Một số kinh nghiệm trong dạy học phân môn luyện từ và câu lớp 4 - Pdf 45

MỤC LỤC

LỜI GIỚI THIỆU
Giáo dục bậc Tiểu học là một khoa học giáo dục khó nhất. Nó là nền móng
đầu tiên để giúp con người tồn tại và phát triển, đặc biệt là môn Tiếng Việt. Môn
Tiếng Việt trong chương trình Tiểu học nhằm hình thành và phát triển cho học sinh
các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt( nghe, đọc, nói, viết) để học tập và giao tiếp trong
các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Giúp học sinh có cơ sở tiếp thu kiến thức ở
các lớp trên. Trong bộ môn Tiếng Việt thì phân môn Luyện từ và câu có một nhiệm
vụ đó là cung cấp nhiều kiến thức sơ giản về viết Tiếng Việt và rèn luyện kỹ năng
dùng từ đặt câu( nói – viết), kĩ năng đọc cho học sinh, cụ thể là:
1. Mở rộng hệ thống hoá vốn từ trang bị cho học sinh một số hiểu biết cơ bản
và từ và câu.
2. Rèn luyện cho học sinh các kỹ năng dùng từ đặt câu và sử dụng dấu câu.
3. Bồi dưỡng cho học sinh thói quen dùng từ đúng, nói viết thành câu, có ý
thức sử dụng Tiếng Việt văn hoá trong giao tiếp.
Bên cạnh đó, Trường Tiểu học Bình Dương 2 nhiều năm qua đã có bề dày thành
tích trong công tác giảng dạy. Các dồng chí giáo viên luôn có những cải tiến, đổi
mới phương pháp giảng dạy nhằm nâng cao chất lượng học tập cho học sinh. Vì
vậy, nhận thức rõ được yêu cầu thiết thực của nhà trường cũng như tầm quan trọng
của phân môn Luyện từ và câu nên tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến kinh nghiệm này
để góp phần nâng cao chất lượng học tập cho học sinh.

-1-


I. TÊN SÁNG KIẾN:
Một số kinh nghiệm trong dạy học phân môn luyện từ và câu lớp 4
II. TÁC GIẢ SÁNG KIẾN:
- Họ và tên: Lê Thị Kim Ngân
- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Trường TH Bình Dương 2 – Vĩnh Tường.

vây việc học tiếng từ, câu phải được bắt đầu ngay ở gia đình phổ biến ở trường
học. Các em hiểu được được được nghĩa của từ và biết cách vận dụng vào đời sống
hằng ngày.
Thực tế ở mỗi nhà trường nói chung, trường tôi nói riêng vốn từ của các em
hết sức hạn hẹp, không phong phú, viết không rõ ngữ dẫn đến khi các em vận dụng
vào viết văn rất lúng túng. Các em không chỉ sai chính tả khi viết văn trong giao
tiếp mà còn sai nặng nề, trầm trọng hơn về nghĩa của từ kiến cả câu văn sai hẳn đi.
Chính vì vậy, để giúp các em hiểu được nghĩa, tiếng của từ, của câu tôi rất băn
-3-


khoăn trăn trở suy nghĩ làm thế nào để giúp học sinh viết tốt để học môn tiếng việt
được tốt hơn. Học môn tiếng việt tốt là phải học tốt phân môn luyện từ và câu. Từ
thực tế giảng dạy phân môn luyện từ và câu trong một số năm gần đây đã đem
được kết quả tốt tôi đã rút ra được một số kinh nghiệm dạy cho riêng mình nên tôi
mạnh dạn đưa ra đề tài nghiên cứu “ Một số kinh nghiệm trong dạy học phân
môn luyện từ và câu lớp 4” để các đồng nghiệp cùng tham khảo.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Giúp học sinh nắm vững các tiếng từ, câu trong giao tiếp, học tập hàng ngày
để giúp các em đạt hiệu quả cao trong học tập cũng như trong giao tiếp.
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .
- Phương pháp thuyết trình giảng giải.
- Phương pháp điều tra.
- Phương pháp gợi mở vấn đáp.
- Phương pháp trực quan.
- Phương pháp gợi mở vấn đáp.
- Phương pháp thực hành luyện tập.
- Phương pháp sử dụng trắc nghiệm.

-4-

ngữ. Từ một ý ta có thể viết thành những câu khác nhau. Nếu tách ngôn ngữ ra
khỏi tư duy sẽ là phương pháp sai lầm về triết học của mọi quan hệ ngôn ngữ và tư
duy.
Nhận thức lý luận của chủ nghĩa Max-Lênin đã dạy rằng con đường biện
chứng của nhận thức tâm lý đi qua hai giai đoạn : Nhận thức cảm tính và nhận thức
lý tính. Đây là cơ sở nguyên tắc trực quan trong dạy tiếng Việt. Đứa trẻ nhận thức
thế giới xung quanh một cách cảm tính bằng mắt và với màu sắc âm thanh cụ thể.
Do đó, nhiệm vụ đều tiên của nhà trường trong dạy tiếng Việt là phát triển khả
năng nhận thức cảm tính dựa trên kinh nghiệm sống và kinh nghiệm lời nói để dần
hình thành cho các em đến nhận thức lý tính.
1.2. Cơ sở ngôn ngữ học:
Các nhà ngôn ngữ học đều công nhận sự tồn tại hiển nhiên của từ, thừa nhận
tính chất cơ bản, trung tâm của từ trong ngôn ngữ học và đi tới phát triển câu.
Ngữ pháp nhìn chung tương đối ổn định và bền vững. Các hiện tượng ngữ
pháp trong các văn bản thời xưa và hiện nay không còn quá khắc nghiệt và quá khó
hiểu đối với người bản ngữ.
1.3. Cơ sở giáo dục học:
Giáo dục học nói chung và lý luận dạy học đại cương nói riêng cung cấp
phương pháp dạy học Tiếng Việt nói chung cũng như dạy ngữ pháp nói riêng,
những biểu hiện về quy luật chung của việc dạy học các môn học.
Mục đích của phương pháp dạy học tiếng Việt cũng như phân môn ngữ pháp
là tổ chức sự phát triển hồn và thể chất của học sinh, chuẩn bị cho các em đi vào
cuộc sống thực tiễn hoặc tiếp tục học tập. Do đó, mục tiêu của giáo dục đề ra là
-6-


phát triển trí tuệ, hình thành thế giới quan khoa học, phát triển tư duy sáng tạo cho
học sinh, giáo dục tư tưởng đạo đức, phát triển óc thẩm mỹ giáo dục tổng hợp và
giáo dục lao động.
Dạy học hình thành khái niệm vững chắc cho học sinh Tiểu học đó là

+ Mức độ chỉ dẫn biến hoá.
1.4.2. Dạy cho học sinh nắm chắc phân môn Luyện từ và câu một cách vững chắc.
Lựa chọn hiện tượng sự vật, các ví dụ điển hình để hình thành khái niệm khi
dạy Luyện từ và câu bởi vì đối với phân môn Luyện từ và câu, trong giờ dạy, chủ
yếu hướng dẫn cho các em thực hành nhiều nên giáo viên cần lựa chọn những dữ
liệu tiêu biểu, có ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp rõ ràng, tiêu biểu để học sinh rễ
tiếp thu. Khi học sinh đã nắm được phân môn Luyện từ và câu rồi thì mới mở rộng
sự nhận biết về đối tượng đó.
Phải tổ chức cho các em quan sát, phân tích sự vật để tìm ra những đặc điểm
chủ yếu bản chất so sánh với những nét không bản chất.
Cần chú ý đến trình độ nắm vững phân môn Luyện từ và câu của học sinh.
Tuy nhiên đối với học sinh Tiểu học không phải bao giờ cũng hiểu được dễ dàng
các khái niệm trong phân môn Luyện từ và câu do vốn kiến thức của các em còn có
hạn nên việc nắm bắt của các em còn gặp nhiều khó khăn.
Đây là cơ sở đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả của giờ dạy
Luyện từ và câu cho học sinh tiểu học.
1.5. Cơ sở khoa học.
Trong công cuộc đổi mới hiện nay việc giữ gìn bản sắc văn hoá của mỗi
nước, mỗi quốc gia không thể xem nhẹ. Việt Nam ta giữ gìn tiếng nói của mỗi dân
tộc là một việt làm thường xuyên tiếng phổ thông được hết sức coi trọng đặt nên
hàng đầu.
Trong mỗi gia đình mỗi cộng đồng đều được thực hiện nếp sống văn hoá:
dùng từ, câu đúng, chuẩn, chính xác. Các tiếng dùng để giao tiếp phải mang tính
khoa học cao, rõ lời chuẩn nghĩa, sử dụng đúng lúc, đúng mục đích giao tiếp
Mục tiêu của môn tiếng việt ở tiểu học là hình thành và phat triển các kĩ năng đọc,
nghe, nói cho học sinh nhằm giúp các em sử dụng tiếng việt có hiệu quả trong học
tập và giao tiếp ở gia đình, trường học và xã hội góp phần cùng các môn học khác
phát triển năng lực tư duy cho học sinh.
-8-


Học sinh nắm bắt kiến thức lơ mơ thụ động.
-9-


Tâm lí hiện nay, việc học Luyện từ và câu đối với các em rất ngại hay nói
đúng là sợ do còn yếu và ít thực hành, thời gian tập trung cho việc học Luyện từ và
câu còn ít( Tuần 2 tiết). Mặt khác, giáo viên chạy theo sự ràng buộc của phân phối
chương trình, thường dạy kiến thức cơ bản là chính không khắc sâu và mở rộng
vốn từ cho học sinh. Từ đó học sinh ít phát triển được năng lực tư duy, tìm tòi sáng
tạo trong khi học Luyện từ và câu, không hình thành được kĩ năng khái quát hóa
trừu tượng hóa của trí lực học sinh.
Ngay sau khi nhận lớp. Tôi bắt tay vào điều tra tìm hiểu trình độ kiến thức
về phân môn Luyện từ vàc câu. Qua khảo sát lần đầu năm học với nội dung câu hỏi
bài tập tôi đưa ra và thu được kết quả như sau( kết quả không công bố cho học
sinh, bài kiểm tra này chỉ dùng để phục vụ cho sáng kiến):
• Về việc tìm từ và xác định từ.
Điểm giỏi: 2 HS = 6.9%
Điểm khá: 7 HS = 24.1%
Điểm trung bình: 18 HS = 62.1%.
Điểm yếu : 2 HS = 6.9%
• Về việc đặt câu và xác định câu:
Điểm giỏi: 2 HS = 6.9 %
Điểm khá: 8 HS = 27.6%
Điểm trung bình: 18 HS = 62.1%.
Điểm yếu : 1 HS = 3.4%
Từ kết quả trên tôi thấy rằng với kết quả này không lấy gì làm khả quan, nên
tôi đã lập riêng kế hoạch riêng cho mình: bồi dưỡng ngay cho học sinh để học có
được kết quả cao như mong muốn của những người trực tiếp làm công tác trồng
người.
Trong năm học 2014 - 2015 tôi đã áp dụng kinh nghiệm dạy luyện từ và câu vào

giữa kỳ bằng các bài kiểm tra cụ thể.
+ Cuối năm tôi tôi lại cho học sinh ôn tập lại toàn bộ các nội dung về luyện từ
và câu ở cả bậc học để học sinh năm chắc kiến thức giúp học sinh học tốt môn
tiếng việt ở lớp học trên.
Từ những thực tiễn trên của học sinh lớp tôi, sau khi tìm ra nguyên nhân, tôi
cần giải quyết các vấn đề sau :
- Giúp học sinh hiểu đầy đủ về phân môn Luyện từ và câu.
- 11 -


- Giúp học sinh phân biệt được chính xác giữa từ láy và từ ghép.
- Giúp học sinh hiểu được rõ nghĩa của từ trong chủ điểm và nghĩa của các
thành ngữ trong chủ điểm.
- Giúp học sinh có kĩ năng nhận biết và sử dụng từ và câu.
3. NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP VÀ GIẢI PHÁP SÁNG TẠO .
3.1. Nội dung .
Luyện từ và câu là phân môn quan trọng trong môn tiếng việt ở lớp 4. Phân
môn luyện từ và câu là một tổ hợp kiến thức rộng lớn bao gồm các kiến thức từ lớp
1 đến lớp 5, cụ thể nội dung được chia theo các mảng kiến thức sau:
1.1) Từ đơn, từ ghép, từ láy.
- Các em hiểu được thế nào là từ đơn, từ ghép, từ láy.
- Biết được các kiểu của từ ghép :
+ từ ghép có nghĩa phân loại.
+ từ ghép có nghĩa tổng hợp.
Ví dụ :
+ Bánh rán, bánh dẻo, bánh nếp, bánh tẻ, bánh hòn( Từ ghép phân loại).
+ Nhà cửa, ruộng vườn, đất đai, nương rẫy, núi rừng( Từ ghép tổng hợp)
- Từ tượng thanh, tượng hình, danh từ, động từ, tính từ.
Ví dụ:
+ Các từ: xe đạp, xe máy xe hoả( là từ ghép có nghĩa phân loại)

Từ cõng ở dòng thơ thứ ba mang nghĩa gốc
Từ cõng ở các dòng thơ còn lại mang nghĩa chuyển.
2.3) Mở rộng vốn từ theo các chủ điểm.
- Nhân hậu – đoàn kết.
- Trung thực - tự trọng.
- Ý chí – Nghị lực.
- 13 -


- Ước mơ.
- Tài năng.
- Đồ chơi – trò chơi.
- Cái đẹp.....
• Các dạng bài tập ở 2 phần trên có thể hệ thống thành các dạng khái quát
sau:
+ Dạng 1: Xác định dạng cấu tạo của từ( từ đơn, từ ghép, từ láy)
+ Dạng 2: Ghép thêm tiếng vào tiếng cho sẵn để tạo thành từ mới theo yêu cầu.
+ Dạng 3: Giải nghĩa từ.
+ Dạng 4: Tìm từ ngữ theo yêu cầu( Ví dụ: tìm các từ tượng hình gợi tả hình
ảnh của dáng cây).
+ Dạng 5: Tìm từ ngữ thích hợp điền vào chỗ trống.
+ Dạng 6: Tìm từ gần nghĩa, trái nghĩa với các từ cho sẵn.
+ Dạng 7: Xác định các loại nghĩa của từ ngữ ( Ví dụ: nghĩa gốc, nghĩa
chuyển).
+ Dạng 8:Thay từ bằng một từ cùng nghĩa khác.
+ Dạng 9: Tìm các từ cùng âm khác nghĩa với các từ cho sẵn.
+ Dạng 10: Tìm các từ ngữ( Thành ngữ, tục ngữ, ca dao) theo yêu cầu.
+ Dạng 11: Giải thích nghĩa của các thành ngữ, tục ngữ.
+ Dạng 12: Xác định các rừ cùng một nhóm nghĩa.
+ Dạng 13: Viết một đoạn văn với các từ cho sẵn.

Nếu Lan bị ốm thì Lan không đến lớp được.
- Với yêu cầu phân loại câu theo cấu tạo còn có các dạng bài tập có tính chất cấu
tạo:
• Dạng thứ nhất: chuyển hai câu đơn.
- 15 -


• Dạng thứ hai: Nối hai vế câu thành một câu ghép
Ví dụ:
Điền vế câu thích hợp vào chỗ trống để tạo thành câu ghép:
Vì Hệu học giỏi nên………………………………
Nếu Huệ học giỏi thì……………………………...
• Dạng thứ ba: Đặt câu theo kiểu cấu tạo.
Ví dụ :
Hễ chủ ngữ - vị ngữ thì chủ ngữ - vị ngữ.
Vì chủ ngữ - vị ngữ nên chủ ngữ - vị ngữ.
Do chủ ngữ - vị ngữ nên chủ ngữ - vị ngữ.
*Lưu ý: Khi viết câu phải gắn với hoàn cảnh thì người nghe mới hiểu được
chính xác nội dung. Ví dụ như khi viết câu rút gọn ta phải:
- Em sẽ đi nghỉ ở Sầm Sơn. Cả mẹ em nữa.
“ Cả mẹ em nữa” là câu rút gọn, để hiểu được câu này phải có câu trước nó
- Tuy nhiên các em nên hạn chế sử dụng câu rút gọn, nếu cần dùng câu rút gọn phải
thêm trợ từ “ ạ” vào cuối câu.
Ví dụ:
Cháu ơi, bố cháu đi đâu?
Đi công tác ạ.
1.5) Dấu câu: là kí hiệu chữ viết để biểu thị ngữ điệu câu khác nhau thông qua
những quan hệ ngữ pháp khác nhau và mục đích nói khác nhau.
Ví dụ:
1, Đêm hôm, qua cầu gẫy.

hiểu được hết các nội dung trên người giáo viên cần phải lựa chọn phương pháp
dạy học phù hợp.

- 17 -


3.2 .Phương pháp.
Phương pháp là cách thức, con đường mà người nghiên cứu áp dụng vào vấn đề
nghiên cứu nhằm đạt được mục đích đề ra. Do đó ở đề tài này tôi đã sử dụng các
phương pháp sau:
• Phương pháp thuyết trình giảng giải:
- Là phương pháp để trình bày. Sử dụng chủ yếu trong việc làm các bài mẫu,
thời gian ngắn.
• Phương pháp điều tra:
- Là phương pháp điều tra tìm hiểu học sinh.
- Tìm hiểu đặc điểm tâm lí của học sinh trong lớp.
- Thông qua các bài kiểm tra khảo sát để đánh giá trình độ học sinh.
- Sử dụng các hình thức khen thưởng kịp thời để động viên khích lệ học sinh
trong quá trình học tập.
• Phương pháp gợi mở vấn đáp:
- Là phương pháp đưa ra những câu hỏi thích hợp cho học sinh trả lời để đàn
dần đi đến kết luận cần thiết.
• Phương pháp trực quan:
- Là phương pháp đặc biệt quan trọng ở tiểu học đòi hỏi giáo viên tổ chức học
sinh hoạt động trực tiếp trên các sự vật cụ thể:
Sưu tầm và tự sáng tạo một số đồ dùng trực quan có hiệu quả để kích thích tư
duy linh hoạt của học sinh.
• Phương pháp gợi mở vấn đáp:
- Là phương pháp đưa ra những câu hỏi thích hợp cho học sinh trả lời để đàn
dần đi đến kết luận cần thiết. Nó làm cho không khí lớp học sôi nổi, sôi động kích

sinh củ cố kiến thức thông qua việc tổ chức thành nhóm hái hoa dân chủ để học
sinh hoà hứng, có hứng thú trong các giườ học sau
Trong các giờ ra chơi tổ chức các trò chơi phục vụ vào mục đích giao tiếp qua đó
luyện cách dùng từ, đặt câu rộng hơn là dùng vào viết đoạn văn
• Các biện pháp cụ thể đối với từng mảnh luyện từ và câu:
- 19 -


+ Đối với kiến thức về từ đơn, từ ghép, từ láy phân loại từ giáo viên cần nhấn
mạnh khắc sâu kiến thức kỹ năng hơn để các em ghi nhớ lâu hơn, khó quên. Cần
cho học sinh ghi nhớ học thuộc các từ ngữ như:
Chèo bẻo, ác là, bù nhìn, bồ kết, ếch ương, mồ hôi, bồ hóng, mà cả, a xít, cà
phê, mô tô, ô tô, ra đi ô
Đây là những từ đơn đa âm phân biệt kĩ với từ đơn đơn âm hay gọi nó là từ
ghép đặc biệt.
+ Khi dạy các bài liên quan đến các từ láy cần phân biệt kỹ cho học sinh
những kiểu từ láy, dạng từ láy, có những từ cấu tạo giống như từ láy nhưng xét về
nghĩa không phải là từ láy giáo viên cần phải mở rộng thêm ra đưa ra nhiều từ, gợi
mở cho học sinh tìm được nhiều từ để học sinh phân biệt chuẩn xác tránh nhầm lẫn
từ láy với từ ghép.
Ví dụ:
bãi bờ, hốt hoảng, buôn bán, đi đứng, bồng bế, vung vẩy, dẻo dai, nhỏ nhẹ, …
( là những từ ghép)
+ Khi dạy các bài về tượng thanh, từ tượng hình giáo viên cần nhấn mạnh cho
học sinh nắm được phần lớn các từ tượng thanh, tượng hình là từ láy bằng cách lấy
nhiều
Ví dụ:
lênh khênh, hăng hắc, hồi hộp, …
+ Khi dạy các bài về nghĩa của từ cần phân biệt cho học sinh rõ về nghĩa gốc và
nghĩa chuyển, các từ cùng âm khác nghĩa.

chính làm lòng cốt:
Ví dụ:
Trời / mưa!

C

V

Nhưng “ Mưa” là một câu và nó là câu đặc biệt.
Hoặc rút gọn ví dụ:
- 21 -


- Hôm nay ai trực nhật?
- Tôi ( Câu rút gọn bộ phận vị ngữ)
Như vậy khi dạy phân môn luyện từ và câu theo tôi việc mở rộng, liên kết kiến
thức cũ với kiến thức mói và kết thúc bài học hôm nay và gợi mở nội dung kiến
thức bài học hôm nay và gợi mở nội dung kiến thức bài học hôm sau là cần thiết,
hết sức có ý nghĩa để tạo cho việc dạy luyện từ và câu mang lại hiệu quả cao.
VI. CÁC ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ ĐỂ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN:
Để thực hiện sáng kiến này tôi đã thực nghiệm giảng dạy phân môn Luyện
từ và câu cho lớp 4B trường Tiểu học Bình Dương 2 trong năm học 2014 – 2015.
VII. LỢI ÍCH THU ĐƯỢC TỪ SÁNG KIẾN:
Từ kết quả như ở đầu năm chưa cao, tôi đã đưa ra các kinh nghiệm dạy
luyện từ và câu của mình đã đúc rút được vào năm học này và cứ sau giữa kỳ, cuối
kỳ tôi lại tổ chức khảo sát kiến thức học sinh để nắm được hiệu quả khi áp dụng.
Kết quả cho thấy rất khả quan, cứ sau mỗi lần khảo sát để đánh giá hiệu quả của
sáng kiến kết quả lại được thay đổi theo chiều hướng đi lên.Cụ thể:
+ Kết quả khảo sát cuối kỳ I là :
• Về việc tìm từ và xác định từ.

đại.
Trong môn tiếng việt học tốt luyện từ và câu giúp các em thấy hết mối quan
hệ giữa các sự vật, sự việc. Biết vận dụng vào viết văn, vào đời sống từ đó hoàn
thiện óc phân tích năng lực so sánh, tổng hợp.
Như vậy việc áp dụng một số kinh nghiệm dạy phân môn luyện từ và câu
vào thực tế giảng dạy của mình tôi đã đạt được kết quả cao. Tuy nhiên để đề tào
của tôi được hoàn thiện hơn, tôi rất mong được sự góp ý chân thành của các đồng
nghiệp để đề tài của tôi được bổ sung hoàn thiện hơn nữa.
2. Những đánh giá về lợi ích qua ý kiến của bản thân:
Năm học 2014 – 2015, tôi áp dụng sáng kiến này vào trong giảng dạy phân
môn Luyện từ và câu của lớp 4B và đạt được kết quả khá khả quan nên được các
đồng nghiệp trong cơ quan cùng nhà trường đánh giá khá cao. Trong năm học tới
trường Tiểu học Bình Dương 2 sẽ đưa sáng kiến vào áp dụng cho toàn bộ khối 4
trong nhà trường.
............., ngày.....tháng......năm......
Thủ trưởng đơn vị/

............., ngày.....tháng......năm......
Tác giả sáng kiến
- 23 -


Chính quyền địa phương
(Ký tên, đóng dấu)

(Ký, ghi rõ họ tên)

- 24 -



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status