ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
---------------------------
PHẠM THỊ PHƯƠNG LAN
Tên đề tài:
“NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH MỘT SỐ YẾU TỐ GÂY BỆNH
CỦA VI KHUẨN Pasteurella multocida TRONG BỆNH TỤ HUYẾT
TRÙNG TRÂU, BÒ TẠI HÀ GIANG, CAO BẰNG
VÀ LỰA CHỌN VẮC XIN PHÒNG BỆNH”
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ THÚ Y
Thái Nguyên, năm 2017
Luận án được hoàn thành tại:
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Đặng Xuân Bình
2. TS. Nguyễn Ngọc Nhiên
Luận án được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Trường
Họp tại: TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Vào hồi ..... giờ, ngày ..... tháng ...... năm 2017
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
thôn cho biết, trong năm 2014 có 26 tỉnh thành có bệnh tụ huyết trùng với 7.682
trâu, bò mắc bệnh, năm 2015 cũng có 26 tỉnh thành báo cáo có bệnh với 7.278
trâu, bò mắc. Chính vì vậy bệnh này luôn được xác định là đối tượng nghiên cứu
của ngành Thú y trong những năm qua và những năm tiếp theo.
Một số tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có Hà Giang, Cao Bằng, có diện
tích tự nhiên rộng chủ yếu là rừng núi, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển
chăn nuôi gia súc, đặc biệt là chăn nuôi trâu, bò. Hiện nay, tổng đàn trâu, bò
tỉnh Hà Giang trên 265.000 con và tỉnh Cao Bằng trên 228.000 con. Nhưng do
có những đặc thù riêng về địa lý, kinh tế xã hội và tập quán chăn nuôi, việc áp
dụng kỹ thuật và phòng chống dịch bệnh trong chăn nuôi còn hạn chế, đây
chính là những nhân tố tạo nên sự tồn tại và phát sinh nhiều ổ dịch tụ huyết
trùng, gây thiệt hại trong chăn nuôi. Theo các báo cáo tổng kết công tác thú y
hàng năm của các địa phương và kết quả nghiên cứu của Đặng Xuân Bình và cs
(2010) [3]; năm 2008 tỉnh Hà Giang có 276 trâu, 157 bò chết vì bệnh tụ huyết
trùng, tỉnh Cao Bằng năm 2008 có 455 trâu, bò chết và năm 2009 có gần 400
trâu bò chết do bệnh tụ huyết trùng.
Để khống chế bệnh, cho đến nay đã có một số loại vắc xin tụ huyết trùng
trâu, bò được các cơ quan nghiên cứu, sản xuất, sử dụng để tiêm phòng cho đàn
gia súc, nhưng bệnh vẫn liên tục xảy ra ở nhiều địa phương. Việc tiếp tục phân
lập xác định vi khuẩn Pasteurella để làm rõ đặc điểm dịch tễ của bệnh, tìm ra
quy luật lưu hành, tính gây bệnh của vi khuẩn để sản xuất và ứng dụng vắc xin
phù hợp trong từng vùng, hạn chế tiến tới thanh toán bệnh là cần thiết. Vì vậy
việc lựa chọn vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng trâu, bò phù hợp cho địa phương
có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả công tác kiểm soát, khống chế bệnh.
Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn sản xuất, chúng tôi đã tiến hành đề tài
“Nghiên cứu xác định một số yếu tố gây bệnh của vi khuẩn Pasteurella
multocida trong bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại Hà Giang, Cao Bằng và lựa
chọn vắc xin phòng bệnh”.
* Mục tiêu của đề tài
- Nghiên cứu dịch tễ học bệnh tụ huyết trùng và tình trạng mang trùng
các tỉnh miền núi phía Bắc nói chung rà soát, điều chỉnh kế hoạch sử dụng vắc
xin thích hợp, đạt tỷ lệ miễn dịch bảo hộ cao ở trâu, bò sau khi tiêm phòng.
* Những đóng góp mới của đề tài
- Việc sử dụng chủng vi khuẩn Pasteurella multocida phân lập được từ trâu
bò mắc bệnh để xác định độ dài đáp ứng miễn dịch và hiệu lực của vắc xin
phòng bệnh đã cho thấy sự tương đồng giữa chủng vi khuẩn sản xuất vắc xin
thương mại với chủng vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng tại thực địa. Đây là
đóng góp mới có ý nghĩa khoa học và thực tiễn trong việc lựa chọn vắc xin
đồng bộ về tính kháng nguyên với chủng vi khuẩn lưu hành tại địa phương để
tiêm phòng cho trâu, bò.
- Sử dụng chủng vi khuẩn Pasteurella multocida gây bệnh tụ huyết
trùng trâu bò phân lập được để đánh giá hiệu lực của vắc xin phòng bệnh tụ
huyết trùng sản xuất trong nước là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo trong
việc chọn giống chuẩn đáp ứng yêu cầu sản xuất vắc xin phòng bệnh phù hợp
ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.
* Bố cục của luận án
3
Luận án gồm 126 trang (không kể phần tài liệu tham khảo), mở đầu 3 trang,
tổng quan tài liệu 39 trang, nguyên vật liệu, nội dung và phương pháp nghiên cứu
17 trang, kết quả ngiên cứu và thảo luận 65 trang, kết luận và đề nghị 2 trang.
Luận văn có 30 bảng thể hiện kết quả nghiên cứu, 14 hình ảnh, 173 tài liệu tham
khảo. Trong đó có 55 tài liệu tiếng việt và 118 tài liệu tiếng anh.
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Chương 2
NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng, nguyên liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu
4
2.2.1. Nghiên cứu điều tra về dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại 2 tỉnh
Hà Giang và Cao bằng
- Xác định tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và tử vong do tụ huyết trùng
- Xác định tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do tụ huyết trùng xét riêng ở từng
loài trâu, bò.
- Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và tử vong do tụ huyết trùng ở các mùa vụ khác nhau.
- Nghiên cứu về mức độ dịch và hệ số năm dịch.
- Nghiên cứu về thời điểm phát dịch, mùa dịch.
2.2.2. Nghiên cứu phân lập và xác định các đặc tính sinh vật, hóa học, yếu
tố độc lực của các chủng vi khuẩn P. multocida phân lập được
- Phân lập vi khuẩn P. multocida từ mẫu dịch ngoáy mũi trâu, bò khỏe và
mẫu bệnh phẩm lấy từ trâu, bò chết nghi mắc bệnh tụ huyết trùng
- Xác định một số đặc tính sinh vật hóa học của các chủng vi khuẩn P.
multocida phân lập được từ dịch ngoáy mũi và các mẫu bệnh phẩm trâu, bò chết
nghi mắc bệnh tụ huyết trùng.
- Xác định serotype của các chủng vi khuẩn P. multocida phân lập được từ
mẫu bệnh phẩm của trâu, bò chết nghi mắc bệnh tụ huyết trùng.
- Xác định độc lực của các chủng vi khuẩn P. multocida phân lập được từ
mẫu bệnh phẩm của trâu, bò chết nghi mắc bệnh tụ huyết trùng.
- Xác định khả năng mẫn cảm với một số kháng sinh của các chủng vi khuẩn
P. multocida phân lập được từ mẫu bệnh phẩm của trâu, bò chết nghi mắc bệnh tụ
huyết trùng.
2.2.3. Xác định miễn dịch chủ động tự nhiên và đánh giá hiệu lực của vắc
xin P52 dạng keo phèn và nhũ dầu trong phòng bệnh tụ huyết trùng cho
trâu, bò tại 2 tỉnh Hà Giang, Cao Bằng.
2.2.3.1. Miễn dịch chủ động tự nhiên ở trâu, bò chưa được tiêm phòng vắc xin
trong vùng dịch tụ huyết trùng địa phương
- Kiểm tra hiệu giá kháng thể kháng tụ huyết trùng trong huyết thanh của
trâu, bò chưa được tiêm phòng trong vùng dịch tụ huyết trùng địa phương.
(Townsend và cs, 2001).
- Công thức tính LD50 theo Reed L. J., Muench H. (1938).
- Phương pháp xác định độc lực của vi khuẩn P. multocida (Carter et
al,1995).
- Phương pháp xác định mức độ mẫn cảm với một số kháng sinh của các
chủng P. multocida phân lập được (Nguyễn Thanh Hà, 1991).
- Phương pháp xác định hiệu giá kháng thể trong huyết thanh của trâu, bò
trước khi tiêm vắc xin và sau khi tiêm vắc xin bằng phản ứng ngưng kết hồng
cầu gián tiếp IHA (Indirect Haemaglunation Tets).
- Phương pháp xác định hiệu lực bảo hộ đối với trâu, bò trước và sau khi tiêm
phòng vắc xin bằng phản ứng bảo hộ thụ động chuột nhắt trắng (Bain và cs, 1982).
2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu thu được từ kết quả nghiên cứu được xử lý theo phương pháp toán
học thông dụng và thống kê sinh vật học của (Nguyễn Văn Thiện, 2008)
Ứng dụng các phần mềm trong thống kê như Excell, Minitab 14.
Chương 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Nghiên cứu điều tra về dịch tễ bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại 2 tỉnh
Hà Giang và Cao bằng từ năm 2011 - 2015
3.1.1. Tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và tử vong do tụ huyết trùng tại tỉnh Hà Giang
và Cao Bằng
Số liệu trong bảng 3.1 được thu thập như đã nêu ở mục 2.3.1 cho thấy: từ
năm 2011 – 2015, bệnh tụ huyết trùng xảy ra trên địa bàn 2 tỉnh Hà Giang và Cao
Bằng khá phổ biến và vẫn là mối đe dọa cho ngành chăn nuôi của tỉnh. Tỷ lệ
trâu, bò mắc bệnh tụ huyết trùng tại tỉnh Hà Giang là 0,13%, tỷ lệ tử vong là
36,56%. Tỉnh Cao Bằng tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và tử vong tương ứng là 0,38%
và 32,63%.
Kết quả cho thấy, tỷ lệ trâu, bò mắc bệnh và tử vong do tụ huyết trùng tại 2
tỉnh Hà Giang và Cao Bằng có sự khác nhau, có thể lý giải do yếu tố vùng địa
lý, do tập quán chăn nuôi ở mỗi vùng miền, đặc biệt là tỷ lệ tiêm phòng khác nhau.
Tổng hợp
224.725
221.903
216.927
227.681
228.228
1.119.464
Số mắc
Tỷ lệ
bệnh
(%)
(con)
Hà Giang
565
0,22
327
0,12
352
0,13
195
0,08
232
0,09
1.671
0,13
Cao Bằng
919
0,41
36,56
203
315
455
209
199
1.381
22,09
33,09
58,94
27,98
23,63
32,63
3.1.2. Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do tụ huyết trùng xét riêng ở từng loài trâu,
bò tại 2 tỉnh Hà Giang và Cao Bằng.
Bảng 3.2: Tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do tụ huyết trùng xét riêng ở từng loài
trâu, bò
Trâu
Năm
Tổng số Số
trâu
mắc
điều tra bệnh
(con)
(con)
Tỷ lệ Tổng số
Số
tử
bò
mắc
vong điều tra bệnh
(%)
(con)
(con)
Hà Giang
433 0,28 149 34,41 102.960 132
256 0,16
97
37,89 103.757
71
253 0,16 100 39,53 106.091
99
161 0,10
56
34,78 100.101
34
191 0,12
73
38,22 102.008
41
1.294 0,16 475 36,71 514.917 377
P=0,043
Cao Bằng
587 0,57 152 25,89 122.615 332
563 0.56 205 36,41 121.102 389
0,09
0,03
0,04
0,07
45
26
33
15
17
136
34,09
36,62
33,33
44,12
41,46
36,07
0,27
0,32
0,23
0,24
0,28
51
110
129
78
56
Số trâu, bò chết (con)
Đông - Xuân
Hè - Thu
Đông - Xuân Hè - Thu
Năm
Tổng số
Số
Số
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Theo
trâu bò
mắc
mắc
Số
tử
Số
tử
Dõi
(con)
bệnh Tỷ lệ bệnh Tỷ lệ chết vong chết vong
(con) (%) (con)
(%) (con) (%) (con) (%)
Hà Giang
2011
259.271
180
0,07
385
0,15
18 32,73 72 40,68
Tổng hợp 1.310.264 522
0,04 1.149 0,09 184 35,25 427 37,16
P=0,048
Cao Bằng
2011
224.725
317
0,14
602
0,27
65 20,50 138 22,92
2012
221.903
428
0,19
524
0,24 122 28,50 193 36,83
2013
216.927
266
0,12
506
0,23 143 53,76 312 61,66
2014
227.681
316
0,14
431
0,19
dịch (HSND) để đánh giá mức độ dịch của bệnh tụ huyết trùng trâu, bò qua các
năm. Năm được coi có dịch, là những năm có HSND >100. Kết quả tính toán
được trình bày ở bảng 3.4.
Từ số liệu tại bảng 3.4 cho thấy: những năm có HSND>100 ở tỉnh Hà
Giang là 2011 và 2013, ở tỉnh Cao Bằng là năm 2011 và 2012. Như vậy theo
quy luật dịch tễ, những năm này là năm có dịch tụ huyết trùng trâu, bò lưu hành
ở tỉnh Hà Giang và Cao Bằng. Điều này thể hiện rõ về số lượng trâu, bò mắc
bệnh (bảng 3.1) ở những năm này cao hơn so với những năm còn lại.
3.1.5. Thời điểm phát dịch, mùa dịch đối với bệnh tụ huyết trùng trâu, bò tại
2 tỉnh Hà Giang và Cao Bằng
Để xác định tính chất mùa dịch, người ta tính hệ số tháng dịch (HSTD),
tháng nào có HSTD>100 thì được coi là tháng dịch, các tháng dịch liền nhau
tạo thành mùa dịch. Kết quả tính HSTD tụ huyết trùng trâu bò ở 2 tỉnh Hà
Giang và Cao Bằng từ năm 2011-2015 được trình bày ở bảng 3.5.
Kết quả tổng hợp trong bảng 3.5 cho thấy: mùa dịch tụ huyết trùng trâu, bò
ở Hà Giang từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, Cao Bằng từ tháng 5 đến tháng
10 hàng năm. Như vậy ở Hà Giang hàng năm có 7 tháng và Cao Bằng hàng
năm có 6 tháng dịch tụ huyết trùng trâu, bò liền nhau, những tháng này đều nằm
trong mùa mưa, có nhiệt độ, độ ẩm cao trong năm.
3.2. Nghiên cứu phân lập và xác định các đặc tính sinh vật, hóa học, yếu tố
độc lực của các chủng vi khuẩn P. multocida phân lập được
3.2.1. Phân lập vi khuẩn P. multocida từ dịch ngoáy mũi của trâu, bò khoẻ tại
2 tỉnh Hà Giang và Cao Bằng
Bảng 3.6: Phân lập vi khuẩn P. multocida từ dịch ngoáy mũi trâu, bò
Số mẫu
Tính
Gia súc
Số mẫu
Tỷ lệ
Địa phương
8,00
Tổng
342
28
8,19
Từ số liệu tại bảng 3.6 cho thấy, trong số 342 mẫu dịch ngoáy mũi trâu, bò
khỏe thu thập tại 2 tỉnh Hà Giang và Cao Bằng, có 28 mẫu phân lập được vi
khuẩn P. multocida, chiếm tỷ lệ 8,19%.
Tại tỉnh Hà Giang, tỷ lệ phân lập được vi khuẩn P. multocida từ mẫu dịch ngoáy mũi
trâu là 7,14% và bò là 6,10%, tính chung tỷ lệ phân lập được ở cả trâu và bò là 6,67%.
Tại tỉnh Cao Bằng tỷ lệ phân lập được vi khuẩn P. multocida là 9,88%, trong
đó tỷ lệ phân lập được từ mẫu dịch ngoáy mũi trâu là 11,49% và bò là 8,0%.
Với những kết quả nghiên cứu ở trên đã chứng minh một tỷ lệ nhất định trâu,
bò khỏe thường có P. multocida ký sinh ở niêm mạc phần trên của đường hô hấp.
Tỷ lệ mang vi khuẩn P. multocida liên quan tới tình hình dịch bệnh xảy ra hàng năm
tại các địa phương, do trâu, bò mang trùng thường xuyên bài xuất vi khuẩn ra ngoài
và lây nhiễm cho gia súc khác. Như vậy, không thể bỏ qua yếu tố mang trùng ở gia
súc khoẻ khi xây dựng chiến lược phòng chống bệnh tụ huyết trùng trên địa bàn 2
tỉnh Hà Giang và Cao Bằng.
3.2.2. Phân lập vi khuẩn P. multocida từ bệnh phẩm trâu, bò nghi mắc bệnh
tụ huyết trùng tại Hà Giang và Cao Bằng
Từ kết quả tổng hợp tại bảng 3.7 thấy: trong tổng số 216 mẫu bệnh phẩm
gan, lách, phổi, xương ống chân của trâu, bò nghi mắc bệnh tụ huyết trùng thu
thập tại Hà Giang và Cao Bằng, có 40 mẫu phân lập được vi khuẩn P. multocida,
chiếm tỷ lệ 18,52%. Trong đó tỷ lệ phân lập được từ các mẫu bệnh phẩm lấy tại
Hà Giang là 16,47%, tại Cao Bằng là 19,85%. Kết quả phân lập P. multocida bước
đầu cho thấy, việc phòng chống bệnh tụ huyết trùng trâu, bò cần phải tiến hành
nghiêm túc, chặt chẽ hơn không chỉ ở 2 tỉnh Hà Giang và Cao Bằng mà cần phải
tiến hành đồng bộ với tất cả các địa phương trong cả nước.
3.2.3. Giám định một số đặc tính sinh vật, hoá học của các chủng vi khuẩn P.
Tỷ lệ (%)
Hà Giang
14
14
100
Cao Bằng
26
26
100
Tính chung
40
40
100
Kết quả tổng hợp ở bảng 3.10 cho thấy: Cả 40/40 chủng vi khuẩn phân lập
được đều thuộc serotype B có chiều dài 760 cặp bazơ và trùng với chủng chuẩn P52.
Điều đó chứng tỏ các chủng vi khuẩn gây bệnh tụ huyết trùng phân lập được tại Hà
Giang và Cao Bằng có hình ảnh đặc trưng của type B gây bại huyết, xuất huyết cho
trâu, bò giống như type B chủng P52.
M
1
2
3
4
5
11
Kết quả cho thấy: tất cả các chủng vi khuẩn P. multocida đều có độc lực mạnh
gây chết 100% chuột thí nghiệm, hầu hết các chủng đều gây chết chuột trong vòng
48 giờ. Cụ thể 5/15 chủng gây chết 100% chuột sau 0 - 32 giờ, có 1 chủng gây chết
chuột trong vòng 24 - 72 giờ. Chủng CBPT 7 có độc lực mạnh nhất, giết chết chuột
trong vòng 0 – 24 giờ sau tiêm.
Khuẩn lạc của vi khuẩn P. multocida phân lập được có dung quang đặc trưng
của chủng có giáp mô dày, độc lực cao. 15/16 chủng vi khuẩn P. multocida phân lập
tại Hà Giang và Cao Bằng đều có dung quang ánh xanh lơ, diện tích vùng dung
quang chiếm 2/3 bề mặt khuẩn lạc. Điều đó chứng tỏ hầu hết các chủng vi khuẩn P.
multocida phân lập được đều có giáp mô và có độc lực cao.
3.2.6. Xác định LD50 của vi khuẩn P. multocida phân lập được
Từ kết quả kiểm tra độc lực của các chủng vi khuẩn P. multocida phân lập
được, tiến hành chọn chủng HGXB5 (phân lập ở Hà Giang) và CBPT7 (phân
lập ở Cao Bằng), để xác định liều gây chết 50% động vật thí nghiệm (LD50). đồng
thời cũng xác định LD50 của chủng P52. Kết quả xác định để làm căn cứ cho
những nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả tổng hợp ở bảng 3.13 cho thấy: đã xác định được liều LD 50 của chủng
P. multocida phân lập ở Hà Giang (HGXB5) 3,47 x 107CFU/0,2ml; Liều LD50 của
chủng P. multocida phân lập ở Cao Bằng (CBPT7) là 3,71 x 107CFU/0,2ml; Liều
LD50 của chủng chuẩn P52 là 4,79 x 107CFU/0,2ml.
3.2.7. Kiểm tra khả năng mẫn cảm của các chủng vi khuẩn P. multocida
phân lập được với một số loại kháng sinh và hóa dược
Bảng 3.14: Kết quả kiểm tra khả năng mẫn cảm với một số loại kháng sinh của
vi khuẩn P. multocida phân lập được
TT
Loại kháng sinh
1
(%)
38
95,00
2
5,00
0
0
35
87,50
4
10,00
1
2,50
33
82,50
3
7,50
4
10,00
29
25
7
5
5,00
38
95,00
Kết quả tổng hợp ở bảng 3.14 cho thấy: các chủng vi khuẩn P. multocida phân
lập được mẫn cảm mạnh với ceftiofur (95,00%), erofloxacin (87,50%), amoxicillin/
clavulanic acid (82,50%) và các kháng sinh norfloxacin, gentamicin lần lượt là
12
72,50%; 62,50%, kháng lại một số kháng sinh như sulfamethoxazole/trimethoprim
(95,00%), oxytetracyclin (70,00%), doxycycline (67,50%).
3.3. Xác định miễn dịch chủ động tự nhiên và đánh giá hiệu lực của vắc xin
P52 dạng keo phèn và nhũ dầu trong phòng bệnh tụ huyết trùng cho trâu,
bò tại 2 tỉnh Hà Giang, Cao Bằng.
3.3.1. Miễn dịch chủ động tự nhiên ở trâu, bò chưa được tiêm phòng vắc xin
trong vùng thường xuyên xảy ra dịch tụ huyết trùng địa phương
3.3.1.1. Kiểm tra hiệu giá kháng thể kháng tụ huyết trùng trong huyết thanh của trâu,
bò chưa được tiêm phòng vắc xin bằng phương pháp ngưng kết gián tiếp hồng cầu.
Bảng 3.15: Kiểm tra hiệu giá kháng thể kháng tụ huyết trùng trong huyết
thanh của trâu, bò chưa được tiêm phòng vắc xin .
Địa
điểm
lấy
mẫu
Hà
Gian
5
50
3
30
2
20
2
20
38
6
15,79
100
4
66,7
1
tụ huyết trùng bằng phương pháp bảo hộ thụ động chuột nhắt trắng.
Đã tiến hành kiểm tra đáp ứng miễn dịch bằng phương pháp bảo hộ thụ
động chuột nhắt trắng đối với:
- 10 mẫu huyết thanh trâu, bò tại Hà Giang có kháng thể dương tính với
13
kháng nguyên chủng HGXB5.
- 6 mẫu huyết thanh trâu, bò tại Cao Bằng có kháng thể dương tính với
kháng nguyên chủng CBPT7.
Bảng 3.16: Kết quả kiểm tra đáp ứng miễn dịch của trâu, bò
chưa tiêm vắc xin phòng bệnh tụ huyết trùng bằng phương
pháp bảo hộ thụ động chuột nhắt trắng
Địa
phương
Mẫu
kháng
huyết
thanh
QBH1
QBH2
QBH7
QBH13
Hà
QBH15
Giang
QBH18
BH2
10LD50
Mức
hiệu giá
kháng
thể
1/2
1/4
1/8
1/2
1/2
1/32
1/2
1/32
1/2
1/4
1/4
1/4
1/2
1/4
1/16
1/2
Kết quả bảo hộ chuột
Số chuột
Số
thử thách chuột
Tỷ lệ
cường
sống
4
0
0
4
0
0
4
4
4
4
4
4
4
0
0
0
0
1
0
0
0
0
0
0
25
0
0
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi khuyến cáo cơ sở sản xuất vắc xin nhũ dầu cần
tiếp tục nghiên cứu, đổi mới công nghệ để hạn chế tỷ lệ trâu, bò bị phản ứng; đối
với địa phương, do đặc điểm chăn nuôi trâu bò không tập trung, chủ yếu là vùng
sâu, vùng xa đi lại khó khăn, để kết quả tiêm phòng đạt tỷ lệ cao, cơ quan thú y tại
Hà Giang và Cao Bằng cần tuyên truyền người dân nên tiếp tục sử dụng vắc xin tụ
huyết trùng nhũ dầu chủng P52 tiêm phòng cho trâu, bò. Còn nếu dùng vắc xin keo
phèn phải tiêm đủ 2 mũi/năm thì mới đạt tỷ lệ bảo hộ cao.
3.3.2. Kiểm tra đáp ứng miễn dịch của trâu, bò sau khi tiêm vắc xin tụ huyết
trùng chủng P52 bằng phương pháp ngưng kết hồng cầu gián tiếp.
Trước khi tiêm phòng vắc xin, đã tiến hành kiểm tra hiệu giá kháng thể
trong huyết thanh của trâu, bò tại 2 tỉnh Hà Giang và Cao Bằng. Chọn ngẫu
nhiên 16 trâu, bò tại Hà Giang và 16 trâu, bò tại Cao Bằng không có kháng thể
kháng P. multocida để tiêm vắc xin. 8 trâu, bò được tiêm vắc xin nhũ dầu chủng
P52 và 8 trâu, bò được tiêm vắc xin keo phèn chủng P52.
Thí nghiệm được bố trí như sau:
* Tỉnh Cao Bằng:
Lô 1: tiêm vắc xin nhũ dầu chủng P52 được ký hiệu từ 1 đến 8
Lô 2: tiêm vắc xin keo phèn chủng P52 được ký hiệu 9 đến 16
* Tỉnh Hà Giang:
Lô 1: tiêm vắc xin nhũ dầu chủng P52 được ký hiệu 17 đến 24
Lô 2: tiêm vắc xin keo phèn chủng P52 được ký hiệu 25 đến 32
Sau khi tiêm vắc xin, tiến hành lấy máu vào các thời điểm 1 tháng; 3 tháng;
6 tháng, 9 tháng, 12 tháng, chắt huyết thanh pha thành các tỷ lệ 1/2; 1/4; 1/8;
1/16; 1/64; 1/128 để kiểm tra hiệu giá kháng thể bằng phản ứng ngưng kết với
kháng nguyên của chủng P. multocida (CBPT7) phân lập tại Cao Bằng,
(HGXB5) phân lập tại Hà Giang.
* Kiểm tra hiệu giá kháng thể trong huyết thanh trâu, bò tại thời điểm 1, 3,
6 tháng sau tiêm vắc xin tụ huyết trùng nhũ dầu, keo phèn chủng P52
Nhũ dầu
Số mẫu
huyết
thanh
khảo sát
Hiệu giá
kháng
thể
(+)
16
1/2
1/4
1/8
1/16
1/32
1/64
1/128
16
16
16
16
16
16
8
16
100
16
100
16
16
16
16
16
9
0
100
100
100
100
100
56,25
0
79,46
16
100
16
100
16
100
16
16
16
16
16
5
100
100
100
31,25
90,18
16
16
5
0
100
100
31,25
0
75,89
7
3
0
0
43,75
18,75
hiệu giá kháng thể của 16 trâu, bò thí nghiệm tiêm vắc xin nhũ dầu vào thời điểm
9 tháng và 12 tháng. Kết quả thu được trình bày ở bảng 3.22.
Kết quả tổng hợp ở bảng 3.22 cho thấy: Tại thời điểm 9 tháng sau tiêm, vắc xin
vẫn cho đáp ứng miễn dịch có khả năng bảo hộ cho trâu, bò ở thực địa, nhưng đã
giảm so với kết quả khảo sát tại thời điểm 6 tháng. Mức hiệu giá kháng thể 1/32 có
8/16 (50%) mẫu, thời điểm 6 tháng là (68,75%). Thời điểm 12 tháng sau tiêm vắc
xin không còn mẫu huyết thanh nào có hiệu giá kháng thể 1/32.
* Tổng hợp kết quả kiểm tra hiệu giá kháng thể đối với vắc xin tụ huyết
trùng nhũ dầu tại thời điểm 9 và 12 tháng sau tiêm phòng
17
- Thời điểm sau tiêm vắc xin nhũ dầu 9 tháng, hiệu giá kháng thể giảm rõ
rệt so với sau tiêm 6 tháng. Chỉ còn 50% số mẫu huyết thanh đạt hiệu giá 1/32,
ở hiệu giá kháng thể 1/16 có 68,75% mẫu huyết thanh còn ngưng kết. Hiệu giá
kháng thể bình quân ở các mức hiệu giá khác nhau là 59,82%.
- Thời điểm 12 tháng sau tiêm, đa số các mẫu huyết thanh chỉ còn hiệu giá
1/2 đến 1/8, còn 18,75% số mẫu có hiệu giá 1/16. Không còn mẫu huyết thanh
nào có hiệu giá 1/32. Hiệu giá kháng thể bình quân ở các mức hiệu giá khác
nhau chỉ còn 44,64%.
Như vậy, tại thời điểm 12 tháng sau tiêm vắc xin không còn mẫu huyết
thanh nào có hiệu giá kháng thể đủ để bảo hộ cho trâu, bò ở thực địa
Bảng 3.23: Tổng hợp kết quả kiểm tra hiệu giá kháng thể đối với vắc xin tụ
huyết trùng nhũ dầu tại thời điểm 9 và 12 tháng sau tiêm phòng
Loại vắc
xin
Nhũ dầu
Số mẫu
16
16
16
11
8
0
0
100
100
100
68,75
50,00
0
0
16
16
15
3
0
0
0
100
100
93,75
18,75
0
0
sau khi tiêm 1, 3, 6 tháng bằng phương pháp bảo hộ thụ động chuột nhắt trắng
Kết quả tổng hợp ở bảng 3.24; 3.25; 3.26 cho thấy: sau 6 tháng tiêm
phòng, vắc xin tụ huyết trùng nhũ dầu cho khả năng bảo hộ cao hơn so với vắc
xin tụ huyết trùng keo phèn khi tiêm cho trâu, bò tại 2 tỉnh Hà Giang và Cao
bằng. Kết quả này cũng tương ứng với kết quả kiểm tra hiệu giá kháng thể ở bảng
3. 18, 3.19, 3.20, 3.21. Từ kết quả trên, đưa ra khuyến cáo nên dùng vắc xin nhũ
dầu chủng P52 để tiêm phòng cho trâu, bò tại 2 tỉnh Hà Giang, Cao Bằng. So sánh
tỷ lệ chuột được bảo hộ sau khi thử thách cường độc bằng chủng sản xuất vắc
xin P52 hay 2 chủng phân lập được ở địa phương không có sự sai khác về khả
năng bảo hộ (P>0,05).
* Hiệu lực của vắc xin tụ huyết trùng nhũ dầu đối với trâu, bò sau khi
tiêm 9 và 12 tháng bằng phương pháp bảo hộ thụ động chuột nhắt trắng
Kết quả tổng hợp ở bảng 3.27 cho thấy: tại thời điểm 9 tháng vẫn còn 4/6
mẫu huyết thanh trâu, bò được bảo hộ, nhưng đến thời điểm 12 tháng sau khi tiêm
phòng, các mẫu huyết thanh đã không còn hiệu lực bảo hộ chuột nhắt trắng.
Từ kết quả về tỷ lệ bảo hộ chuột ở bảng 3.24; 3.25; 3.26; 3.27, tiến hành
tổng hợp để xác định khả năng bảo hộ của vắc xin nhũ dầu và keo phèn đối với
trâu, bò tại 2 tỉnh nghiên cứu. Đánh giá tỷ lệ bảo hộ trung bình (X) các mẫu
huyết thanh đã được đánh giá bảo hộ chuột, các mẫu huyết thanh này được đánh
giá theo từng tháng nghiên cứu và theo từng loại vắc xin. Phương pháp trình bày
tại mục 2.3.12.
* Tổng hợp kết quả kiểm tra hiệu lực của vắc xin tụ huyết trùng nhũ
dầu chủng P52
Đã tiến hành tổng hợp kết quả kiểm tra hiệu lực của vắc xin tụ huyết trùng
nhũ dầu đối với trâu, bò sau khi tiêm tại các thời điểm 1, 3, 6, 9 và 12 tháng.
Kết quả thu được trình bày ở bảng 3.28 và bảng 3.29
Kết quả tổng hợp ở bảng 3.28 cho thấy:
- Tại thời điểm 1 tháng sau tiêm vắc xin tỷ lệ bảo hộ trung bình đối với
chuột thí nghiệm sau khi được tiêm huyết thanh của trâu, bò đã tiêm vắc xin
nhũ dầu tại 2 tỉnh Hà Giang và Cao Bằng đều đạt ở mức bảo hộ cao. Trong đó:
(CBPT7)
trong
T1
T3
T6
T1
T3
T6
T1
T3
T6
nhó
m
Số
Số
Số
Số
Số
Số
Số
Số
Số
được mẫ
%
mẫ
%
mẫ
%
mẫ
%
2
33,3
0
0
4
66,6
2
33,3
0
0
7
0
0
3
7
3
75
2
25,0
2
25,0
4
50,0
3
37,5
3
37,5
2
25,0
1
8,33
1
8,33
0
25
0
0
0
0
1
4,17
0
0
0
0
1
4,17
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
79,1
58,3
7
3
0
0
6
7
0
6
3
Đ/c 0/6
0
0/6
0
0/6
0
06
0
0/6
0
0/6
0
0/6
0
0/6
0
0/6
0
âm
T12
T9
T12
được
Số
%
Số
%
Số
%
Số
%
Số
%
Số
%
bảo
mẫu
mẫu
mẫu
mẫu
mẫu
hộ mẫu
100
0
0
0
0
0
0
4,17
5 20,83
0
0
0
2
0
0
0
2
0
1
0
1
0
Cộng
6
6
6
6
6
6
X
54,16
16,67
50,00
16,67
50,00
20,83
Đ/c
cho trâu, bò của 2 tỉnh Hà Giang và Cao Bằng, sau 9 tháng tiêm vắc xin, tỷ lệ
bảo hộ trung bình trâu, bò vẫn đạt 50%. Điều đó chứng tỏ sau 9 tháng trâu, bò
tiêm vắc xin tụ huyết trùng nhũ dầu vẫn được bảo hộ khi vi khuẩn P. mutocida
cường độc tấn công.
* Tổng hợp kết quả kiểm tra hiệu lực của vắc xin tụ huyết trùng keo
phèn chủng P52