1. PHẦN MỞ ĐẦU
1.1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Chiến lược phát triển giáo dục giai đoạn 2011 - 2020 đã xác định: "Đến năm
2020 nền giáo dục nước ta được đổi mới căn bản và toàn diện theo hướng chuẩn
hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; chất lượng giáo dục
được nâng cao một cách toàn diện gồm: giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, năng lực
sáng tạo, năng lực thực hành...."
Để thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện nhân cách con người đòi hỏi nhà
trường nói chung, giáo dục tiểu học nói riêng phải quan tâm trang bị tri thức, kỹ
năng, thái độ cho người học, đảm bảo tính cân đối giữa dạy chữ và dạy người, đặc
biệt là giáo dục kỹ năng sống cho học sinh, giúp học sinh biến tri thức thành hành
động, thái độ thành hành vi, kỹ năng để sống an toàn, khỏe mạnh, thành công và
hiệu quả.
Giáo viên chủ nhiệm là cầu nối giữa tập thể học sinh với các tổ chức giáo
dục trong và ngoài nhà trường. Thông qua công tác chủ nhiệm, việc giáo dục kỹ
năng sống góp phần định hình, định hướng tính cách của học sinh. Giáo dục KNS
cần thực hiện càng sớm càng tốt đối với học sinh. Môi trường giáo dục cần được tổ
chức nhằm tạo cơ hội cho học sinh áp dụng kiến thức và kĩ năng vào các tình
huống "thực" trong cuộc sống. Giáo dục kĩ năng sống được thực hiện mọi lúc, mọi
nơi trong gia đình, trong nhà trường và cộng đồng.
Học sinh lớp Một rất ngay thơ, tâm hồn các em như một tờ giấy trắng, vẽ
lên đó đẹp hay xấu phần lớn là tác động của thầy, cô chủ nhiệm. Đặc biệt là những
năm gần đây khi các trường Tiểu học có điều kiện tổ chức cho các em học ngày hai
buổi thì phần lớn thời gian trong ngày các em được sống và giao tiếp với thầy cô
chủ nhiệm, với bạn bè. Nếu trong quãng thời gian đó các em không may gặp phải
người “thợ vẽ tồi”, người công nhân xây dựng thiếu trách nhiệm thì suốt đời “trang
nhân cách” của các em sẽ giữ lại vết hằn khó xoá.
Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh ở tiểu học trong những năm qua đã có
nhiều chuyển biến rõ nét, đã được các cấp quản lý giáo dục, các trường, đội ngũ
giáo viên cũng như cộng đồng quan tâm. Tuy nhiên, việc rèn luyện kĩ năng sống
còn đơn điệu về nội dung, phương pháp, cách thức truyền tải còn cứng nhắc, chưa
Tìm ra một số biện pháp tích cực, tối ưu qua công tác chủ nhiệm lớp góp
phần nâng cao sự hình thành, giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp Một, để từ đó
học sinh ý thức được giá trị của bản thân trong mối quan hệ xã hội, hiểu biết về
thể chất, tinh thần của bản thân mình; có hành vi, thói quen ứng xử có văn hóa,
hiểu biết và chấp hành pháp luật… và có đủ khả năng tự chủ, độc lập, tự tin khi
giải quyết công việc, đem lại cho các em vốn tự tin ban đầu để trang bị cho các em
những kĩ năng cần thiết làm hành trang bước vào đời.
Trang 3
2. PHẦN NỘI DUNG
2.1. THỰC TRẠNG VIỆC GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC
SINH LỚP MỘT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC:
Học tập là một nhu cầu thường trực của con người trong mọi thời đại. Học
tập không chỉ dừng lại ở các tri thức khoa học thuần túy mà còn được hiểu là mọi
tri thức về thế giới trong đó có cả những mối quan hệ, cách thức ứng xử với môi
trường xung quanh.
Kĩ năng sống là một trong những vấn đề quan trọng đối với mỗi cá nhân
trong quá trình tồn tại và phát triển.
Chương trình học hiện nay đang gặp phải nhiều chỉ trích do quá nặng nề về
kiến thức trong khi những tri thức vận dụng cho đời sống hàng ngày bị thiếu vắng.
Hơn nữa, người học đang chịu nhiều áp lực về học tập khiến cho không còn nhiều
thời gian cho các hoạt động ngoại khóa, hoạt động xã hội. Điều này dẫn đến sự
“xung đột” giữa nhận thức, thái độ và hành vi với những vấn đề xảy ra trong cuộc sống.
Mặc dù ở một số môn học, các hoạt động ngoại khóa, giáo dục kĩ năng sống đã
được đề cập đến. Tuy nhiên, do nội dung, phương pháp, cách thức truyền tải chưa phù
hợp với tâm sinh lí của đối tượng nên hiệu quả lồng ghép còn chưa cao.
Qua thực tế giảng dạy bản thân tôi thấy kĩ năng sống của học sinh chưa cao.
Chỉ một số học sinh có hành vi, thói quen, kĩ năng tốt. Còn phần lớn các em có
Đội, nội quy, quy định của nhà trường. Các em tham gia khá nhiệt tình các hoạt
động xã hội, từ thiện, văn hóa, văn nghệ …Đa số các em biết vui chơi đúng cách
không để xảy ra tai nạn thương tích.
Ngoài ra Ban lãnh đạo nhà trường luôn theo sát, quan tâm, hỗ trợ cho giáo
viên trong công tác giảng dạy cũng như giáo dục. Chính vì thế bản thân tôi luôn cố
gắng làm sao rèn cho các em kĩ năng sống, giúp các em có một niềm tin, phát triển
một cách toàn diện để trở thành con người năng động, sáng tạo phù hợp với một xã
hội hiện đại đang phát triển.
1.2. Khó khăn
* Đối với giáo viên
Đa số giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục kĩ năng sống
cho học sinh, điều này được thể hiện rất đầy đủ trên hồ sơ, giáo án… nhưng khi thực
hành, phần lớn giáo viên vẫn còn lúng túng trong việc tổ chức hoạt động các bài học
có nội dung giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. Thông qua các hoạt động giáo dục
thích hợp, giáo viên chưa tận dụng hoặc có thực hiện song không mang lại ý nghĩa
hình thành và phát triển kĩ năng sống cho học sinh lớp mình chủ nhiệm.
Trong quá trình giáo dục giáo viên phần lớn chỉ quan tâm tới việc dạy chữ
mà chưa quan tâm nhiều tới việc dạy làm người cho học sinh. Vì vậy việc thích
ứng với xã hội, với cuộc sống xung quanh là một vấn đề khó đối với các em. Một
số giáo viên chưa chú trọng đến kĩ năng thực hành, chủ yếu hình thành trên lí
thuyết.
Một số giáo viên chủ nhiệm chưa quan tâm đúng mức đến công tác chủ
nhiệm lớp, mỗi người hiểu, tiếp cận và thực hiện một cách khác nhau vì thế cũng
coi nhẹ việc rèn các kĩ năng sống cho học sinh.
Trang 5
* Đối với học sinh
Học sinh lớp Một vừa rời trường mầm non, bắt đầu làm quen với môi trường
mà quên hướng cho con em làm tốt hoạt động đoàn thể, hoạt động xã hội và cách ứng
xử trong gia đình, trong cuộc sống...
Phụ huynh trong lớp có một số bố mẹ quá nuông chiều, cung phụng con cái
khiến trẻ không có kĩ năng tự phục vụ bản thân. Ngược lại, một số học sinh phải ở
nhà với ông bà vì bố mẹ đi làm ăn xa, nên thiếu sự quan tâm dạy dỗ của bố mẹ.
Trang 6
Đây chính là điều kiện dễ dẫn đến các tệ nạn xã hội xâm nhập vào các em nếu các
em thiếu đi các kĩ năng sống, thiếu sự quản lí chặt chẽ của nhà trường - gia đình xã hội.
Một số phụ huynh kĩ năng giao tiếp trong gia đình còn nhiều hạn chế, xưng hô
chưa chuẩn mực nên các em bắt chước và xưng hô thiếu thiện cảm.
Từ các nguyên nhân, tình hình thực tiễn cũng như các thuận lợi và khó khăn
nêu trên, bản thân đã cố gắng tìm nhiều biện pháp rèn luyện kĩ năng sống cho học
sinh lớp Một thông qua công tác chủ nhiệm lớp nhằm đem lại hiệu quả cao trong
công tác giáo dục.
Qua tiến hành khảo sát một số kĩ năng sống cơ bản của học sinh lớp 1B (25
học sinh) đầu năm học – lần 1 kết quả như sau:
BẢNG THỐNG KÊ
MỨC ĐỘ ĐẠT ĐƯỢC CỦA CÁC KĨ NĂNG CƠ BẢN
TT
1
2
3
4
5
Kĩ năng sống cơ bản
của học sinh lớp Một
16
15
17
18
16
Kĩ năng tốt
60
68
72
64
Kĩ năng chưa
tốt
SL
5
%
20
6
3
4
5
24
12
16
Trang 8
2.2. MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
LỚP MỘT THÔNG QUA CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP
Kĩ năng sống được giáo dục ở nhà và ở trường. Kĩ năng sống được giáo dục
trong các môn học chính khóa và ngoại khóa. Giáo dục kĩ năng sống cần bắt đầu từ
nhỏ, từ từng hành vi cá nhân đơn giản nhất, theo đó hình thành tính cách và nhân
cách. Sau đây là những biện pháp giáo dục đã được bản thân tôi áp dụng tại lớp
mình phụ trách và được đồng nghiệp cùng áp dụng có hiệu quả:
Biện pháp 1: Giáo viên chủ nhiệm luôn gần gũi và tạo mối thân thiện với
học sinh lớp Một.
Hiểu được tâm sinh lí học sinh: Sáu tuổi vào lớp Một là bước ngoặt lớn của
trẻ thơ. Môi trường học tập thay đổi một cách cơ bản: trẻ phải tập trung chú ý trong
thời gian liên tục từ 30 – 35 phút. Nhu cầu nhận thức chuyển từ hiếu kỳ, tò mò
sang tính ham hiểu biết, hứng thú khám phá. Trẻ bắt đầu kiềm chế dần tính hiếu
động, bột phát để chuyển thành tính kỷ luật, nề nếp, chấp hành nội quy học tập.
Tinh nhạy và sức bền vững, tính khéo léo của các thao tác của đôi bàn tay để tập
viết được phát triển nhanh. Tất cả những điều đó đều là thử thách đối với trẻ, muốn
trẻ vượt qua được tốt những thử thách đó thì phải cần có sự quan tâm giúp đỡ của
gia đình, nhà trường và xã hội dựa trên sự hiểu biết về tri thức khoa học.
Giáo viên chủ nhiệm cần có kiến thức hiểu biết về tâm sinh lý trẻ, nhận thức
sâu sắc về tầm quan trọng của rèn kỹ năng sống cho học sinh, có kế hoạch cụ thể,
biết cách và thường xuyên quan sát, gần gũi, thân thiện với trẻ, phát hiện khó khăn,
giúp đỡ tư vấn giúp học sinh biết cách tự giải quyết đúng được những vấn đề khúc
mắc trong cuộc sống đa dạng.
Xây dựng môi trường học thân thiện: “Môi trường học thân thiện với trẻ là
nơi thực hiện và tôn trọng quyền trẻ em, là môi trường học tập hòa nhập, nơi đó
không hề có sự phân biệt đối xử, giúp trẻ sống hòa đồng. Là môi trường giáo dục
hiệu quả, tạo điều kiện cho trẻ phát triển toàn diện, trẻ cảm thấy thoải mái, hứng
vui tươi hơn.
Cần đặc biệt coi trọng lễ khai giảng, ngày “toàn dân đưa trẻ đến trường” để
tất cả học sinh và phụ huynh lớp Một thấy được niềm hạnh phúc, sự tôn vinh, tầm
quan trọng…và biết bao điều kì vọng trông chờ con em mình bước vào lớp Một.
Hằng ngày giáo viên đến lớp sớm trò chuyện với các em, hỏi thăm về gia
đình tâm tư tình cảm, sở thích của từng em. Qua đó giáo viên nắm bắt được từng
đối tượng học sinh trong lớp từ đó đề ra biện pháp giáo dục phù hợp với các em.
Tạo không khí lớp học nhẹ nhàng, thân thiện, gần gũi giữa cô - trò, giữa trò – trò.
Cần tạo dấu ấn cho học sinh khi đến trường: Để trẻ lớp Một yêu lớp, yêu
trường, nhiệm vụ của thầy cô cần làm cho các em cảm thấy việc đi học vừa là
quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của mình. Nỗi háo hức và tò mò khi thấy các anh chị
vào trường học mà mình chưa được vào cũng là một động lực để bé cảm thấy thích
trường học.
Với các em, trường tiểu học là nơi hoàn toàn lạ lẫm. Nó có thể vô cùng bí ẩn
nhưng nó cũng có thể rất dễ thương. Giáo viên cần cho các em biết rằng, bước vào
trường Tiểu học chính là mở ra cánh cửa cổ tích, ở đây có biết bao điều kì thú đang
chờ đón các em khám phá. Nó không chỉ dừng lại ở những hoạt động vui chơi bổ
ích mà quan trọng hơn ở đây các em sẽ được giải đáp những thắc mắc, sẽ được tìm
hiểu những cái mà các em chưa bao giờ nghĩ đến.
Trang 10
Biện pháp 2: Tổ chức hiệu quả tiêt sinh hoạt tập thể theo mô hình tự
quản, rèn kĩ năng sống thông qua các chủ đề ở tài liệu Sống đẹp lớp Một.
Tổ chức tiêt sinh hoạt tập thể theo mô hình tự quản: Học sinh lớp Một rất
hồn nhiên, trong sáng, các em thích vận động, tìm tòi và làm theo cái mới, nhưng
cũng rất dể chán nản khi không đạt được mục đích hoặc không được động viên kịp
thời. Các em cũng thích sôi nổi và hứng thú khi tham gia các phong trào mang tính
nghệ thuật như múa, hát, kể chuyện, bày tỏ ý kiến, diễn kịch trước lớp, các em
Rèn kĩ năng sống thông qua các chủ đề ở tài liệu Sống đẹp lớp Một: Tài
liệu sống đẹp giúp các em hình thành các năng lực, phẩm chất như: Tự phục vụ, tự
quản; Giao tiếp, hợp tác; Giải quyết vấn đề trong cuộc sống …; Tích cực tham gia
các hoạt động giáo dục; Tự tin, tự trọng, tự chịu trách nhiệm; Trung thực, đoàn kết;
Yêu gia đình, bạn bè và những người khác; yêu trường, yêu quê hương, đất nước…
Các loại hình hoạt động trong sách rất đa dạng, phong phú. Sách được biên soạn
theo 6 chủ đề, được chia thành 2 tập. các chủ đề đó lại được xây dựng xoạy quanh
cuộc sống hằng ngày của các em. Các chủ đề đó lại được cấu trúc đồng tâm, thống
nhất phù hợp tâm lí lứa tuổi và đặc điểm nhận thức của học sinh:
TT
1
CHỦ ĐỀ
Em và gia đình
NỘI DUNG CHÍNH
* Kĩ năng tự nhận thức bản thân:
- HS trong mối quan hệ với người thân trong gia đình;
- HS với các hoạt động khi ở nhà.
2
Một ngày của em
* Kĩ năng xác định mục tiêu:
ở nhà
- HS nhận thức những mối nguy hiểm xảy ra khi ở nhà
- Phòng tránh nguy cơ bị ngã, bị bỏng, bị các vật sắc nhọn đâm.
Giáo dục kĩ năng sống phải tuân thủ các nguyên tắc:
Tương tác
Thời gian môi trường giáo dục
Trải nghiệm
Tiến trình
Thay đổi hành vi
Tương tác: Thông qua hoạt động học tập hoặc các hoạt động xã hội trong
nhà trường, nhiều kĩ năng sống sẽ được hình thành trong quá trình HS tương tác
Trang 12
với bạn cùng học và những người xung quanh (kĩ năng thương lượng, kĩ năng giải
quyết vấn đề...). Do đó, tổ chức các hoạt động giáo dục có tính tương tác, HS sẽ có
dịp thể hiện các ý tưởng của mình, xem xét ý tưởng của người khác, được đánh giá
và xem xét lại những kinh nghiệm sống của mình trước đây theo một cách nhìn
nhận khác.
Trải nghiệm: Chỉ được hình thành khi người học được trải nghiệm qua các
tình huống thực tế. HS chỉ có kĩ năng khi các em tự làm việc đó, chứ không chỉ nói
về việc đó. Kinh nghiệm có được khi HS được hành động trong các tình huống đa
dạng giúp các em dễ dàng sử dụng và điều chỉnh các kĩ năng phù hợp với điều kiện
thực tế.
Vì vậy, việc tổ chức các hoạt động giáo dục có tính chất trải nghiệm trong nhà
trường tạo cơ hội quan trọng để giáo dục KNS hiệu quả.
Tiến trình: Giáo dục KNS đòi hỏi phải có cả quá trình:
Nhận thức - hình thành thái độ - thay đổi hành vi. Đây là một quá trình mà
để kiểm soát, hạn chế tình trạng tai nạn đuối nước nhằm tạo môi trường học tập,
vui chơi an toàn cho học sinh; giáo dục học sinh nắm chắc các kĩ năng, kĩ thuật bơi
an toàn khả năng sống sót trong môi trường nước.
Môn bơi lội được phổ cập rộng rãi như một môn học trong nhà trường, nhằm
trang bị cho học sinh những kĩ năng sống sót khi gặp trường hợp nguy cấp trong
môi trường nước.
* Chương trình giáo dục bơi an toàn và phòng chống đuối nước theo CV
26/QĐ - GD&ĐT:
+ Tuần 23: Dạy khái niệm, lợi ích, tác dụng môn bơi lội.
Tầm quan trọng của việc biết bơi, tình trạng học sinh biết bơi, tai
nạn đuối nước ở Quảng Bình, một số vận động viên tiêu biểu trong bơi lội.
Cho học sinh xem một số phóng sự(một số hình ảnh) về đuối
nước, thực trạng học bơi của học sinh hiện nay.
+ Tuần 24: Phòng tránh đuối nước.
+ Tuần 25: Cách nhận biết các khu vực nguy hiểm có thể gây đuối nước.
+ Tuần 26: Kiểm tra các kiến thức về an toàn dưới nước.
Tổ chức tuyên truyền, phổ biến Kế hoạch Phổ cập bơi cho toàn thể học sinh
và phụ huynh học sinh trong việc tiến tới phổ cập bơi.
Vận động phụ huynh tự dạy bơi cho con em mình (trong đó có yêu cầu phụ
huynh cam kết về đảm bảo an toàn tuyệt đối cho học sinh khi tập bơi). Đây là giải
pháp an toàn và hiệu quả nhất.
Luyện tập thông qua Giáo dục kĩ năng an toàn dưới nước ở nhà trường.
* Chương trình tích hợp dạy học phòng tránh tai nạn bom mìn được thực
hiện trong môn Tự nhiên & xã hội và môn đạo đức. Cụ thể:
Môn Tự nhiên và xã hội:
Bài 3: Nhận biết các vật xung quanh
Mục tiêu: HS có khả năng nêu được đặc điểm chung cảu bom mìn, vật liệu
chưa nổ và sự nguy hiểm của chúng.
Trang 14
làm được, nhiều khi sức khỏe của các em phụ thuộc vào những điều rất giản dị.
Hiệu quả đào tạo kĩ năng sống không đo đếm được bằng những con số chính xác
nhưng được thể hiện bằng những biểu hiện cụ thể. Do đó, bản thân đã chú ý rèn
luyện sức khoẻ và ý thức bảo vệ sức khoẻ, kĩ năng phòng chống tai nạn giao thông
và các thương tích khác . Đó chính là giáo dục một lối sống khoa học.
Ví dụ: để các em có kĩ năng phòng chống tai nạn giao thông và các thương
tích khác, bản thân đã giáo dục các em thông qua việc tích hợp nội dung “ An toàn
Trang 15
giao thông” như đưa ra những tình huống cho các em xử lí. Chẳng hạn: “Trẻ em
dưới 7 tuổi phải đi cùng với ai khi đi trên đường và khi qua đường? Đi bộ qua
đường em phải đi ở đâu?”; “Khi đi bộ em đi ở đâu? Nếu đường không có vỉa hè thì
thế nào?”; “Em có nên chơi đùa trên đưòng phố không? Có leo trèo qua dải phân
cách và chơi gần dải phân cách không? Vì sao?”; “Khi ngồi trên xe máy em phải
như thế nào? “Các em đã nhìn thấy tai nạn trên đường chưa? Theo các em vì sao
tai nạn xảy ra?”;...
Giáo dục cho các em tránh các tai nạn trên đường: không được chạy lao ra
đường, không được bám bên ngoài ô tô, không được thò tay, chân, đầu ra ngoài khi
đi trên tàu, xe, ghe, đò,...Như vậy, các em có thể tự lập, xử lí được những vấn đề
đơn giản khi gặp phải.
Nhắc nhở học sinh không sờ tay vào lỗ ổ cắm điện; không leo lên lan can
của nhà cao tầng; không xô đẩy nhau khi đi lên xuống cầu thang; không chơi dao,
kéo và các đồ vật sắc nhọn …
Giáo dục học sinh một số tình huống thường gặp trong trường như kỹ năng
xử lý tình huống khi thấy bạn bị té chảy máu. Chẳng hạn: Gặp tình huống trên thì
thứ nhất các em phải báo ngay cho thầy cô biết, thứ hai là phải khẩn trương đưa
bạn vào phòng y tế. Như vậy khi gặp các tình huống này xảy ra vì các em đã học
nên các em có thể xử lý được ngay.
Sau những giờ học căng thẳng và mệt mỏi thì giờ chơi là giờ các em được
tháng, thì hàng tuần tôi dành một khoảng thời gian nhất định để trò chuyện với các
em để được nghe chính các em nói, chính các em kể cho tôi nghe những tâm tư
nguyện vọng của mình để từ đó tôi hiểu và gần gũi các em hơn.
Để rèn kĩ năng sống có hiệu quả bản thân còn vận dụng thông qua các hoạt
động ngoài giờ học. Đó là qua các buổi ngoại khóa của trường, lớp. Những buổi
chào cờ, bản thân luôn khuyến khích các em xung phong trả lời những câu hỏi mà
cô Tổng phụ trách hay hỏi. Luôn lắng nghe các nội dung, hoạt động cần làm trong
tuần. Nhờ vậy các em mạnh dạn dần và thực hiện tốt các phong trào
Ngoài ra, vì học sinh lớp Một chưa đọc thông viết thạo nên giáo viên cần
tranh thủ đọc sách cho các em nghe trong mọi tình huống như những lúc sinh hoạt
đầu giờ, hoặc đọc sách các em nghe trong giờ sinh hoạt lớp. Tăng cường kể cho
các em nghe các câu chuyện cổ tích, câu chuyện trong bài tập đọc, bài thơ,…để
qua đó rèn luyện kĩ năng sống cho các em, giúp các em hoàn thiện mình, dạy các
em yêu thương bạn bè, yêu thương con người.Tạo hứng thú cho các em qua các
truyện bằng tranh tùy theo lứa tuổi, gợi mở tính tò mò, ham học hỏi, phát triển khả
năng thấu hiểu ở trẻ.
Bên cạnh đó, để rèn kĩ năng tự phục vụ, biết lao động vừa sức, biết trang trí
lớp học xanh - sạch - đẹp, giúp các em yêu trường, yêu lớp hơn, bản thân đã hướng
dẫn các em trồng cây xanh và chăm sóc cây xanh trong lớp hàng ngày.
Biện pháp 5: Tăng cường công tác phối hợp giữa gia đình - nhà trườngxã hội trong hoạt động Giáo dục kĩ năng sống cho các em. Tăng cường công tác
kiểm tra, đánh giá, thi đua khen thưởng.
Để động viên, khuyến khích học sinh thực hiện tốt việc rèn luyện các kĩ
năng, ngay từ buổi họp phụ huynh đầu năm học bản thân đưa ra kế hoạch rèn luyện
cho các em lớp mình phụ trách. Trao đổi với Ban chấp hành hội phụ huynh cùng
phối hợp và dành một khoản riêng để khen thưởng kịp thời động viên các em để
tạo cho các em có một động cơ tốt trong việc duy trì thực hiện. Bản thân theo dõi
hằng ngày, các em có biểu hiện tốt thì ghi vào sổ tay, trong tiết sinh hoạt cuối tuần
cho các em bình chọn những bạn thực hiện tốt sẽ được một bông hoa. Vì vậy, các
Trang 17
Cô giáo, cha mẹ cần dạy các em những nghi thức văn hóa trong ăn uống,
biết cách sử dụng các đồ dùng ăn uống; Cụ thể: Các em được làm quen với những
đồ dùng, vật dụng khác nhau, (bộ đồ bếp, bộ đồ ăn, bộ đồ uống). Sự sạch sẽ, gọn
gàng, một thói quen nề nếp, sự sắp đặt ngăn nắp, ngay ngắn những bộ đồ dùng, vật
dụng, thái độ ăn uống từ tốn, không vội vã, không khí cởi mở, thoải mái và đầm
ấm, những cuộc trao đổi nhẹ nhàng, dễ chịu… tất cả những yếu tố trên sẽ giúp các
em có thói quen tốt để hình thành kĩ năng tự phục vụ và ý nghĩa hơn là kỹ năng
sống tự lập sau này.
Trang 18
Giáo viên chủ nhiệm gợi ý phụ huynh học sinh xây dựng và kiểm tra việc
thực hiện thời gian biểu ở nhà : Trao đổi với phụ huynh học sinh về quy định thời
gian biểu trong ngày cho các em. Giáo viên chủ nhiệm sẽ chịu trách nhiệm hướng
dẫn các em thực hiện thời gian biểu phù hợp. Ví dụ thời gian biểu buổi sáng ngày
bình thường của một học sinh như sáng 6 giờ dậy, đánh răng, rửa mặt, quét nhà, ăn
sáng sau đó đi học … sẽ phối hợp theo dõi, động viên, nhắc nhở các em thực hiện
theo thời gian biểu. Vào ngày thứ bảy, chủ nhật các em được nghỉ thì cùng với mẹ
nhặt rau nấu cơm, các em học sinh lớp lớn hơn có thể cắm cơm phụ cha mẹ, chế
biến một số món ăn đơn giản; dọn dẹp nhà cửa, lau bàn ghế …
Phối hợp giáo dục các em về các ứng xử văn hóa. Ví dụ như có khách đến
nhà, hoặc đi chơi nhà người khác các em phải thưa người lớn tuổi hoặc đơn giản ở
gia đình khi ăn cơm các em phải so đũa cho mọi người, cha mẹ ăn xong phải lấy
tăm cho cha mẹ …
Phối hợp trong việc nêu gương: Kỹ năng sống thì không phải chỉ học trong
nhà trường. Nhà trường chỉ quản lý học sinh trong thời gian ở trường còn khi ra
đường, về nhà thì cha mẹ mới là người thầy thực sự. Một thực tế là ở trường, cô
giáo dạy không được vứt rác bừa bãi mà phải cho vào thùng rác nhưng ngay trước
mặt con, nhiều phụ huynh cầm cả bịch nước mía vừa uống xong vứt xuống đường;
ở trường cô dạy không được vượt đèn đỏ tuy nhiên khi chở các em một số phụ
thiếu trong quá trình tổ chức hoạt động Giáo dục kĩ năng sống nhằm xem xét, nhận
định những kết quả đạt được về mặt kiến thức, kỹ năng, hành vi, thái độ ứng xử,
những tiến bộ và những hạn chế của học sinh sau mỗi quá trình hoạt động.
Tóm lại, bằng nhiều hình thức khác nhau, bản thân luôn cố gắng rèn cho học
sinh những kĩ năng cơ bản có hiệu quả, thể hiện rõ nét ở sự tiến bộ của học sinh
trong nhận thức, trong cư xử, đối xử tốt với bạn bè, người lớn và linh hoạt xử lí
trong mọi trường hợp.
Việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua học tập, sinh hoạt ở nhà trường
là điều hết sức cần thiết cho tương lai các em. Để đạt được điều đó, giáo viên chủ
nhiệm cần kiên trì, quyết tâm thực hiện từng bước và liên tục trong suốt quá trình
giảng dạy.
Trong sinh hoạt hằng ngày, giáo viên chủ nhiệm cần chú ý nâng dần kĩ năng
giao tiếp - tự nhận thức cho các em như biết sử dụng đúng các quy tắc: chào hỏi,
xin phép, cảm ơn, xin lỗi, yêu cầu… Biết cả thông cảm chia sẻ buồn vui với mọi
người.
Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh Tiểu học nói chung và học sinh lớp Một
nói riêng là điều rất cần thiết. Nó trang bị đầy đủ những kĩ năng cho các em để các
em có được cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Đồng thời giúp những em có thói
quen xấu và hành vi tiêu cực trở thành con ngoan, trò giỏi và là người có ích cho
xã hội sau này.
Trang 20
2.3. HIỆU QUẢ ÁP DỤNG:
*Về phía học sinh
Thông qua các biện pháp giáo dục thì các em từng bước được bồi dưỡng
thêm các kỹ năng sống. Các em tự tin, chủ động khi tham gia các hoạt động tập
thể. Các em biết chăm sóc giữ gìn sức khỏe cho bản thân, biết giữ gìn vệ sinh cá
nhân, vệ sinh lớp học, vệ sinh sân trường, đi vệ sinh đúng cách … góp phần làm
Bảo vệ bản thân
Đảm nhận trách nhiệm
Giao tiếp
SL
9
%
36
Có hình
thành kĩ
năng
SL
%
13
52
8
9
6
11
32
36
24
44
13
15
* Về phía phụ huynh học sinh
Thông qua các cuộc họp phụ huynh học sinh hoặc gặp gỡ trao đổi riêng thì
phụ huynh học sinh đã nắm bắt rõ thêm sự cần thiết phải giáo dục kĩ năng sống
cho các em và cách giáo dục phù hợp. Phụ huynh học sinh đã quan tâm hơn đến
việc giáo dục kĩ năng sống cho con em của mình khi các em ở gia đình, phụ huynh
không chỉ nhắc các em học văn hóa mà còn chú ý đến việc giáo dục kĩ năng sống
cho các em.
Kinh nghiệm trên đã áp dụng rộng rãi ở tất cả các lớp trong khối Một được
các đồng nghiệp đồng tình ủng hộ. Học sinh trong khối ngoan hơn, tự giác chủ
động, mạnh dạn hơn, đã thể hiện được cách xử lí trong ứng xử khá phù hợp. Toàn
khối trong ba năm qua không có em nào bị kỉ luật và tỉ lệ lên lớp đạt chỉ tiêu.
Như vậy, với hiệu quả đạt được như trên đã phần nào phản ánh được tác
dụng sáng kiến này, nó được áp dụng có hiệu quả trong lớp cũng như trong khối.
Các giáo viên trong trường cũng đã áp dụng sáng kiến này trong công tác chủ
nhiệm của mình, học sinh đa số đều có kĩ năng sống tốt hơn: thích ứng được với
môi trường xã hội, tự giải quyết được một số vấn đề thiết thực trong cuộc sống như
vấn đề về sức khỏe, môi trường, tệ nạn xã hội,…các em có thể tự tin, chủ động
không bị quá phụ thuộc vào người lớn mà vẫn có thể tự bảo vệ mình, tự đem lại lợi
ích chính đáng, điều kiện thuận lợi cho bản thân mình rèn luyện, học tập phấn đấu
vươn lên đáp ứng được phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học
sinh tích cực.”
* Phạm vi áp dụng:
Đề tài này được áp dụng từ đầu năm học đến nay để: Giáo dục kỹ năng sống
cho học sinh lớp 1B (lớp tôi chủ nhiệm) và tất cả các đối tượng là học sinh lớp Một ở
trường tôi.
Trang 22
trồng người. Vì thế, bản thân luôn cố gắng trau dồi sách vở, học hỏi từ đồng nghiệp
cũng như đúc kết kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, nâng cao đạo đức và
chuyên môn. Bản thân đã luôn tôn trọng và kiên nhẫn, nhất là tạo cơ hội cho các
em được nói, được diễn đạt, bày tỏ thoải mái ở mọi nơi mọi lúc để các em có cơ
hội phát triển một cách toàn diện.
Về phía nhà trường: Theo phương châm giáo dục hiện nay là: “Học để biết,
học để chung sống, học để tự khẳng định mình” nên: Nhà trường luôn phát động
phong trào này hơn nữa dưới nhiều hình thức.
Về phía phụ huynh: Trước hết là cần hiểu rõ tầm quan trọng của việc rèn
luyện kĩ năng sống cho con em, tạo một chỗ dựa vững chắc để trẻ chia sẻ, bày tỏ,
luôn phối kết hợp với nhà trường trong việc giáo dục và rèn luyện cho các em, theo
dõi mọi biểu hiện của trẻ để có sự giáo dục cho phù hợp.
Trong quá trình hoàn thành bài viết này chắc chắn không thể tránh khỏi
những thiếu sót, bản thân tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của Hội
đồng khoa học và quý đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Trang 24
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1
1.1
.
1.2
2
2.1
2.2
tránh tai nạn bom mìn cho học sinh.
12
Biện pháp 4: Giáo viên chủ nhiệm tổ chức giáo dục lao động,
giáo dục sức khỏe, hướng dẫn học sinh vui chơi đúng cách,
thực hiện tốt an toàn giao thông.
14
Biện pháp 5: Tăng cường công tác phối hợp giữa gia đình nhà trường-xã hội trong hoạt động Giáo dục kĩ năng sống
cho các em. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá, thi đua,
khen thưởng.
2.3
3
3.1
3.2
HIỆU QUẢ ÁP DỤNG
PHẦN KẾT LUẬN
Ý NGHĨA CỦA SÁNG KIẾN
KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT
Trang 25
16
21
23
23
24