PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI :
Môn Tiếng Việt trong chương trình bậc tiểu học nhằm hình thành và phát
triển các kỹ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói,đọc, viết) giúp học sinh học tập
và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi, có cơ sở tiếp thu kiến
thức ở các lớp trên. Trong bộ môn Tiếng Việt, phân môn luyện từ và câu có một
nhiệm vụ cung cấp nhiều kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và rèn luyện kỹ năng
dùng từ đặt câu (nói - viết) kỹ năng đọc cho học sinh. Cụ thể là:
1- Mở rộng hệ thống hoá vốn từ trang bị cho học sinh một số hiểu biết sơ
giản về từ và câu.
2- Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng dấu câu
3- Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng nói và viết thành câu, có
ý thức sử dụng Tiếng Việt trong văn hoá giao tiếp.
Nội dung chương trình phân môn Luyện từ và câu trong sách giáo khoa
hiện hành có một mảng kiến thức hết sức quan trọng. Đó là mở rộng vốn từ cho
học sinh theo chủ điểm. Việc mở rộng vốn từ cho học sinh sẽ giúp các em có
năng lực tư duy, nắm vững tiếng mẹ đẻ tạo điều kiện tiếp thu kiến thức và phát
triển toàn diện.
Nhưng trên thực tế giảng dạy hiện nay, nhiều giáo viên chỉ quan tâm đến
việc giúp các em hoàn thành các bài tập trong sách giáo khoa đưa ra mà chưa
chú trọng đến việc mở rộng vốn từ cho học sinh. Mặt khác, các bài mở rộng vốn
từ thường khô khan, kiến thức trìu tượng khiến học sinh khó khăn khi tiếp nhận,
không gây được hứng thú khi học tập … Tất cả càng khiến học sinh không thích
thú khi học phân môn Luyện từ và câu đặc biệt là dạng bài mở rộng vốn từ.
Chính vì những lẽ đó, trong quá trình dạy luyện từ và câu mở rộng vốn từ
theo chủ điểm lớp 4, với mong muốn được tìm hiểu sâu hơn nhằm nâng cao
trình độ chuyên môn, tôi mạnh dạn trình bày đề tài nghiên cứu của mình: “Một
số biện pháp gây hứng thú cho học sinh khi dạy bài mở rộng vốn từ theo chủ
điểm lớp 4”
1
nghĩa từ chưa chính xác .
2. Cơ sở thực tiễn
a. Thuận lợi
- Về phía giáo viên:
Nhà trường luôn tạo điều kiện cho đội ngũ giáo viên được tham gia các lớp
học bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, tham dự các lớp chuyên đề của
đồng nghiệp trong trường, của các đồng nghiệp trường bạn trong quận, trong
phành phố, …Các thiết bị giảng dạy hiện đại phục vụ cho quá trình đổi mới
phương pháp dạy học cũng dược nhà trường trang bị đầy đủ. Các sách tham
khảo, bồi dưỡng, cũng được mua sắm phát cho từng giáo viên và trong thư viện
của trường. Mặt khác, phân môn Luyện từ và câu của lớp 4 nhìn chung đã ngắn
gọn, cụ thể hơn so với các trương trình cũ trước đây cũng tạo điều kiện cho giáo
viên dạy học đạt kết quả cao.
3
- Về phía học sinh:
+ Học sinh đã quen với cách học mới từ lớp 1,2,3 nên các em đã biết cách
lĩnh hội kiến thức và luyện tập thực hành dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
+ Sự quan tâm của phụ huynh học sinh cũng góp phần nâng cao chất
lượng môn học nói riêng và môn Tiếng Việt nói chung.
+ Các em học sinh đều được học 2 buổi/ngày. Buổi sáng học lý thuyết và
buổi chiều được luyện tập củng cố để khắc sâu kiến thức. Từ đó giúp các em có
khả năng sử dụng thành thạo các bài tập thực hành và áp dụng linh hoạt vào các
phân môn khác.
b. Khó khăn
* Giáo viên:
Do đặc điểm của nhà trường là 100% lớp học 2 buổi 1 ngày nên việc thăm
lớp dự giờ học hỏi chuyên môn còn hạn chế. Trình độ giáo viên chưa đồng đều
đôi lúc còn giảng dạy theo phương pháp cũ. Nên việc phân chia thời lượng lên
CHỦ ĐIỂM
TÊN BÀI
Thương người như
MRVT: Nhân hậu – Đoàn
thể thương thân
Thương người như
kết
MRVT: Nhân hậu – Đoàn
thể thương thân
kết
MRVT: Trung thực – Tự
5
Măng mọc thẳng
6
Măng mọc thẳng
trọng
MRVT: Trung thực – Tự
87
MRVT: Ý chí – Nghị lực
MRVT: Ý chí – Nghị lực
MRVT: Đồ chơi – Trò chơi
MRVT: Đồ chơi – Trò chơi
118
127
147
157
TUẦN
CHỦ ĐIỂM
TÊN BÀI
TRANG
19
20
22
23
Người ta là hoa đất
Người ta là hoa đất
Vẻ đẹp muôn màu
Vẻ đẹp muôn màu
Tình yêu cuộc sống
34
Tình yêu cuộc sống
MRVT: Dũng cảm
MRVT: Dũng cảm
MRVT: Du lịch – Thám
hiểm
MRVT: Du lịch – Thám
hiểm
MRVT: lạc qua – Yêu
đời
MRVT: lạc qua – Yêu
đời
73
83
105
116
145
155
2. Yêu cầu kiến thức, kĩ năng
Môn Tiếng Việt có 10 đơn vị đọc thì môn luyện từ câu mở rộng và hệ thống
hoá vốn từ theo 10 chủ điểm đó. Qua đó, học sinh đạt được những yêu cầu về
kiến thức, kĩ năng sau:
- Học sinh được cung cấp vốn từ phong phú theo 10 chủ điểm của chương
trình Tiếng Việt lớp 4.
VD1: Tuần 5 trong chủ điểm Măng mọc thẳng có bài MRVT: Trung thực
– Tự trọng ( Tiếng Việt 4 tập 1 trang 48)
Bài tập 1: Tìm những từ cùng nghĩa, trái nghĩa với trung thực.
M: - Từ cùng nghĩa: thật thà
- Từ trái nghĩa: gian dối.
Trước tiên, giáo viên cho học sinh tra từ điển để hiểu nghĩa của từ trung
thực là ngay thẳng, thật thà.
Nhưng chỉ hiểu như vậy thôi thì chưa đủ, các em vần chưa thể hiểu hết để
vận dụng chính xác vào việc đặt câu hay viết văn. Vì vậy mà SGK Tiếng Việt 4
còn yêu cầu học sinh tìm từ cùng nghĩa và trái nghĩa với trung thực nhằm giúp
các em hiểu cặn kẽ hơn nghĩa của từ và mở rộng thêm vốn từ theo chủ điểm
Măng mọc thẳng.
Lúc này, hình thức dạy học hiệu quả nhất là cho học sinh thảo luận nhóm.
Bởi vốn hiểu biết của các em còn hạn chế trong khi số lượng từ có thể tìm được
lại rất nhiều. Vì vậy mà mỗi cá nhân học sinh không thể tìm hiểu hết. Nhờ hoạt
động nhóm mà học sinh có thể lấy kiến thức của bạn để trang bị thêm cho mình.
7
Hình thức giúp đỡ nhau cùng giải quyết vấn đề này được học sinh rất thích thú,
làm các em quên đi cảm giác “ngại” khi học về từ ngữ.
Sau đó, giáo viên yêu cầu học sinh nêu các từ tìm được, các nhóm khác bổ
sung sao cho tìm được nhiều từ nhất. Bên cạnh đó, giáo viên cũng yêu cầu học
sinh bằng hiểu biết của mình cùng kết hợp tra từ điển để nêu nghĩa của một số từ
tìm được. Và học sinh có thể tìm được các từ sau:
- Từ cùng nghĩa với trung thực là: thật thà, thẳng thắn, ngay thẳng,
chân thật, thật lòng, thật tâm, chính trực, bộc trực, thành thật, ngay thật, thật
tình, …
- Từ trái nghĩa với trung thực là: gian dối, điêu ngoa, xảo trá, gian lận,
lưu manh, gian manh, gian trá, gian giảo, lừa bịp, lừa đảo, lừa lọc, bịp bợm,
sinh phát triển, mở rộng vốn từ. Về cách dạy, giáo viên hướng dẫn học sinh
quan sát tranh, suy nghĩ, tìm cách gọi tên các đồ chơi hoặc trò chơi được miêu tả
trong tranh. Việc gọi tên này không phải dễ với một số học sinh vì đây là những
trò chơi từ xưa mà giờ đây học sinh ít có điều kiện hoặc thời gian chơi. Lúc này,
giáo viên sử dụng phương pháp trực quan, khai thác triệt để kênh hình trong bài,
kết hợp với hiểu biết của mình cùng sự suy đoán, sự gợi ý của giáo viên, học
sinh có thể gọi tên các đồ chơi, trò chơi đó.
Để gây hứng thú cho học sinh, giáo viên cần cho HS quan sát tranh phóng
to có màu sắc đẹp, dễ nhận biết. Học sinh lên bảng chỉ vào tranh và giới thiệu:
9
Tranh 1: Đồ chơi: diều
Trò chơi: thả diều
Tranh 2: Đồ chơi: đầu sư tử, đèn ông sao,
đèn gió
Trò chơi: múa sư tử, ước đèn
Tranh 3: - Đồ chơi: dây thừng, búp bê,
Tranh 4: đồ chơi: ti vi, vật liệu xây
bộ xếp hình nhà cửa, bộ nấu ăn
dựng, bộ xếp hình
- Trò chơi: nhảy dây, cho búp bê ăn bột,
Về hình thức tổ chức, giáo viên nên để học sinh giải quyết bài tập này theo
cá nhân nhằm kiểm tra sự hiểu biết của từng học sinh.
Để học sinh hứng thú hơn khi giải quyết các bài tập dạng này, khi chữa bài,
giáo viên có thể chữa thông qua các trò chơi học tập như: “Ai nhanh ai đúng”,
“Truyền điện” hay “Nhanh tay nhanh mắt”, ... Vừa tạo được tinh thần đoàn kết
đồng đội, vừa gây hứng thú từ đó học sinh hiểu sâu nghĩa từ một cách tự nhiên,
không gượng ép.
11
VD1: Tuần 6 trong chủ điểm Măng mọc thẳng có bài MRVT: Trung
thực – Tự trọng (Tiếng Việt 4 tập 1 trang 62)
Bài tập 2: Chọn từ ứng với mỗi nghĩa sau:
Nghĩa
- Một lòng một dạ gắn bó với lí tưởng, tổ chức hay
Từ
- trung thành
với người nào đó.
- Trước sau như một, không gì lay chuyển nổi.
- Một lòng một dạ vì việc nghĩa
- Ăn ở nhân hậu, thành thật, trước sau như một.
- Ngay thẳng, thật thà
- trung hậu
- trung kiên
- trung thực
- trung nghĩa
12
b) Đi chơi xa để nghỉ ngơi, ngắm cảnh.
c) Đi làm việc xa nhà.
Với bài tập này, học sinh cần phân biệt được sự khác nhau giữa các hoạt
động trên. Từ đó, các em sẽ tìm được định nghĩa chính xác nhất cho từ “du lịch”
hay “thám hiểm”. Sau khi tìm ra đáp án, cần yêu cầu học sinh xác định các hoạt
động còn lại là hoạt động nào. Từ đó, các em nêu ý kiến, bổ sung cho nhau và
chốt đáp án đúng:
Bài tập 1: Những hoạt động nào được gọi là du lịch? Chọn ý đúng để trả
lời:
a) Đi chơi ở công viên gần nhà.
đi chơi, đi dạo
b) Đi chơi xa để nghỉ ngơi, ngắm cảnh.
du lịch
c) Đi làm việc xa nhà.
đi công tác
2. Dạng bài tập nhằm mở rộng và phân loại vốn từ
2.1. Kiểu bài tìm từ nhằm mở rộng vốn từ cho học sinh
Kiểu bài tìm từ ngữ trong sách giáo khoa hiện hành môn Tiếng Việt lớp 4 là
một kiểu bài phổ biến trong tiết Luyện từ và câu – Mở rộng vốn từ. Hầu hết bài
mở rộng vốn từ nào cũng có kiểu bài tập này. Vì mở rộng vốn từ cho học sinh thì
điều đầu tiên là cung cấp cho các em một số từ theo chủ điểm đó. Nhưng những
* Ước đoán: đoán trước một điều gì đó
* Ước nguyện: mong muốn thiết tha.
* Ước lệ: quy ước trong biểu diễn nghệ thuật
* Mơ màng: thấy phảng phất, không rõ ràng, trong trạng thái mơ ngủ hay
tựa như mơ
* Mơ hồ: không rõ ràng
VD2: Tuần 22 trong chủ điểm Vẻ đẹp muôn màu có bài MRVT: Cái đẹp
(Tiếng Việt 4 tập 2 trang 40)
Bài tập 1: Tìm các từ:
a) Thể hiện vẻ đẹp bên ngoài của con người:
M: xinh đẹp
b) Thể hiện nét đẹp trong tâm hồn, tính cách của con người:
M: thùy mị
Bài tập 2: Tìm các từ:
a) Chỉ dùng để thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên, cảnh vật
M: tươi đẹp
b) Dùng để thể hiện vẻ đẹp của cả thiên nhiên, cảnh vật và con người
M: xinh xắn
Trước tiên, để tìm được các từ theo yêu cầu của bài tập, giáo viên cần giúp
học sinh hiểu được thế nào là vẻ đẹp bên ngoài của con người và nét đẹp bên
14
trong tâm hồn, tính cách của con người. Thông qua ví dụ cụ thể rồi giáo viên
mới tổ chức cho học sinh giải quyết các bài tập trên bằng cách làm phiếu. Dựa
vào phếu bài tập, các em dễ dàng tìm được nhiều từ, dễ so sánh, đối chiếu để
thấy sự giống nhau, khác nhau giữa các từ tìm được từ đó nắm được cách sử
dụng từ cho chính xác, phù hợp trong giao tiếp.
Cụ thể trong ví dụ trên, học sinh tìm được các từ sau:
Các từ thể hiện vẻ đẹp bên
M: tàu thủy, bến tàu
c) Tổ chức, nhân viên phục vụ du lịch
M: khách sạn, hướng dẫn viên
d) Địa điểm tham quan, du lịch
M: phố cổ, bãi biển
15
Ngoài việc sử dụng hướng dẫn mẫu trong sách giáo khoa, giáo viên yêu cầu
học sinh làm theo nhóm 4. Sau đó đại diện các nhóm trả lời. Dạng bài tập này,
học sinh sẽ được mở rộng rất nhiều từ ngữ theo chủ điểm đang học và hiểu biết
thêm về các hoạt động du lịch.
a) Đồ dùng cần cho
chuyến du lịch
Lều trại, mũ, quần áo bơi, giày thể thao, dụng
cụ thể thao, đồ ăn, nước uống, …
b) Phương tiện giao
thông và những sự vật
Tàu thủy, bến tàu, ô tô, máy bay, tàu điện, xe
có liên quan đến
buýt, nhà ga, sân bay, vé tàu, xe máy, xe đạp,
phương tiện giao thông xích lô, cáp treo, …
c) Tổ chức, nhân viên
phục vụ du lịch
Chí có nghĩa là ý muốn bền bỉ theo đuổi
M: ý chí
một mục đích tốt đẹp
Với loại bài tập này, học sinh biết được tiếng chí có 2 nghĩa khác nhau:
+ Chí có nghĩa là rất, hết sức (biểu thị mức độ cao nhất)
+ Chí có nghĩa là ý muốn bền bỉ theo đuổi một mục đích tốt đẹp
Nhiệm vụ của các em xếp các từ đã cho vào hai nhóm mang hai nghĩ khác
nhau của tiếng chí. Ở đây, giáo viên tận dụng vốn hiểu biết, sự suy luận của cá
nhân học sinh để giải quyết bài tập. Các em sẽ phân tích, phán đoán để lựa chọn
các từ ngữ thích hợp điền vào bảng phân loại:
Chí có nghĩa là rất, hết sức (biểu thị Chí phải, chí lí, chân lí, chí
mức độ cao nhất)
tình, chí công
Chí có nghĩa là ý muốn bền bỉ theo đuổi Ý chí, chí khí, chí hướng, quyết
một mục đích tốt đẹp
chí
Khi học sinh làm xong, giáo viên yêu cầu học sinh chữa bài trên bảng. Để
tăng thêm sự hứng thú, giáo viên để học sinh phát huy khả năng của mình bằng
cách nêu từ và giải thích vì sao lại xếp từ vào nhóm đó. Học sinh giải thích theo
ý kiến chủ quan của mình: giải nghĩa từ theo từ điển, theo phân tích riêng từng
tiếng, … có thể chấp nhận những lời giải thích đơn giản nhất theo ý của học sinh
(ví dụ như “chí phải” là rất phải, rất đúng). Từ đó các em sẽ mạnh dạn phát biểu
ý kiến của mình, chủ động tiếp thu kiến thức.
Cuối tiết, tôi có thể tổ chức trò chơi nhằm củng cố kiến thức như:
* Tìm từ có tiếng chí điền vào chỗ chấm trong các câu sau:
a) Anh nói thật là ……………., làm sao mà không nghe theo anh được.
vào chỗ chấm sao cho thích hợp. Nhưng để lựa chọn được các từ một cách chính
xác, phù hợp thì không đơn giản. Trước tiên, giáo viên cần giúp học sinh hiểu
nghĩa các từ đã cho:
- anh dũng: có tính cách anh hùng và dũng cảm gan dạ
- dũng cảm: mạnh bạo, can đảm
18
- dũng mãnh: can đảm, mạnh mẽ
Thoạt nhìn thì các từ trên có ý nghĩa gần giống nhau nên nhiều em khó
phân biệt được để điền cho đúng. Giáo viên sẽ cho các em thử điền các từ cho
sẵn vào từng chỗ trống. từ nào có khả năng kết hợp với những từ trong cụm từ
và phù hợp với nghĩa của cụm từ đó thì lựa chọn.
Học sinh điền được các từ phù hợp là:
- dũng cảm bênh vực lẽ phải
- khí thế dũng mãnh
- hi sinh anh dũng
3.2 Kiểu bài dùng từ đặt câu
VD1: Tuần 34 trong chủ điểm Tình yêu cuộc sống có bài MRVT: Lạc
quan – Yêu đời (Tiếng Việt 4 tập 2 trang 155)
Bài tập 2: Thi tìm các từ miêu tả tiếng cười và đặt câu với mỗi từ.
M: - cười khanh khách Em bé thích chí, cười khanh khách.
- cười rúc rích Mấy bạn cười rúc rích, có vẻ thú vị lắm.
Kiểu bài tập này yêu cầu học sinh vừa tìm được các từ theo chủ điểm đang
học vừa biết cách sử dụng các từ đó trong câu. Khi dạy bài này, giáo viên cần
hướng dẫn học sinh dựa vào nghĩa của từ để hình thành nội dung câu. Nội dung
cau cần phù hợp với nội dung chủ điểm đang học là Tình yêu cuộc sống
Giáo viên cho học sinh tìm các từ theo yêu cầu và chọn một từ thích nhất
để đặt câu. Với yêu cầu thứ nhất, giáo viên tổ chức cho các em thi tìm để được
nhiều từ nhất (chú ý nhắc các em tìm từ tả âm thanh của tiếng cười mà không
thương trường, có lúc mất trắng tay nhưng ông không nản chí. “Thua keo này,
bày keo khác”, ông lại quyết chí làm lại từ đầu. Sau này, ông trở thành một nhà
kinh doanh tài ba của đất nước ta.
VD2: Tuần 30 trong chủ điểm Khám phá thế giới có bài MRVT: Du lịch
- Thám hiểm (Tiếng Việt 4 tập 2 trang 116)
Bài tập 3: Viết một đoạn văn ngắn nói về hoạt động du lịch hay thám hiểm,
trong đó có một số từ ngữ em vừa tìm được ở bài tập 1 hoặc bài tập 2.
Ở bài tập này, giáo viên cho học sinh lựa chọn nội dung viết về du lịch
hoặc thám hiểm. Sau đó, giáo viên dành thời gian cho học sinh viết bài theo cá
nhân rồi cho các em đọc bài trước lớp:
20
• Hè năm nào nhà em cũng đi du lịch. Năm nay, bố em quyết định cho cả
nhà đi du lịch Cát Bà – Hạ Long. Trước khi đi em và mẹ đi siêu thị chuẩn bị đồ
ăn, nước uống, đèn pin, bông băng, gạc, thuốc, quần áo, quần áo bơi, ... Sáng
sớm, cả nhà đi ô tô khách, sau đó đi tàu cánh ngầm ra cát Bà. Đây là chuyến du
lịch bốn ngày nên có cả hướng dẫn viên du lịch. Đi đến đâu, gia đình em cũng
được nghe chị hướng dẫn viên giới thiệu tỉ mỉ về các danh lam thắng cảnh. Bãi
biển ở đây thật sạch và đẹp. Khách sạn 3 sao rất hiện đại và sang trọng. Đồ ăn
thì thật tuyệt. Em rất thích những chuyến du lịch cùng gia đình.
4. Dạng bài tập giúp học sinh hiểu và sử dụng thành ngữ, tục ngữ Việt Nam
Thành ngữ, tục ngữ Việt Nam là một kho tàng văn học của ông cha ta, là sự
đúc kết kinh nghiệm sống từ bao đời, là những lời dăn dạy, chỉ bảo thiết thực và
cũng hết sức phong phú cho con cháu đời sau. Các câu thành ngữ, tục ngữ nói về
kinh nghiệm lao động, sản xuất, sinh hoạt, giao tiếp,… của con người trong cuộc
sống hàng ngày. Nhưng cũng có không ít câu thành ngữ, tục ngữ nói đến các
hoạt động, tính cách, thói quen, … của con vật hay các sự vật khác trong tự
nhiên làm chúng ta rất khó nhận ra ý nghĩa của các câu nói đó.
Vì lẽ đó mà trong các tiết mở rộng vốn từ trong phân môn luyện từ và câu
Vậy là đến tuần thứ 3 trở đi, học sinh mới bắt đầu làm quen với một số câu
thành ngữ đơn giản:
VD1: Điền từ trong ngoặc đơn (đất, cọp, bụt, chị em gái) vào chỗ trống
để hoàn chỉnh các câu thành ngữ sau:
a) Hiền như …………
b) Lành như ………….
c) Dữ như …………..
d) Thương nhau như ………….
(Tiếng Việt 4 /tập 1 trang 33)
Với dạng bài tập này, học sinh chưa hiểu hết ý nghĩa của câu thành ngữ vẫn
có thể lựa chọn được những từ ngữ phù hợp bằng việc suy đoán sự tương ứng
giữa các sự vật trong ngoặc đơn với các tính cách, tình cảm được nói đến trong
các câu thành ngữ đó. Vì thế mà học sinh dễ dàng đưa ra được các câu thành
ngữ là:
a) Hiền như bụt
b) Lành như đất
c) Dữ như cọp
d) Thương nhau như chị em gái
Tiếp đến là các bài có yêu cầu cao hơn là hiểu được ý nghĩa các câu thành
ngữ, tục ngữ.
VD2: Tuần 5 trong chủ điểm Măng mọc thẳng có bài MRVT: Trung
thực – Tự trọng (Tiếng Việt 4 tập 1 trang 48)
Bài tập 4: Có thể dùng những thành ngữ, tục ngữ nào dưới đây để nói về
tính trung thực hoặc lòng tự trọng?
22
a) Thẳng như rột ngựa
b) Giấy rách phải giữ lấy lề
Nhóm nào nối đúng chứng tỏ đã hiểu được ý nghĩa của các câu thành ngữ,
tục ngữ. Nhóm nào nối sai, giáo viên cho học sinh giải nghĩa lại các câu đó để
23
giúp các em hiểu. Qua hình thức trò chơi, ý nghĩa của các câu thành ngữ, tục
ngữ này được các em tiếp nhận một cách nhẹ nhàng, chủ động, không gượng ép.
Từ đó khuyến khích được một số em yêu thích kho tàng tục ngữ, ca dao Việt
Nam tìm hiểu thêm về mảng kiến thức này.
VD3: Tuần 23 trong chủ điểm vẻ đẹp muôn màu có bài MRVT: Cái đẹp
(Tiếng Việt 4 tập 2 trang 52)
Bài tập 1: Chọn nghĩa thích hợp với mỗi tục ngữ sau:
Phẩm chất quý
hơn vẻ đẹp bên
ngoài
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Người thanh tiếng nói cũng thanh
Chuông kêu khẽ đánh bên thành cũng kêu
Hình thức
thường thống
nhất với nội
dung
Cái nết đánh chết cái đẹp
Trông mặt mà bắt hình dong
Con lợn có béo thì lòng mới ngon.
Ở chọn nơi, chơi chọn bạn; Chơi diều đứt dây; Chơi dao có ngày đứt tay) để
khuyên bạn:
a) Nếu bạn em chơi với một số bạn hư nên học kém hẳn đi.
b) Nếu bạn em thích trèo lên một chỗ cao chênh vênh, rất nguy hiểm để tỏ
ra là mình gan dạ.
Với bài tập này, học sinh đã nắm được nghĩa của các câu thành ngữ, tục
ngữ trên qua bài tập 2. Vì vậy mà các em có thể dễ dàng dùng các câu thành
ngữ, tục ngữ đó khuyên bạn trong tình huống cụ thể:
- Giáo viên tổ chức cho học sinh trao đổi theo cặp để đưa ra tình huống
hoặc câu thành ngữ, tục ngữ khuyên bạn.
- Tổ chức cho học sinh nêu ý kiến của cá nhân
- Lấy ý kiến của một vài nhóm khác rồi giáo viên kết luận các câu thành
ngữ, tục ngữ phù hợp với tình huống trong bài:
a) Nếu bạn em chơi với một số bạn hư nên học kém hẳn đi. Em sẽ nói với
bạn là: “Ở chọn nơi, chơi chọn bạn. Cậu hãy chọn bạn tốt mà chơi.”
b) Nếu bạn em thích trèo lên một chỗ cao chênh vênh, rất nguy hiểm để tỏ
ra là mình gan dạ. Em sẽ nói: “Cậu xuống ngay đi. Đừng có chơi với lửa.”
Hoặc cũng có thẻ nói: “Chơi dao có ngày đứt tay đấy. Xuống đi thôi.”
- Khuyến khích học sinh học thuộc các câu thành ngữ, tục ngữ đó để vận
dụng vào các tình huống giao tiếp khác trong cuộc sống sao cho phù hợp.
VD2: Tuần 22 trong chủ điểm Vẻ đẹp muôn màu có bài MRVT: Cái đẹp
(Tiếng Việt 4 tập 2 trang 40)
Bài tập 4: Điền các thành ngữ hoặc cụm từ ở cột A vào những chỗ thích hợp
ở cột B:
25