đối với anh/chị?
Văn bản ở đề thứ 3 này cũng thuộc loại văn bản nhật dụng nhưng lại đề
cập đến một hiện tượng đời sống mang tính cấp thiết, nóng hổi hiện nay: lối
sống ảo, sự suy thoái, lệch lạc về lối sống; đòi hỏi học sinh phải bộc lộ suy
nghĩ, chủ kiến của bản thân.
Ở đề bài này, tôi đã hướng dẫn học sinh thực hiện các bước sau:
- Bước 1: Đọc kĩ ngữ liệu ở đề bài đưa ra để có ấn tượng ban đầu về văn bản,
chú ý phần xuất xứ của văn bản.
- Bước 2: Phân loại các dạng câu hỏi ở đề bài:
+ Câu 1: Dạng nhận biết
+ Câu 2: Dạng vận dụng thấp.
+ Câu 3: Dạng vận dụng thấp.
+ Câu 4: Dạng vận dụng cao.
- Bước 3: Học sinh vận dụng các kiến thức và kĩ năng đã học để đưa ra cách
trả lời chính xác, phù hợp nhất, cụ thể :
+ Câu 1: Đọc lại văn bản để năm được nội dung ý nghĩa, cách lập luận, triển
khai của văn bản. Thông thường, tất cả các văn bản mang tính phân tích, bình
luận một vấn đề nào đó thì thao tác nghị luận chính là bình luận. Học sinh cũng
cần hiểu là một văn bản có thể sử dụng nhiều phương thức biểu đạt nhưng chỉ có
một thao tác là chính. Vì vậy, chỉ nêu thao tác chủ đạo đó, tránh nêu từ hai thao
tác lập luận trở lên.
+ Câu 2: Thực chất là câu hỏi yêu cầu học sinh giải thích ý nghĩa của câu
nói ( ý kiến ) của tác giả trong văn bản: “Con người là sự kết tinh những gì
tinh tuý nhất của tạo hoá”. Trước tiên, cần giải thích các từ : kết tinh ( hội tụ),
tinh tuý ( những điều tốt đẹp, cao quý nhất ). Vậy cả câu nói có thể hiểu là:Câu
nói đã đề cao vai trò của con người trong đời sống xã hội.Con người là nơi hội
tụ tất cả những gì tốt đẹp nhất, quý giá nhất.
+ Câu 3: Với dạng câu hỏi Vì sao tác giả viết ( Tại sao tác giả cho rằng),
học sinh cần xác định được hai vế trong ý kiến của tác giả và giải thích rõ từng
vế:

Đây là phẩm đức tối thiểu mà mỗi người nên chuẩn bị cho mình.
Nhận lỗi, gánh vác trách nhiệm cần dũng khí. Dũng khí này bắt nguồn từ
cảm giác chính nghĩa của con người – lòng tự trọng của nhân loại. Lòng tự
trọng là tất cả những thứ cơ bản nhất của lương thiện vầ nhân từ. Nó khiến con
người có hành vi đúng đắn, tư tưởng cao thượng, tín ngưỡng chân chính, cuộc
sống tốt đẹp. Chúng ta nên “gieo” nhận lỗi lầm, gánh vác trách nhiệm vào cõi
lòng, để chúng trở thành một kiểu ý thức mãnh liệt trong não chúng ta.
(Nguồn Internet)
Câu 1: Xác định phong cách ngôn ngữ của đoạn trích.
Câu 2: Trong đoạn trích, tác giả đã sử dụng thao tác lập luận chính nào?
Câu 3: Xác định và phân tích tác dụng của biện pháp tu từ trong câu “Chúng ta
nên “gieo” nhận lỗi lầm, gánh vác trách nhiệm vào cõi lòng, để chúng trở
thành một kiểu ý thức mãnh liệt trong não chúng ta”?
Câu 4. Thông điệp nào của văn bản trên có ý nghĩa nhất đối với anh/chị?
16


Đây cũng là dạng văn bản nhật dụng, đề cập đến một tấm gương của tuổi trẻ
trong đời sống: dám nhận lỗi, gánh vác trách nhiệm ; nhằm khuyến khích học
sinh bộc lộ suy nghĩ, chủ kiến của bản thân về tấm gương đó.Tuy nhiên, dạng
câu hỏi ở đề bài này có những điểm khác so với các đề bài ở trên.
Ở đề bài này, tôi đã hướng dẫn học sinh thực hiện các bước sau:
- Bước 1: Đọc kĩ ngữ liệu ở đề bài đưa ra, chú ý phần xuất xứ, nguồn trích dẫn
văn bản.
- Bước 2: Phân loại các dạng câu hỏi ở đề bài:
+ Câu 1: Dạng nhận biết
+ Câu 2: Dạng nhận biết.
+ Câu 3: Dạng vận dụng thấp.
+ Câu 4: Dạng vận dụng cao.
- Bước 3: Học sinh vận dụng các kiến thức và kĩ năng đã học để đưa ra cách



. Thông điệp 2: Nhận lỗi, gánh vác trách nhiệm cần dũng khí và lòng tự trọng
ở mỗi người. Tuy nhiên, học sinh phải biết chọn một thông điệp bản thân cho là
có ý nghĩa nhất.
. Ý 2: Lí giải vì sao đó là thông điệp bản thân tâm đắc nhất ?
Tương tự như đề 3 ( văn bản đề cập đến một hiện tượng đời sống ), ở thông điệp
1,có thể lí giải bằng ý nghĩa tích cực của việc biết nhận lỗi khi sai lầm, biết gánh
vác trách nhiệm; cũng như tác hại của việc trốn tránh, không dám đối mặt với
những sai lầm, không dám gánh vác trách nhiệm ở mỗi người để thấy được điều
đúng đắn của thông điệp được nêu ra. Ở thông điệp 2 có thể lập luận: Dũng khí
và lòng tự trọng có vai trò gì trong việc nhận lỗi và gánh vác trách nhiệm;
ngược lại, không có dũng khí và lòng tự trọng, con người có thể dám nhận lỗi,
dám gánh vác trách nhiệm hay không ?
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với các hoạt động giáo dục, với
bản thân và nhà trường:
- Đối với việc chất lượng giảng dạy: Sáng kiến kinh nghiệm của tôi đã góp
phần nâng cao rõ rệt kết quả bài thi của học sinh, giúp các em tự tin hơn trong
việc làm bài thi. Qua khảo sát thực tế bài làm của học sinh phần đọc hiểu, năm
học 2016 – 2017 của các lớp tôi giảng dạy được tiếp nối từ năm học trước, tôi
đã thu được kết quả như sau:
Số HS trả lời đúng / dạng câu hỏi
Kiểm tra
Lớp
Nhận biết Thông hiểu Vận dụng
Vận dụng
định kì tại
thấp
cao
lớp - Bài

32 / 43
31 / 43
29 / 43
Như vậy, so với kết quả thống kê được của năm học trước, kết quả này đã
phản ánh sự tiến bộ rõ rệt của học sinh trong phần đọc hiểu; kết quả chung là
khá khả quan. Tính trung bình, từ 60 đến 70% học sinh các lớp tôi dạy đạt yêu
cầu phần đọc hiểu với mức điểm 2,0 đến 2,5 / 3,0 điểm phần đọc hiểu ; 20 đến
25 % học sinh đạt điểm tuyệt đối 3,0; chỉ có khoảng 10% học sinh có mức điểm
từ 1,0 đến 1,5 điểm.
- Đối với bản thân: Sáng kiến này đã giúp tôi nâng cao kiến thức và năng lực sư
phạm của chính minh, có được sự say mê hơn trong giảng dạy và truyền được
cảm hứng học tập cho học sinh.
- Đối với nhà trường: Trong sinh hoạt chuyên môn, nhóm chuyên môn chúng
tôi đã trao đổi với nhau kiến thức cũng như kinh nghiệm phần đọc hiểu này, áp
dụng vào thực tế giảng dạy của từng giáo viên nhằm từng bước nâng cao hiệu
quả dạy và học môn Ngữ Văn. Sáng kiến của tôi nêu ra được mọi người ủng hộ,
góp ý và vận dụng khá thành công, từ đó cũng góp phần nâng cao kết quả của kì
18


thi tốt nghiệp THPT trong phạm vi nhà trường nơi tôi đang công tác. Cụ thể là
điểm trung bình của bài thi tốt nghiệp môn Ngữ Văn của học sinh khối 12 đã
được nâng lên so với năm trước từ 1,0 đến 1,5 điểm, là một kết quả đáng mừng
cần được phát huy hơn nữa.
III. Kết luận, kiến nghị:
3.1. Kết luận:
- Việc nâng cao kiến thức và kĩ năng đọc hiểu cho học sinh là vô cùng cần thiết,
không chỉ cho việc học tập, thi cử mà còn áp dụng vào thực tiễn cuộc sống của
chính học sinh. Công việc này đòi hỏi sự kiên trì, bền bỉ và giải pháp hợp lí của
giáo viên trong việc hướng dẫn cho học sinh tiếp nhận kiến thức lẫn kĩ năng


Nguyễn thị Mỹ Hằng
19


Tài liệu tham khảo
1. SGK Ngữ văn 10, tập 1, tập 2, Ban cơ bản, NXB Giáo dục.
2. SGK Ngữ văn 11, tập 1, tập 2, Ban cơ bản, NXB Giáo dục.
3. SGK Ngữ văn 12, tập 1, tập 2, Ban cơ bản, NXB Giáo dục.
4. Đề thi thử nghiệm – Kì thi THPT Quốc gia năm 2017 - Bộ Giáo dục và Đào
tạo.
5. Đề tham khảo – Kì thi THPT Quốc gia năm 2017 - Bộ Giáo dục và Đào tạo.
6. 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt – Đinh Trọng Lạc – Nhà xuất
bản Giáo dục 1999.

20




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status