1. Phần mở đầu
Thơ là tiếng nói hồn nhiên nhất của tâm hồn, vì thế thơ rất dễ đi vào lòng
người. Ngay từ thuở lọt lòng, qua lời ru ngọt ngào của mẹ, dù chưa biết thưởng
thức những nhịp điệu êm dịu lúc lên bổng xuống trầm, lúc ngân nga của lời thơ, đã
góp phần tạo lên một thế giới tình cảm của bé. Thậm chí khi đã về già, ông, bà, cha,
mẹ vẫn còn nhớ một cách sâu sắc những cảm giác của buổi ban đầu khi được nghe
tiếng ru hời, ru hỡi. Đó là những ký ức đã ảnh hưởng sâu sắc đến mỗi nhân cách
mỗi con người.
Trẻ thơ có một tâm hồn rất nhạy cảm với cái đẹp. Đây là lứa tuổi bắt đầu của
sự nhận thức và những tình cảm mãnh liệt, các em yêu thơ, thích thơ và có nhu cầu
đọc thơ. Trẻ thơ đến với thơ ca bằng những rung động đầu tiên ngọt ngào nhất, say
mê nhất, những suy nghĩ phóng túng nhất. Chính vì vậy thơ ca có vai trò quan trọng
góp phần hình thành và phát triển nhân cách trẻ. Thơ là một phần của cuộc sống gợi
lên cho trẻ những cảm xúc lành mạnh, thơ giúp trẻ nhận thức thế giới xung quanh
về con người về cuộc sống xã hội xung quanh trẻ. Vì vậy thơ góp phần giáo dục
thẩm mỹ và phát triển ngôn ngữ nghệ thuật cho trẻ. Nhờ đó trẻ nảy sinh năng lực
tự hoạt động nghệ thuật khi tiếp xúc với thơ ca.
1.1. Lý do chọn đề tài
Tôi nhận thấy thơ ca là rất cần thiết phải dạy trẻ không những hiểu thơ, cảm
nhận thơ, mà còn phải thuộc thơ để vận dụng vào cuộc sống, tạo vốn sống cho trẻ
kế thừa phát huy tinh hoa của dân tộc Việt Nam.
Để thực hiện nhiệm vụ của ngành học mầm non. Trẻ mầm non là viên gạch
hồng đầu tiên, để xây lên toà lâu đài cho đất nước. Chúng ta không những đào tạo
con người có tri thức khoa học mà còn tạo ra thế hệ mầm non tương lai, biết yêu
nghệ thuật, giàu ước mơ, hiểu được cội nguồn dân tộc.
Xuất phát từ thực tế của việc dạy và học của trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi tôi thấy
các cháu ở lứa tuổi này cần thiết được học thơ vì qua thơ, đã góp phần vào mục
đích giáo dục nghệ thuật và phát triển ngôn ngữ, cung cấp vốn từ cho trẻ. Dạy thơ
cho trẻ gồm 2 quá trình có liên quan mật thiết với nhau đó là "Nghe tác phẩm và tái
tạo lại tác phẩm (có nghĩa là trẻ thuộc và đọc diễn cảm tác phẩm) chất lượng tái tạo
lại tác phẩm một cách sáng tạo lại phụ thuộc vào mức độ lĩnh hội tác phẩm của trẻ.
nhanh nhạy và ngôn ngữ diễn đạt tốt hơn.
2. Phần nội dung
2.1. Thực trạng
- Năm học 2014 - 2015 được sự phân công của Ban giám hiệu nhà trường tôi
giảng dạy lớp 4- 5 tuổi. Với tổng số trẻ: 27 cháu; có 14 nữ, 13 nam.
Qua đề tài nghiên cứu giúp giáo viên có những định hướng phù hợp trong
công tác chăm sóc giáo dục cho trẻ mầm non ở độ tuổi 4 - 5 tuổi sau khi vận dụng
đề tài sẽ góp phần đắc lực cho quá trình hình thành phát triển nhân cách toàn diện
cho trẻ
Trước khi thực hiện đề tài tôi đã có những hoạt động dạy trẻ đọc thơ, tôi thấy
vốn từ và trẻ đọc thơ diễn cảm của trẻ còn ít , đặc biệt trẻ còn nói ngọng, ví dụ như:
Bài thơ: “Hoa kết trái” trẻ đang còn đọc ngọng một số từ như “Hoa lựu” thành “hoa
lịu” hoặc từ” Rung rinh” Thành “dung dinh”… trẻ gặp rất nhiều khó khăn, số liệu
cụ thể qua từng hoạt động được tổng hợp trong bảng sau:
TT
Nội dung
Kết quả
Số lượng
Tỷ lệ %
1
Trẻ hứng thú với đọc thơ.
6/27
22%
2
Trẻ đọc diễn cảm bài thơ.
6/27
22%
3
Phát triển ngôn ngữ của trẻ
10/27
Khó khăn
Do trình độ nhận thức không đồng đều, do đó gặp rất nhiều khó khăn.
Hơn 50% trẻ chưa phân biệt được sự khác nhau rất tinh tế trong cách phát âm
mà chỉ tiếp nhận một cách chung chung.
Ví dụ: tay - tai, muỗi - mũi, phân biệt .
- 45% khả năng chú ý của trẻ còn yếu, không đều, không ổn định, vì vậy nên
trẻ chưa chú ý đều đến các thành phần torng câu, trong từ. Vì vậy những âm điệu
được đọc lướt, những từ không nhấn mạnh trong câu trẻ dễ bỏ qua, không chú ý.
- Trí nhớ của trẻ còn hạn chế, trẻ chưa biết hết khối lượng các âm tiếp thu
cũng như trật tự các từ trong câu. Vì thế trẻ bỏ bớt từ, bớt âm khi nói.
- 70% kinh nghiệm sống của trẻ còn nghèo nàn, nhận thức hạn chế dẫn đến
tình trạng trẻ dùng từ không chính xác, câu lủng củng.
- 40% trẻ nói, phát âm sai do ảnh hưởng ngôn ngữ của người lớn xung quanh
trẻ (nói tiếng địa phương)
- Một số phụ huynh bận công việc ít có thời gian trò chuyện với trẻ và nghe
trẻ nói. Trẻ được đáp ứng quá đầy đủ về nhu cầu mà trẻ cần. Ví dụ: Trẻ chỉ cần nhìn
vào đồ dùng, đồ vật nào là được đáp ứng ngay mà không cần dùng lời để yêu cầu
hoặc xin phép. Đây cũng là một trong những nguyên nhân của việc chậm phát triển
ngôn ngữ.
Với những thuận lợi và khó khăn trên tôi luôn trăn trở, tìm tòi, đổi mới
phương pháp linh hoạt sáng tạo, tìm ra các giải pháp tối ưu nhất để tổ chức hoạt
động dạy trẻ đọc thơ diễn cảm.
2.2. Các giải pháp
* Giải pháp 1: Tạo môi trường hoạt động, rèn luyện cho trẻ.
Trong quá trình tổ chức chăm sóc giáo dục trẻ mầm non nói chung và trẻ 4 5 tuổi nói riêng, thì việc tạo môi trương hoạt động cho trẻ là rất cần thiết và quan
trọng, đặc biệt là tạo môi trương mang nội dung văn học.
3
Tôi luôn tận dụng diện tích phòng học, chú ý bố trí sắp xếp các học cụ, đội
Ví dụ: Chủ đề: “Ngày thành lập quân đội nhân dân 22/12” khi dạy với đề tài
chú bộ đội. Đọc thơ: “Chú giải phóng quân” tôi sử dụng hình ảnh chú bộ đội để gây
sự hứng thú cho trẻ.
- Tổ chức hoạt động đa dạng dựa vào hoạt động trọng tâm.
Ví dụ: Khi trọng tâm là đọc thơ diễn cảm, tôi cho trẻ lựa chọn đọc theo nhiều
hình thức khác nhau như đọc theo nhóm, đọc đối câu… dựa theo các hình thức
khác nhau.
- Sử dụng phương pháp đàm thoại - sử dụng hệ thống các câu hỏi để đàm
thoại
4
Ví dụ: khi đọc thơ thì chúng ta phải đọc nhanh hay chậm? Đọc như thế nào?
(Đọc diễn cảm)
* Giải pháp 3: Sử dụng đồ dùng trực quan minh hoạ, làm đồ dùng đồ chơi.
Đây là hình thức tổ chức hoạt động rất có hiệu quả, truy nhiên việc sử dụng
đồ dùng trực quan vào việc đọc tác phẩm thơ như thế nào mới là vấn đề quan trọng.
Nếu đồ dùng trực quan quá xấu, hoặc quá sơ sài sẽ gây sự mất tập trung chú ý cũng
như hạn chế việc cảm nhận nội dung tác phẩm của trẻ.
Đối với trẻ 4 - 5 tuổi các tác phẩm văn học nói chung và tác phẩm thơ nói
riêng, thông qua ngôn ngữ đọc cùng với việc tư duy trực quan bằng hình ảnh chiếm
ưu thế. Trẻ có nhiều thuận lợi trong việc lĩnh hội các tác tác phẩm một cách nhẹ
nhàng, sâu sắc. Tuy nhiên việc tiếp thu ngôn ngữ để hình thành ở trẻ biểu tượng về
cuộc sống được phản ánh trong các tác phẩm còn hạn chế (nếu như đồ dùng trực
quan quá đơn điệu) nên trẻ rất cần đến sự hỗ trợ của hình ảnh trực quan trong viêc
lĩnh hội tác phẩm.
Ví dụ: Bài thơ: "Thăm nhà Bà" Tác giả "Như Mao"
Nếu như dạy bài thơ đó, cô giáo không dùng hình ảnh trực quan, dù cô giáo
đọc hay và diễn cảm đến mấy, cũng không lôi cuốn trẻ vào bài học một cách say
sưa, hứng thú được, qua ngôn ngữ đọc và nghe trẻ chưa hình dung, tưởng tượng
gây sự chú ý, tò mò cho trẻ . Vì vậy giáo viên nên đưa CNTT vào giảng dạy để
mang lại kết quả cao.
Đơn giản là các hình ảnh đưa lên máy sử dụng các hiệu ứng, màu sắc phù
hợp cũng đã gây sự chú ý của trẻ.
Những giáo viên có khả năng sử dụng máy tính thành thạo hơn họ có thể
chuyển các bức tranh có sẵn của bài thơ, thành đoạn phim hoạt hình, hay ta có thể
đưa đoạn phim quay sẵn phù hợp với nội dung như thế rất thu hút và gây hưng thú
hơn cho trẻ.
VD: Với bài thơ “Mưa” tôi đã xây dựng đoạn phim hoạt hình về nội dung bài
thơ, ngoài ra tôi còn làm đoạn phim về trời mưa kết hợp với tiếng mưa rất hứng
thú làm cho trẻ cảm nhận được, dễ nhớ nội dung thơ và thấy được nét đặc trưng của
trời mưa. Trong tất cả các tác phẩm văn học mà tôi định đưa ra cho trẻ cảm nhận tôi
luôn xác định chuẩn giọng đọc bài thơ đó.
Ngoài ra tôi sử dụng các hình ảnh powerpoint, đưa ứng dụng công nghệ
thông tin những hình ảnh động, sinh động ,hấp dẫn, phù hợp với nội dung của bài
thơ nhằm thu hút trẻ một cách tích cực.
* Giải pháp 5: Làm quen văn học qua thể loại thơ kết hợp với các lĩnh vực khác
Theo phương pháp dạy học tích hợp các lĩnh vực phát triển ngôn ngữ, đặc
biệt dạy trẻ đọc thơ có thể lồng ghép, kết hợp với tất cả các lĩnh vực khác và giúp
cho các hoạt động khác trở nên sinh động hơn.
Ví dụ: Lĩnh vực PT thẩm mỹ: Âm nhạc.
Đề tài: Thơ: “Rong và cá” có thể cho trẻ hát và vận động bài “ cá vàng bơi”.
Ví dụ: Lĩnh vực phát triển nhận thức
Đề tài: Môi trường xung quanh: “Tìm hiểu về chù bộ đội” có thể kết hợp cho
trẻ đọc thơ: “ Chú bộ đội hành quân trong mưa”.
* Giải pháp 6: Công tác phối hợp với phụ huynh và dạy trẻ đọc thơ ở mọi
lúc mọi nơi.
Thường xuyên trao đổi, động viên phụ huynh cố gắng dành thời gian để tâm
sự với trẻ và lắng nghe trẻ nói. Khi trò chuyện với trẻ phải nói rõ ràng mạch lạc, tốc
độ vừa phải để trẻ nghe cho rõ.
Kết quả
Qua thực hiện một số giải pháp trên kết quả đạt được như sau:
Bản thân được trau dồi kiến thức, kỹ năng, dạy trẻ làm quen với văn học nói
chung và dạy trẻ đọc thơ diễn cảm nói riêng.
Phụ huynh tín nhiệm tin yêu
Có tiến bộ rõ rệt trong từng hoạt động được BGH và đồng nghiệp ghi nhận.
Ngôn ngữ trẻ phát triển mạnh, trẻ mạnh dạn tự tin giao tiếp với mọi người
xung quanh, trẻ thích đọc thơ và đọc thơ diễn cảm hơn.
*Kết quả đánh giá trẻ được biểu hiện qua bảng sau: Tổng số trẻ: 27 cháu
TT Đọc thuộc thơ, đọc Đầu năm
Cuối năm
Tăng
diễn cảm bài thơ
Số
Tỷ lệ Số
Tỷ lệ Số
Tỷ lệ
lượng
%
lượng %
lượng
%
1 Trẻ hứng thú với 6/27
22%
25/27 92,5% 19
70%
đọc thơ.
2 Trẻ đọc diễn cảm 6/27
22%
20/27 74%
tuổi:
Như chúng ta đã biết trẻ mẫu giáo 4 - 5 tuổi còn nhiều hạn chế về khả năng
diễn đạt và tư duy chưa phát triển cao vì thế việc rèn kỹ năng đọc diễn cảm cho
chúng có ý nghĩa rất to lớn trong phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ. Đọc diễn
cảm giúp trẻ phát âm rõ ràng (đảm bảo sự nghiêm ngặt chính âm). Phân biệt từ ,
cụm từ, câu, đoạn với cấu trúc chính xác (chính tả và ngữ pháp) Tái tạo đầy đủ nội
dung ý nghĩa tác phẩm trên cơ sở nắm vững sự thống nhất giữa cái biểu đạt (hình
thức nghệ thuật) và cái được biểu đạt (tư tưởng nghệ thuật ) làm nên chỉnh thể toàn
diện của tác phẩm. Đọc diễn cảm là giọng đọc hay đọc đúng, biết phối hợp giữa
chất giọng tự nhiên với các nội dung tác phẩm . Biết làm chủ giọng đọc phù hợp
với giọng điệu cảm xúc của nhà văn và nghĩa của văn bản.
3.2.Kiến nghị đề xuất:
Đối với ngành giáo dục.
Tổ chức bồi dường thường xuyên cho các giáo viên Mầm non về chuyên đề
văn học để giúp giáo viên nắm bắt, tiếp cận những vấn đề đổi mới.
Tổ chức các nội dung thi giáo viên dạy giỏi để các giáo viên có điều kiện
phát huy trao đổi, rút kinh nghiệm về khả năng tổ chức cũng như sử dụng các biện
pháp dạy học phù hợp.
Bổ sung hỗ trợ tài liệu mới trong và ngoài nước để giáo viên được học hỏi,
tiếp cận những cái mới.
Đối với nhà trường.
Tạo điều kiện cho giáo viên tham quan, học hỏi dự giờ những tiết dạy mẫu,
dạy giỏi để nâng cao trình độ.
Tổ chức lớp bồi dưỡng kỷ năng đọc thơ, kể chuyện cho giáo viên tham dự.
Khuyến khích giáo viên đăng ký thi đua dạy tốt môn văn học, viết sáng kiến
kinh nghiệm để giáo viên trong trường học hỏi lẫn nhau.
Cần trang bị đầy đủ vật chất, đồ dùng dạy học cho cô và trẻ.
Đối với giáo viên.
Tích cực học tập, học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn.
Chịu khó sưu tầm, nghiên cứu để tìm những hình thức tổ chức cũng như các