MỘT số GIẢI PHÁP để NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG GIẢNG dạy TIẾT THỰC HÀNH HOÁ học 9 - Pdf 45

S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO
CHẤT LƯỢNG GIẢNG DẠY TIẾT THỰC HÀNH HOÁ HỌC 9
I. ĐẶT VẤN ĐỀ:
Hoá học là một môn khoa học thực nghiệm, trong đó tiết thực hành có vai trò rất quan
trọng trong việc tiếp thu kiến thức theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh. Do đó, sự đổi mới nội dung chương trình và SGK hoá học đã thể hiện coi trọng thực
hành và thí nghiệm. Tăng số lượng tiết thực hành vào các bài học trong SGK, chú ý các thí
nghiệm do học sinh tự tiến hành. Tăng số bài thực hành thí nghiệm ở lớp 9 từ 4 lên 7 bài ở
chương trình mới.
Môn hoá học, học sinh mới bắt đầu làm quen từ lớp 8. Vì vậy, việc tạo điều kiện cho
học sinh thực hành thí nghiệm trên lớp là hết sức cần thiết.
Thực tế, hiện nay một số trường THCS chưa có phòng thực hành hoá học chuyên biệt,
một số học sinh còn nhút nhát, ngại khó trong quá trình tiến hành thí nghiệm, kỷ năng thực
hành thí nghiệm còn hạn chế, kỹ năng giải bài tập hoá học còn yếu. Nhiều bài hoá học vẫn
chủ yếu dạy chay, nhiều giáo viên ít sử dụng thí nghiệm hoá học. Nếu có sử dụng thí nghiệm
thì giáo viên lại chưa khai thác được các hiện tượng, chưa tổ chức cho học sinh nghiên cứu thí
nghiệm hoá học để quan sát hiện tượng, nhận xét, giải thích, viết phương trình hoá học và rút
ra kết luận về tính chất của chất...
Xuất phát từ lý do trên, tôi mạnh dạn đưa ra "Một số giải pháp để nâng cao chất lượng
giảng dạy tiết thực hành hoá học 9"
II. CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ CƠ SỞ THỰC TIỂN
1. Cơ sở khoa học
Hoá học là môn khoa học thực nghiệm nên trong giảng dạy thì thí nghiệm là phương
tiện dạy học quan trọng, tối ưu, giúp học sinh độc lập, tích cực để nhận biết được trạng thái,
màu sắc của chất, sự biến đổi của chất, tính chất hoá học của chất và các hiện tượng hoá học.
Những bài thực hành do học sinh thực hiện nhằm giúp học sinh nhận thức được mục
đích, điều kiện của thí nghiệm, tự tiến hành thí nghiệm, giải thích được các kết quả của thí
nghiệm. Từ đó củng cố, khắc sâu và làm chính xác thêm những kiến thức về tính chất hoá
học, phương pháp điều chế, đồng thời rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, tiến hành thí nghiệm; bồi
dưỡng khả năng quan sát, giải thích hiện tượng, ... để học sinh tự phát hiện và giải quyết một

nhạt. Vì vậy, chất lượng của tiết thực hành không cao.
Vào đầu kì I năm học 2006 - 2007, tôi đã tiến hành kiểm tra, khảo sát chất lượng một
tiết thực hành của học sinh. Kết quả đạt được như sau:

Lớp
9A
9B

Số bài
/Sỉ số
39/39
43/43

Khá - giỏi
SL %

TB trở lên
SL %

Yếu
SL %

13
13

25
26

13
16

Gi¸o Viªn: Ph¹m ThÞ S©m

Trang 2


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
đổi mới phương pháp trong khâu soạn giáo án. Giáo án được coi là một công đoạn quan trọng
quyết định sự thành công của một tiết dạy.
Trước lúc soạn, giáo viên cần phải nghiên cứu kỹ nội dung SGK, nghiên cứu tài liệu
tham khảo như sách giáo viên, sách bài soạn, tài liệu hướng dẫn thí nghiệm hoá học 9... để
xác định được mục tiêu của bài học đề ra.
Trong mục tiêu nêu rõ sau khi học phần đó học sinh biết cách tiến hành thí nghiệm để
khắc sâu những kiến thức nào? Rèn luyện kỹ năng gì? Có thái độ tích cực như thế nào?
Chuẩn bị đồ dùng dạy học: giáo án thể hiện rõ cần phải chuẩn bị những dụng cụ hoá
chất nào? Các bảng phụ hoặc phiếu học tập, giấy trong, đèn chiếu... nhằm mục đích gì? Số
lượng các dụng cụ và thứ tự sử dụng trong mỗi bài học.
Cần chỉ rõ nhiệm vụ chuẩn bị của giáo viên, nhiệm vụ của học sinh theo cá nhân hoặc
nhóm nhỏ.
Xác định phương pháp dạy học chủ yếu trong từng thí nghiệm nhằm giúp học sinh tự
lực, phát huy tính tích cực, chủ động trong việc tiếp thu kiến thức.
Đối với tiết thực hành, giáo viên là người đóng vai trò thiết kế, tổ chức, hướng dẫn học
sinh hoạt động theo nhóm nhỏ, nắm vững các thao tác, những điều cần lưu ý trước lúc làm thí
nghiệm.
Giáo viên phải gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong quá trình học sinh tiến hành
thí nghiệm. Giáo viên dự đoán các tình huống xảy ra để giải thích nhằm giúp học sinh tin vào
kết quả thực hành và cuối cùng là tin vào khoa học.
Học sinh là người thực hiện các hoạt động quan sát, tìm tòi, biểu diễn thí nghiệm, hợp
tác theo nhóm nhỏ để tự lực nắm vững kiến thức, giải thích được kết quả thí nghiệm.
Phân chia nhóm hợp lý, cử học sinh khá giỏi làm trưởng nhóm điều hành nhóm trong
quá trình thực hành thí nghiệm.

dạy học thì tiết học sẽ không thành công.
- Pha chế hoá chất: trường hợp hoá chất chưa có sẵn như NaOH, BaCl 2 ở thể rắn, H2SO4
đặc, giáo viên phải pha chế thành dung dịch: NaOH, BaCl 2, H2SO4. Sự chuẩn bị trước một
bước này sẽ tạo điều kiện cho tiết học thực hành đảm bảo được thời gian quy định.
- Chuẩn bị đầy đủ dụng cụ, hoá chất cho mỗi thí nghiệm trong bài học. Chú ý số lượng
cho từng nhóm học sinh thực hành thí nghiệm. Cần chuẩn bị dụng cụ dự trữ để thay thế nếu
những dụng cụ đó dễ bị hỏng như ống nghiệm, đũa thuỷ tinh, đèn cồn, bật lửa...
Đối với học sinh: Giáo viên phải yêu cầu học sinh đọc kỹ nội dung bài thực hành và
chuẩn bị bản tường trình ở nhà. Khi đến phòng thực hành học sinh phải trình bày bản tường
trình phần chuẩn bị cột 1( tên thí nghiệm) và cột 2 (cách tiến hành thí nghiệm). Vì khi có sự
chuẩn bị ở nhà chu đáo các em đã định hình được cách tiến hành từng thí nghiệm và sẽ nảy
sinh cho các em dự đoán được hiện tượng xảy ra, hướng giải thích hiện tượng. Phần này bắt
buộc học sinh phải nghiêm túc trong khâu chuẩn bị thí nghiệm, là cơ sở đảm bảo kết quả khi
thực hiện thí nghiệm.
Học sinh phải chuẩn bị đầy đủ một số dụng cụ, hoá chất nếu giáo viên yêu cầu.
Ví dụ: giáo viên yêu cầu các nhóm trưởng phân công chuẩn bị hoá chất hồ tinh bột để
làm thí nghiệm phân biệt glucozơ, saccarozơ, tinh bột và một phích đựng nước sôi để tiến
hành thí nghiệm: Tác dụng của glucozơ với bạc Nitrat trong dung dịch amoniac trong bài tính
chất của gluxit.
Công tác chuẩn bị đồ dùng ở nhà sẽ rèn luyện cho học sinh thói quen làm việc có kế
hoạch, phán đoán những hiện tượng sẽ xãy ra khi làm thí nghiệm.
3. Giáo viên phải làm thử thí nghiệm trước lúc lên lớp
Muốn dạy một tiết thực hành thành công, người giáo viên phải chuẩn bị thật kỷ nội
dung bài học, phải làm thử các thí nghiệm trước lúc lên lớp. Giáo viên không được chủ quan
đối với những thí nghiệm đơn giản hoặc thí nghiệm đã làm nhiều lần. Làm thử thí nghiệm
giúp giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong khâu hướng dẫn học sinh thao tác thí nghiệm. Mặt
khác, qua đó giúp giáo viên có sự điều chỉnh trong cách pha chế hoá chất, trộn các hoá chất
theo tỷ lệ phù hợp để có kết quả thí nghiệm thành công hơn.

Gi¸o Viªn: Ph¹m ThÞ S©m

Qua thí nghiệm trên có những ưu điểm sau: dụng cụ đơn giản, học sinh tự tiến hành nhận biết
nhanh, thành công; tiết kiệm được hoá chất, thời gian chuẩn bị dụng cụ.
Giáo viên làm trước thí nghiệm để xác định thời gian hợp lý cho từng thí nghiệm và
cũng qua đó giúp cho giáo viên có những dự đoán sai sót trong thao tác thí nghiệm. Giáo viên
sẽ biết được những nguyên nhân dẫn đến thí nghiệm không thành công để có kế hoạch xử lý.
Từ đó giải thích đúng thực tế thí nghiệm cho học sinh, chỉ ra những nguyên nhân của sự thất
bại để bổ khuyết cho từng thí nghiệm cụ thể. Nếu làm được như vậy, uy tín của giáo viên sẽ
được nâng lên. Ngược lại, nếu chúng ta lừa dối, cưỡng ép học sinh công nhận thí nghiệm đạt
kết quả tốt trong khi thí nghiệm không thành công thì uy tín của giáo viên sẽ bị giảm sút, sức
thuyết phục học sinh của giáo viên sẽ bị giảm đi.

Gi¸o Viªn: Ph¹m ThÞ S©m

Trang 5


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
Ví dụ: khi tiến hành thí nghiệm tác dụng của sắt với lưu huỳnh trong bài thực hành:
Tính chất hoá học của nhôm và sắt. Khi tiến hành đun nóng hỗn hợp bột sắt và bột lưu huỳnh
trên ngọn lửa đèn cồn có một nhóm học sinh sẽ không thấy hiện tượng: có đốm sáng đỏ xuất
hiện.
Khi đó giáo viên không thể buộc học sinh phải công nhận có hiện tượng xảy ra mà phải
giải thích nguyên nhân dẫn đến thí nghiệm không thành công là do các em trộn tỷ lệ bột lưu
huỳnh ít hơn nhiều so với tỷ lệ bột sắt hoặc do trộn hỗn hợp chưa đều. Trong trường hợp này,
nếu còn thời gian giáo viên cho học sinh trộn thêm bột lưu huỳnh vào hỗn hợp lúc đầu và tiến
hành thí nghiệm chắc chắn sẽ thành công.

4. Tiến trình một tiết dạy thực hành trên lớp
A. ổn định tổ chức: Giáo viên nắm số lượng học sinh có mặt, phân nhóm hợp lý, yêu
cầu các nhóm cử nhóm trưởng, thư ký nhóm báo cho giáo viên (ngay từ tiết thực hành đầu

- H2SO4 đặc có thể gây bỏng nặng, làm cháy quần áo, cần chú ý cẩn thận khi tiến hành
thí nghiệm.
- Rượu etylic khan dễ cháy, lưu ý không để gần lửa.
- Khi ngữi mùi sản phẩm không ngữi trực tiếp mà dùng tay vẫy nhẹ.
- ống dẫn sản phẩm tạo thành cách mặt nước 1cm.
Phương án 2: Đối với những thí nghiệm đơn giản. Giáo viên yêu cầu học sinh các nhóm
trả lời câu hỏi:
+ Mục đích thực hiện thí nghiệm đó để làm gì?
+ Dụng cụ, hoá chất, cách tiến hành thí nghiệm?
Giáo viên gọi nhóm khác nhận xét, bổ sung. Giáo viên chốt lại kiến thức.
Sau khi học sinh nắm được các bước tiến hành, giáo viên giao nhiệm vụ cho các nhóm.
Đối với thí nghiệm khó, phức tạp giáo viên yêu cầu các nhóm chọn học sinh có kỹ năng thực
hành tốt làm. Đối với thí nghiệm đơn giản, chỉ định học sinh yếu thực hiện. Giáo viên theo
dõi, hướng dẫn thêm cho một số nhóm yếu. Sau đó giáo viên kiểm tra kết quả của từng nhóm.
Sau khi đã có sự thống nhất của các thành viên trong nhóm, thư ký của mỗi nhóm ghi
lại hiện tượng quan sát, giải thích hiện tượng, viết phương trình (nếu có) lên giấy trong. Các
nhóm nộp kết quả thí nghiệm và giáo viên lần lượt chiếu lên màn hình phiếu của từng nhóm
(nếu còn thời gian) hoặc chọn kết quả một nhóm làm tốt và một nhóm làm yếu để học sinh
nhận xét, bổ sung bài làm của nhóm bạn. Giáo viên chốt lại kiến thức đúng.
D. Đánh giá kết quả học tập của học sinh
Giáo viên nhận xét về ý thức thái độ của học sinh trong buổi thực hành, đồng thời nhận
xét về kết quả thí nghiệm và chấm điểm phần thực hành trên lớp của mỗi nhóm (kể cả bài lấy
điểm theo hướng dẫn thực hiện chương trình và bài không lấy điểm) nhằm giúp học sinh phát
huy những kết quả đã đạt được và khắc phục những thiếu sót cho tiết thực hành sau. Qua đó
tạo cho các em ý thức phấn đấu vươn lên trong học tập.
Giáo viên hướng dẫn học sinh thu hồi hoá chất, rửa sạch dụng cụ, vệ sinh phòng thực
hành.
Cuối cùng giáo viên yêu cầu học sinh viết bản tường trình theo mẫu:
TT


hoá hoạt động của học sinh và lấy học sinh là trung tâm của quá trình dạy - học; đã tạo cho
mình có nhiều kiến thức, kinh nghiệm hơn trong việc tổ chức, điều khiển học sinh tiến hành
thí nghiệm để có một tiết dạy thực hành chất lượng.
Về phía học sinh: đã tạo cho học sinh có hứng thú trong học tập, có lòng ham thích học
tập bộ môn hóa học, tham gia các buổi thực hành có ý thức tổ chức, kỷ luật tốt. Bước đầu đã
hình thành cho học sinh phương pháp học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, tự tiến hành thí
nghiệm rút ra kết luận dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Kỹ năng sử dụng dụng cụ thí
nghiệm, hoá chất; kỹ năng quan sát trong thực hành của học sinh đã có những chuyển biến rõ
rệt. Đa số học sinh yếu kém tự tiến hành biểu diễn những thí nghiệm đơn giản cho các nhóm
cùng quan sát, thu hút sự tập trung chú ý của các học sinh trong các tiết thực hành ; kỹ năng
giải bài tập hoá học và tính toán đã được nâng lên.
Kết quả qua đánh giá chất lượng môn hoá học 9 học kỳ 1 so với đầu năm học 2006 2007, số lượng khá giỏi tăng lên, số học sinh yếu giảm đáng kể, số liệu được thể hiện qua
bảng sau:
Lớp
9A
9B

Số bài
/Sỉ số
39/39
43/43

Khá - giỏi
SL %
17
15

43,6
34,9


bài học, nội dung các thí nghiệm, mục đích mỗi thí nghiệm.
- Thiết kế bài soạn đầy đủ các bước một cách chu đáo rỏ ràng.
- Chuẩn bị đầy đủ dụng cụ, hoá chất của mỗi thí nghiệm cho từng nhóm.
- Làm thử thí nghiệm trước lúc lên lớp.
- Cải tiến một số thí nghiệm phù hợp với đối tượng học sinh và dụng cụ, hoá chất hiện
có.
- Hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài chu đáo để thực hiện các nội dung bài thực hành có
hiệu quả.
- Tổ chức, điều khiển học sinh tiến hành thí nghiệm tích cực, có hiệu quả.

Gi¸o Viªn: Ph¹m ThÞ S©m

Trang 8


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
- Đánh giá kết quả học tập của học sinh cuối tiết học, nhận xét ưu khuyết điểm để học
sinh rút kinh nghiệm cho tiết học sau.
- Phân bố thời gian hợp lý cho từng thí nghiệm, đảm bảo tiết dạy thành công.
- Mỗi giáo viên phải có tâm huyết, lòng say mê nhiệt tình và xác định trách nhiệm lớn
lao của mình trước học sinh và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Các nhà quản lý giáo dục cũng như các ban ngành có liên quan cần phải đầu tư xây
dựng cho tất cả các trường chưa có phòng chức năng hoá học trên địa bàn huyện. Có như vậy
mới phát huy hết hiệu quả của đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt
động của học sinh.
V. KẾT LUẬN
Rèn luyện kỷ năng tiến hành thí nghiệm, để học sinh đi sâu tìm hiểu bản chất của hiện
tượng hoá học trong mỗi thí nghiệm là một trong những nhiệmvụ quan trọng của người giáo
viên góp phần phát huy tính cực, chủ động trong học tập của học sinh nhằm đào tạo những
con người năng động, sáng tạo, có khả năng thích nghi với thời đại mới.

nghiệm riêng biệt, dung dịch NaOH, giấy lọc; đèn chiếu, giấy trong.
* Học sinh:
+ Mỗi nhóm chuẩn bị một mãnh giấy cứng bằng 1/2 tờ giấy A4.
+ Bản tường trình chuẩn bị trước gồm 2 cột: tên thí nghiệm và cột tiến hành thí nghiệm.
+ Ôn lại tính chất hoá học của nhôm và sắt
III - NỘI DUNG:
A- ỔN ĐỊNH: (1p)
Giáo viên ổn định tổ chức lớp. Cho HS ngồi theo nhóm. Các nhóm cử nhóm trưởng, thư
ký.
- Giáo viên kiểm tra sự chuẩn bị của học sinh.
B - BÀI CŨ (3p)
So sánh sự giống và khác nhau về tính chất hoá học của nhôm và sắt.
C - BÀI THỰC HÀNH
- Giáo viên nêu mục đích, nội dung, những nguyên tắc để đảm bảo an toàn cho bài thực
hành.
- Nhóm trưởng nhận dụng cụ, hoá chất.

Gi¸o Viªn: Ph¹m ThÞ S©m

Trang 10


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm trả lời câu

I.TIẾN HÀNH THÍ NGHIỆM

hỏi:

1) Thí nghiệm 1:

HS làm thí nghiệm theo nhóm. Chọn dụng cụ hoá chất

t0
4Al(r)+ 3O2(k) 

tiến hành thí nghiệm theo hướng dẫn của giáo viên.

(trắng)

(không màu)

2Al2O3(r)
(trắng)

Báo cáo kết qủa thí nghiệm trên giấy trong.
Các nhóm nộp kết quả.
GV chiếu lên màn hình kết quả của các nhóm.
HS nhận xét, bổ sung cho nhóm khác
GV chốt lại kiến thức đúng

Gi¸o Viªn: Ph¹m ThÞ S©m

Trang 11


S¸ng kiÕn kinh nghiÖm
Giáo viên chiếu lên màn hình các bước tiến hành thí 2-Thí nghiệm 2: Tác dụng của sắt
nghiệm.

với lưu huỳnh.(10p)

đỏ đầu đủa thủy tinh rồi cho tiếp xúc với hỗn hợp trên.

+ Hỗn hợp cháy nóng đỏ,
+ Phản ứng toả nhiều nhiệt.
- Giải thích: Do tác dụng mạnh với
lưu huỳnh tạo thành0FeS
t

- PTHH: Fe +S  FeS.
(trắng xám) (vàng)

(đen)

GV theo dõi và hướng dẫn các nhóm làm thí nghiệm.
Các nhóm nộp kết quả.
GV chiếu lên màn hình kết quả của các nhóm.
HS nhận xét bổ sung.
GV chốt lại kiến thức đúng.

Giáo viên yêu cầu HS trả lời câu hỏi:

3-Thí nghiệm 3: Nhận biết kim loại

? Có hai lọ bị mất nhãn đựng 2 kim loại riêng biệt: Al, Al và Fe.(9p)
Fe. Làm thế nào để nhận biết 2 kim loại trên?

Gi¸o Viªn: Ph¹m ThÞ S©m

Trang 12



HS nhận xét bổ sung.

Giải thích: Do nhôm phản ứng với

GV chốt lại kiến thức đúng.

dung dịch NaOH tạo bọt khí

- GV: Khí bay ra không màu, cháy với ngọn

nhận biết được Al.

nên

lửa xanh nhạt, không làm đóm diêm bùng cháy. Vậy
theo em đó là khí gì?
? Có thể dùng HCl để nhận biết Al, Fe không ? Vì sao.
GV hướng dẫn HS làm tường trình theo mẫu:

TT

Tên thí nghiệm

Cách tiến hành

II. VIếT BảN TƯờNG TRìNH (10p)

Hiện tượng quan




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status