Thực trạng giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi ở trường mầm non nam lý đồng hới – quảng bình - Pdf 45

Lời Cảm Ơn
Hoàn thành khóa luận này tôi đã nhận được sự
giúp đỡ quý báu của rất nhiều thầy, cô giáo và bạn
bè, qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến các
thầy, cô giáo trong Khoa Sư phạm Tiểu học – Mầm
non Trường Đại học Quảng Bình, đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và
nghiên cứu.
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các
giáo viên và các cháu Trường Mầm non Nam Lý đã tạo
điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận này.
Tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè và
những người thân đã quan tâm, động viên, khích lệ
tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận.
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất
đến giảng viên hướng dẫn Thạc sĩ Nguyễn Thị Xuân
Hương - người đã dành cho tôi sự chỉ bảo tận tình,
góp phần giúp tôi hoàn thành khóa luận này.
Bước đầu làm công tác nghiên cứu khoa học nên
không thể tránh khỏi những thiếu sót. Kính mong
nhận được ý kiến đóng góp của quý thầy cô và các
bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Đồng Hới, tháng 05 năm 2017
Tác giả
Trần Thị Hương Trinh


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của riêng tôi, các số liệu và kết
quả trong khóa luận này là trung thực và chưa từng được công bố trong một công trình

Giáo dục mầm non

4

GDGT

Giáo dục giới tính

5

MG

Mẫu giáo


DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

TT
1

TÊN BẢNG
Bảng 3.1. Nhận thức của giáo viên về ý nghĩa của việc GDGT đối với trẻ MG
5-6 tuổi.

2

Bảng 3.2. Mức độ tổ chức GDGT của GV

3


MỞ ĐẦU .................................................................................................................................... 1

1. Lí do chọn đề tài ..........................................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài ...................................................................................2
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu .............................................................................2
4. Giả thuyết khoa học .....................................................................................................2
5. Nhiệm vụ nghiên cứu .......................................................................................................... 2
6. Phạm vi và thời gian nghiên cứu ....................................................................................... 2
7. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................................... 3
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận ........................................................................ 3
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn ..................................................................... 3
7.3. Phương pháp thống kê toán học ..................................................................................... 3
8. Cấu trúc khóa luận ............................................................................................................... 3
CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIỚI TÍNH VÀ GIÁO DỤC GIỚI TÍNH
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI. ............................................................................................ 4

1.1. Lịch sử vấn đề ................................................................................................................... 4
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài .............................................................................................. 4
1.1.2. Nghiên cứu của các tác giả trong nước....................................................................... 7
1.2. Một số vấn đề lý luận về giới tính và giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5- 6 tuổi.
.................................................................................................................................................... 8

1.2.1. Khái niệm giới và giới tính ......................................................................................... 8
1.2.2. Khái niệm giáo dục giới tính ....................................................................................... 9
1.3 Đặc điểm phát triển tâm sinh lý của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ........................................ 11
1.3.1. Đặc điểm phát triển sinh lý ........................................................................................ 11
1.3.2. Đặc điểm phát triển tâm lý. ........................................................................................ 12
1.3.2.1. Đặc điểm phát triển tư duy. ..............................................................................12
1.3.2.2. Đặc điểm phát triển chú ý .................................................................................13
1.3.2.3. Đặc điểm phát triển xúc cảm ............................................................................13

2.2. Tổ chức nghiên cứu ................................................................................................31
2.3. Triển khai nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cụ thể ....................................31
2.3.1. Nghiên cứu lí luận ...............................................................................................31
2.3.2. Nghiên cứu thực trạng .........................................................................................32
2.3. Phương pháp nghiên cứu ............................................................................................... 32
2.3.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận .................................................................... 32
2.3.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn (thực trạng) .......................................... 32
2.3.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Phương pháp chính) .............................32
2.3.2.2. Phương pháp quan sát .............................................................................................. 35
2.3.2.3. Phương pháp đàm thoại ........................................................................................... 35
2.3.2.4. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm. ...................................................................... 36
2.3.3. Phương pháp thống kê toán học ................................................................................ 36
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 ........................................................................................................... 37
CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG VÀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC GIỚI TÍNH CHO TRẺ MẪU
GIÁO 5-6 TUỔI Ở TRƯỜNG MẦM NON NAM LÝ - ĐỒNG HỚI – QUẢNG BÌNH. ....... 38

3.1. Thực trạng giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở Trường Mầm non Nam
Lý – Đồng Hới – Quảng Bình .............................................................................................. 38
3.1.1. Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng và ý nghĩa của giáo dục giới tính cho
trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. ............................................................................................................. 38


3.1.1.1. Nhận thức của giáo viên về tầm quan trọng của giáo dục giới tính cho trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi. ..................................................................................................................38
3.1.1.2. Nhận thức của giáo viên về ý nghĩa của việc giáo dục giới tính đối với trẻ mẫu
giáo 5-6 tuổi. ..................................................................................................................39
3.1.1.3. Mức độ GDGT của giáo viên ...........................................................................41
3.1.2. Biểu hiện sự hiểu biết của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi về giới tính .............................42
3.1.3. Các nội dung giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi . ...............................44
3.1.4. Các phương pháp giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi . .......................... 46


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực đất nước, Đảng ta nhấn mạnh “con
người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội”. Tổ chức Văn
hóa – Khoa học – Giáo dục của liên hợp quốc (UNESCO) đã khuyến nghị bốn mục
tiêu của nền giáo dục năm 2000 và cho cả thế kỉ XXI là: Học để biết, học để làm, học
để chung sống, học để khẳng định [22]. Xu hướng giáo dục ngày nay coi trọng giáo
dục và phát triển nhân cách toàn diện, phải chăm sóc và giáo dục nhân cách ngay từ
khi trẻ lọt lòng mẹ và liên tục trong suốt thời kì thơ ấu đến tuổi trưởng thành. Chính vì
vậy, Báo cáo chính trị Đại hội IX của Đảng, khi đề cập đến chiến lược con người đã
nhấn mạnh phải “chăm lo và phát triển giáo dục mầm non”.
Bậc học mầm non là bậc thang đầu tiên đưa trẻ tới sự phát triển về thể chất, tình
cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách con người,
những tác động giáo dục đúng đắn trong thời kì này sẽ là những mảng màu đẹp, tạo
nên bức tranh nhân cách toàn diện cho trẻ.
Ở lứa tuổi MG những nét đặc trưng của tính cách một cá thể đã hình thành và
phát triển, trẻ đã có ý thức về bản thân mình, ý thức được sự khác nhau giữa bản thân
trẻ và người khác. Vì thế GDGT có thể tiến hành ngay từ tuổi mẫu giáo. GDGT giúp
cho trẻ có những hiểu biết về cơ thể, biết phân biệt mình với người khác từ đó có
những hành thái độ, hành vi phù hợp với giới tính của mình…Có thể tích hợp GTGT
vào các hoạt động hàng ngày của trẻ như vui chơi, các giờ học, các hoạt động chăm
sóc khác.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục giới tính, rất nhiều nước trên
thế giới đã chú trọng tới việc giáo dục giới tính cho trẻ ngay từ khi trẻ mới là những bé
mầm non. Những nghiên cứu gần đây về sinh học phát triển của trẻ em Việt Nam từ 0
đến 6 tuổi cho biết: Có hiện tượng tăng tốc phát triển trẻ em, biểu hiện ở ba dấu hiệu
chủ yếu sau: Tăng kích thước cơ thể, trưởng thành sinh dục sớm, phát triển trí tuệ sớm
hơn. Tuy nhiên hiện nay, ở các trường mầm non giáo dục giới tính vẫn là một vấn đề
luôn bị “né tránh” và được xem là “tế nhị” chưa được chú trọng, nội dung giáo dục

- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5-6
tuổi ở trường mầm non. .
- Đề xuất một số biện pháp giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường
mầm non.
6. Phạm vi và thời gian nghiên cứu
6.1. Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu 40 trẻ, lấy ý kiến của 30 giáo viên Trường Mầm non Nam Lý Đồng Hới - Quảng Bình.
2


6.2. Thời gian nghiên cứu:
Bắt đầu nghiên cứu từ tháng 11/2016 đến tháng 4/2017.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các nguồn tài liệu, lí luận văn bản, sách tham khảo và các công trình
nghiên cứu liên quan đến giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
a. Phương pháp quan sát
Trực tiếp quan sát các hoạt động của trẻ và giáo viên tại địa bàn khảo sát. Sử
dụng phiếu quan sát để thu thập những thông tin phục vụ mục đích nghiên cứu của đề
tài.
b. Phương pháp điều tra bằng anket ( bảng hỏi)
Sử dụng hệ thống các câu hỏi để thu thập ý kiến của giáo viên và phụ huynh.
Khảo sát, đánh giá nhận thức của giáo viên về thực trạng giáo dục giới tính cho
trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động vui chơi ở trường mầm non. Những yếu tố ảnh hưởng và
các biện pháp mà giáo viên đã sử dụng để GDGT cho trẻ 5-6 tuổi.
c. Phương pháp đàm thoại
Trực tiếp trao đổi với giáo viên và trẻ nhằm chính xác hóa những thông tin thu
được từ các phương pháp nghiên cứu khác.
d. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

Tại Anh, trẻ mầm non phải được giáo dục giới tính. Điều này được quy định là
khi trẻ 5 tuổi trẻ sẽ bắt đầu học về giới tính như một môn học bắt buộc cho đến khi tốt
nghiệp trung học cơ sở. Bất kể là trường công lập hay trường tư thục đều phải có môn
học này, chính phủ yêu cầu điều này trong chương trình giảng dạy. Có thể thấy rằng ở
Anh, nhà nước rất quan tâm đến việc giáo dục giới tính, để cho giới trẻ nhận thức được
rằng phải có những kiến thức về giới tính [20].
Tại Malaysia, trẻ em học giới tính từ khi lên 4. Malaysia là một trong những
nước đầu tiên tại khu vực Đông Nam Á thực hiện công tác phổ cập giáo dục cho trẻ
em từ năm 4 tuổi. Chương trình học của các bé sẽ do bộ phát triển phụ nữ gia đình và
cộng đồng, bộ giáo dục, các chuyên gia và các tổ chức chính phủ biên soạn. Nhà nước
quan tâm đến việc giáo dục giới tính cho trẻ từ khi còn nhỏ nhằm tạo nền tảng để phát
triển nhận thức [20].
Tại Thụy Điển, việc giáo dục giới tính được tổ chức theo nhiều hình thức khác
nhau, giáo dục giới tính cho trẻ thông qua truyền hình được triển khai từ năm 1942
[20].
Tại Hà Lan, cả nhà trò chuyện về giới tính trong bữa ăn thậm chí các vấn đề về
chuyển đổi giới tính, lưỡng tính hay đồng tính cũng được nói đến rất nhiều ở quốc gia
này. Ở quốc gia này, vấn đề giáo dục giới tính được trao đổi cởi mở, thẳng thắn, góp
phần cung cấp cho trẻ những kiến thức về giới tính mọi lúc mọi nơi [20].
4


Các nhà khoa học cũng rất quan tâm đến giáo dục giới tính, có rất nhiều những
nghiên cứu khoa học về giáo dục giới tính trên thế giới, ta có thể kể đến như:
Nhà khoa học nổi tiếng người Úc, ông Wihelm Reich (24/3/1897 – 3/11/1957) đã
khẳng định rằng: “Việc giáo dục giới tính ở thời kì của ông là một trò lừa bịp, tập
trung vào sinh học trong khi che đậy sự kích thích, khêu gợi, là cái mà các cá nhân tới
tuổi dậy thì quan tâm nhất”. Việc giáo dục giới tính thời kì này chưa được rõ ràng mới
chỉ nói đến cấu tạo các bộ phận cơ thể , chưa bám sát những đặc điểm tâm sinh lý của
trẻ [12].

3. Phụ nữ có sự tự đánh giá thấp
hơn nam giới

trong suốt giai đoạn thanh thiếu niên. Sự khác biệt
sau này giữa hai giới tính có lẽ là sự phản ánh của
việc nam giới có nhiều tự do hơn và được khuyến
khích giữ vai phương tiện.

5


4. Phụ nữ làm tốt những thao tác
đơn giản, lặp đi lặp lại, trong khi
nam giới nổi bật trong những
thao tác đòi hỏi trí tuệ cao

Những bằng chứng đã thấy không ủng hộ khẳng
định này. Cả hai giới tính đều làm tốt thao tác học
hỏi cơ bản lẫn thao tác trí tuệ cao.
Sự khác biệt về khả năng trí tuệ giữa hai giới tính

5. Nam giới lý trí hơn phụ nữ

rất nhỏ. Họ không khác biệt nhau trong các test về
phân tích và lôgic.

6. Phụ nữ không có động cơ
thành đạt

Không tồn tại một sự khác biệt nào cả. Sở dĩ tồn

bị “né tránh”, “thả nổi”hoặc có nói đến thì cũng đề cập đến khía cạnh đạo đức. Tuy
nhiên, vài năm trở lại đây, các chương trình giáo dục giới tính đã được dành cho học
sinh. Ở các trường mầm non hiện nay cũng được chú trọng và ngày càng có nhiều
những công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này.
Năm 1989, đề án VIE/88/P09, với sự tài trợ của UNFPA và sự giúp đỡ về kĩ thuật
của UNESCO, đã được triển khai, nghiên cứu về GDGT và đời sống gia đình cho học
sinh trung học cơ sở va trung học một cách hệ thống [20].
Sau đó, một số nhà tâm lí học tiếp tục đi sâu nghiên cứu vấn đề GDGT đề xuất
đưa GDGT vào bậc mầm non (Trần Trọng Thủy, Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Thị Đoan,
Nguyễn Khắc Viện,….) và có một số cán bộ chuyên ngành giáo dục mầm non đề cập
nội dung GDGT cho trẻ MG và chương trình GDGT cho các cô giáo mầm non tương
lai trong luận án tiến sĩ, thạc sĩ của họ.
Bác sĩ Hồ Đắc Duy khi nghiên cứu về giáo dục giới tính đã chỉ ra rằng: “Học
được sự hòa hợp đó là mục đích của giáo dục giới tính”. Giáo dục giới tính là dạy cho
con người ta biết các bí quyết về sự hòa hợp giữa âm và dương, biết khái niệm thế nào
là nam thế nào là nữ (giới tính), khái niệm về nhân cách để con người phát triển một
cách toàn diện. Giáo dục giới tính là một khoa học nghệ thuật dạy cho con người có
đạo đức và hành vi lành mạnh, xây dựng một nhân cách phù hợp với mong muốn của
xã hội và hình thành mối quan hệ có trách nhiệm trong tình bạn cũng như trong tình
yêu [19].
Tiến sĩ Nguyễn Văn Đồng, trong cuốn tâm lí học phát triển, khi nói về giáo dục
giới tính ông cho rằng: “giới tính là do di truyền tạo ra. Có ba loại giới tính: nam, nữ
và lưỡng tính”. Ông nghiên cứu sâu về chuẩn mực vai giới trong xã hội, những khác
biệt tâm lí giữa các giới tính, nhận định truyền thống của các nền văn hóa về giới tính
cũng như sự tác động của các quan điểm truyền thống đối với sự khác biệt về giới tính
[7].
Nhóm các tác giả Bùi Thị Thơm – Nguyễn Thị Vân Anh – Phạm Mai Hương đã
cùng nhau xây dựng nên cuốn “ Giáo dục giới tính cho trẻ em” đã chỉ ra sự cần thiết
của việc giáo dục giới tính cho trẻ. “Đó là một việc làm quan trọng, cần được quan
7

1.2.1.1. Khái niệm về giới
Thuật ngữ giới “Gender” mà ta quen dùng là một khái niệm xã hội học hiện đại,
một phạm trù triết học chỉ vai trò, trách nhiệm, hành vi, cách sống, mối quan hệ của
nam, nữa giới trong xã hội.

8


Giới sinh học (sex) đã được quyết định ngay từ khi con người ra đời, thuộc về
nam (male) hay nữ (female) [9].
1.2.1.2. Khái niệm về giới tính
Trước hết, theo từ ngữ, giới tính được hiểu là những đặc điểm của giới. Những
đặc điểm này có thể rất phong phú và đa dạng. Vì giới bao gồm những thuộc tính về
sinh học và những thuộc tính về tâm lí xã hội nên giới tính cũng bao gồm những đặc
điểm về sinh lí cơ thể và tâm lí xã hội.
Giới tính cũng có thể được hiểu là những đặc điểm tạo nên những đặc trưng của
giới, giúp chúng ta phân biệt giới này với giới kia. Những đặc điểm về giới tính có thể
là những đặc điểm sinh lí cơ thể như: cấu trúc và chức năng của các bộ phận trên cơ
thể đặc biệt là hệ cơ quan sinh dục con người…Những đặc điểm về giới tính có thể là
những đặc điểm tâm lí, tính cách, như sự dịu dàng, hiền hậu, kín đáo, tính cương trực
thẳng thắn, tính dũng mãnh… Những đặc điểm trên thường mang đặc trưng của từng
giới tạo nên sự khác biệt giữa 2 giới. Giới tính là yếu tố xác định sự khác biệt giữa
giới này với giới kia. Trong đời sống con người, 2 giới không thể tồn tại độc lập mà
luôn luôn tác động đến nhau, có mối quan hệ qua lại mật thiết với nhau.
Có thể định nghĩa: Giới tính là những đặc điểm riêng biệt về mặt giải phẫu sinh
lí cơ thể, những đặc điểm riêng biệt về mặt tâm lý (hứng thú, tình cảm, xúc cảm, tính
cách, năng lực…) ở con người, tạo nên sự khác biệt giữa nam và nữ.
1.2.2. Khái niệm giáo dục giới tính
Giáo dục giới tính là một lĩnh vực phức tạp. Có rất nhiều qua niệm, nhiều ý kiến
khác nhau về vấn đề này:

người có giới tính, điều quan trọng là đề cập vấn đề giới tính một cách công khai đầy
đủ ở lớp từ nhà trẻ đến đại họ, giúp học sinh cảm thấy an toàn và tự dotrong việc biểu
hiện cảm xúc liên quan đến đời sống giới tính” [8].
Theo Bách khoa toàn thư y học phổ thông – Pêtrốpxki chủ biên: “Giáo dục giới
tính là hệ thống các biện pháp y khoa và sư phạm nhằm giáo dục cho nhi đồng, thanh
niên, thiếu niên có thái độ đúng đắn đối với các vấn đề về giới tính”. Định nghĩa này
ngoài góc độ giáo dục còn đứng ở góc độ y học để xem xét nội dung giáo dục giới
tính, giúp thế hệ trẻ biết bảo vệ sức khỏe của mình và những người khác [22].
Giáo sư Trần Trọng Thủy - Giáo sư Đặng Xuân Hoài cho rằng: “ GDGT có phạm
vi rất rộng lớn, tác động toàn diện đến tâm lí đạo đức con người, “hình thành những
tiêu chuẩn đạo đức của hành vi có liên quan đến lĩnh vực thầm kính của đời sống con
người, hình thành những quan niệm đạo đức lành mạnh giữa em trai và em gái, thanh
nam và thanh nữ, giáo dục những sự kiềm chế có đạo đức, sự thuần khiết và tươi mát
về đạo đức trong tình cảm của các em”. Nhận định này cho thấy giáo dục giới tính có
ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành những tiêu chuẩn đạo đức tốt đẹp [17].
10


Theo từ điển bách khoa về giáo dục: “Giáo dục giới tính là giáo dục về chức
năng làm một con người có giới tính. Điều quan trọng là đề cập vấn đề giới tính một
cách công khai và đầy đủ trong lớp học, từ nhà trẻ đến đại học, giúp cho học sinh cảm
thấy an toàn và tự do trong việc biểu lộ cảm xúc liên quan đến đời sống giới tính”
[22]. Định nghĩa này nêu bật được bản chất của công tác GDGT đó là con người phải
nhận thức được giới tính của mình và phải cư xử, hành động phù hợp với giới tính.
Con gái phải nhẹ nhàng, tinh tế… còn con trai phải mạnh mẽ, độ lượng…Định nghĩa
còn đề cập đến các cơ quan giáo dục – của nhà trường là nơi có đủ điều kiện thận lợi
trong việc truyền thụ cho thế hệ trẻ những kiến thức giới tính một cách hệ thống.
Trong cuốn Giáo dục giới tính của các tác giả Nguyễn Văn Lê – Nguyễn Thị
Đoan cho rằng: “Giáo dục giới tính có nội dung rất sâu rộng. Đó là quá trình rèn
luyện cho thế hệ trẻ những phẩm chất, tính cách, hành vi thái độ cần thiết đúng đắn

tưởng, tưởng tượng và khả năng giải quyết những nhiệm vụ chơi, học, sinh hoạt của
mình một cách sáng tạo. Sự phát triển của hệ thần kinh trung ương, hoạt động của não
và sự thành lập các phản xạ có điều kiện tương đối ổn định và vững chắc, điều đó giúp
trẻ có thể tập trung lâu, trẻ tiếp thu những kiến thức về GDGT và thực hiện tốt các yêu
cầu của cô.
Ở lứa tuổi 5-6 tuổi, do việc giao tiếp bằng ngôn ngữ được mở rộng trong những
năm trước đó, tai âm vị được rèn luyện thường xuyên để tiếp nhận các ngữ âm khi
nghe người lớn nói. Đó là điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia các hoạt động.
Sự biến đổi của tuyến nội tiết hóoc môn dẫn đến sự phân hóa giới tính được biểu
hiện khá rõ. Giới tính của trẻ thể hiện rõ ở cách đi đứng, ăn mặc, nói năng giao tiếp…
Sự phát triển nhanh như vậy đã tạo nên những điều kiện cần thiết để trẻ 5-6 tuổi
có thể tham gia độc lập được nhiều hơn và giúp chúng lĩnh hội những hình thức mới
của kinh nghiệm xã hội trong quá trình tiếp nhận giáo dục.
1.3.2. Đặc điểm phát triển tâm lý
Ở tuổi MG lớn, những cấu tạo tâm lý đặc trưng của con người được hình thành ở
giai đoạn trước vẫn tiếp tục phát triển mạnh. Trẻ ham thích tìm tòi, khám phá những
điều mới lạ từ cuộc sống, đặc biệt đó là những bộ phận trên cơ thể mình. Với sự giáo
dục của người lớn, những chức năng tâm lý đó sẽ được hoàn thiện một cách tốt đẹp về
mọi phương diện của hoạt động tâm lý (nhận thức, tình cảm, ý chí…) để hoàn thành
việc xây dựng những cơ sở nhân cách ban đầu của con người.
1.3.2.1. Đặc điểm phát triển tư duy
Ở tuổi MG 5-6 tuổi, bên cạnh sự phát triển tư duy hình tượng vẫn mạnh mẽ như
trước đây, còn cần phải phát triển thêm một kiểu tư duy trực quan hình tượng mới để
đáp ứng với khả năng và nhu cầu phát triển của trẻ đó là kiểu tư duy trực quan sơ đồ.

12


Kiểu tư duy này tạo cho trẻ khả năng phản ánh mối liên hệ tồn tại khách quan, không
bị phụ thuộc vào hành động hay ý muốn chủ quan của bản thân trẻ.

13


- Giáo dục trẻ nhận thức về giới tính và bước đầu biết tự đánh giá, phân biệt đúng
sai, tốt xấu về hành vi của mình trong quan hệ với bạn cùng giới và khác giới.
- Giáo dục ý thức giữ gìn và rèn luyện sức khỏe của mình, trong đó có cơ quan
sinh dục.
1.4.3. Vai trò của giáo dục giới tính đối với trẻ mẫu giáo
1.4.3.1. Giáo dục giới tính giúp cho trẻ những hiểu biết về cơ thể.
Bác sĩ Benjamin Spock (Mĩ) phân tích rằng: “ Khi một đứa con trai lên 3 thấy
một đứa con gái ở truồng nó có thể ngạc nhiên lạ lùng vì đứa con gái ấy không có
“chim” như nó. Chuyện tương tự cũng có thể xảy ra với đứa con gái lần đầu tiên
trông thấy đứa con trai không giống nó. Thế rồi nó lo lắng “Cái gì đã xảy ra với nó?
Nó muốn biết tại sao chúng không giống nhau? Nó sẽ hỏi cha mẹ”. Ông khuyên
những người làm cha mẹ: “Bạn đừng nghĩa rằng những câu hỏi về giới tính là sự
quan tâm không lành mạnh. Đối với trẻ câu hỏi ấy cũng như mọi câu hỏi khác, không
hề có ý nghĩa gì đặc biệt cả. Nếu người lớn bắt trẻ phải im lặng không được hỏi hoặc
mắng trẻ, hoặc đỏ mặt lên không chịu trả lời, đi ngược với sự quan tâm của trẻ thì
chính thái độ ấy của người lớn sẽ gây cho trẻ những ấn tượng xấu về chính giới tính
của mình, đó chính là điều bạn nên tránh”[24].
Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện cũng nhận xét đại ý rằng từ một tuổi trở đi trẻ bắt đầu
tập đi tiểu tiện, đại tiện có kỉ luật chính vì thế mà bé trai nhận ra mình có con” chim”
còn bé gái nhận ra mình chỉ có “ bướm”, không có “chim” như bạn. Từ đó trẻ thắc
mắc “ Tại sao có người có có người không”, tại sao phải đái đứng, đái ngồi”. thêm vào
đó một số người lớn lại hay đùa dọa trẻ “ cắt chim”, “ chim bay mất rồi”, tất cả những
điều trên đều tác động đến trẻ khiến trẻ quan tâm và nhận biết giới tính của mình. Như
vậy là từ bậc học mầm non, khi trẻ tò mò muốn biết về mọi cái xung quanh thì sự khác
biệt về giới tính cũng nằm trong tầm mắt của trẻ khiến chúng thắc mắc và tìm hiểu vì
vậy cần GDGT cho trẻ càng sớm càng tốt [22].
Trẻ ở lứa tuổi mầm non có những đặc điểm tâm sinh lí rất phức tạp, đặc biệt là ở

phải tôn trọng con, giữ cự li nhất định với con” [21].
Xã hội ngày nay có quá nhiều điều phức tạp, nổi cộm lên đó là vấn đề “xâm hại
tình dục ở trẻ em”. Đây là 1 vấn đề “nóng” cần được quan tâm. Việc giáo dục giới tính
cho trẻ giúp trẻ nhận thức được giới tính của mình, giúp trẻ biết được bản thân mình
khác các bạn cái gì, mình là trai hay gái, phải làm gì để bảo vệ cơ thể của mình, phải
làm như thế nào khi người lạ đến gần mình, khi cần giúp đỡ thì gọi cho ai, cho trẻ biết
được tầm quan trọng của các bộ phận trên cơ thể mình, bộ phận nào không để người
khác nhìn thấy từ đó trẻ biết bảo vệ cơ thể của mình, tránh những xâm hại. Như vậy,
việc giáo dục giới tính cho trẻ là hết sức cần thiết và có vai trò cực kì quan trọng.

15


1.4.4. Nội dung giáo dục giới tính cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
- Hình thành cho trẻ những thái độ tự nhiên đối với những dấu hiệu đặc trưng cho
giới tính ở bề ngoài cơ thể. Khi thấy trẻ máy mó, nghịch cơ quan sinh dục của mình
giáo viên cần nhắc nhở trẻ, và giáo dục trẻ rằng: “Tay con đã bẩn rồi sao lại sờ chim
cho chim cũng bẩn, nó có thể gây ngứa hoặc sưng đau bây giờ!”. Giáo viên phải giải
thích cho trẻ một cách tự nhiên nhất để hình thành ở trẻ thái độ tự nhiên coi cơ quan
sinh dục như mọi bộ phận của cơ thể.
- Giáo dục những đặc trưng “tính nữ, tính nam” cho trẻ, con trai thì phải như thế
nào và con gái thì phải như thế nào, thông qua việc đưa trẻ vào nề nếp sinh hoạt gia
đình, qua quan hệ của cha mẹ đối với nhau, qua quan hệ bạn bè, đặc biệt là thông qua
trò chơi. Ví dụ qua trò chơi, cô giáo tổ chức trò chơi mẹ con, cho trẻ chơi với búp bê,
giúp cho trẻ thể hiện tình cảm, dạy trẻ thể hiện tình cảm tốt với búp bê, dạy trẻ biết
giữ gìn váy áo búp bê sạch sẽ, không đánh đập làm búp bê bị thương, tỏ thái độ âu
yếm với búp bê như chính bản thân trẻ.
- Rèn luyện cho trẻ thói quen giữ gìn cơ quan sinh dục. Việc chăm sóc trẻ cần
tuân thủ những yêu cầu vệ sinh tránh cho trẻ mặc quần áo chật, loại trừ những kích
thích tác động đến vùng nhạy cảm. Khi thay quần áo phải thay nơi kín đáo, không để

khác. Suy nghĩ của ông cho thấy ông là đại diện tiêu biểu cho trường phái “ không nên
trả lời” những câu hỏi về giới tính của trẻ. Makarenco đã mất từ năm 1939 nhưng
quan điểm này vẫn còn tồn tại ở một số người làm cha làm mẹ ở thế kỉ XXI này.
- Cách trả lời thứ hai: Bịa ra một lí do nào đấy để trả lời trẻ, đại loại như: “Bố mẹ nhặt
các con ở ngoài đường”,“ Nhặt được con cạnh đống rơm”. Theo Xukhomlinxki thì khi
gặp những điều thầm kín mà không thể lảng tránh với trẻ thì nói nửa vời, phải sử dụng
hình tượng thơ ca, nếu làm khác đi thì rơi vào sự dung tục [24]. Xukhomlinxki đã mất
từ năm 1970, nhưng quan điểm của ông vẫn còn mang tính thời sự ở không ít những
bậc làm cha làm mẹ.
- Cách trả lời thứ ba là cách trả lời theo quan điểm của các nhà nghiên cứu vấn đề
GDGT hiện nay. Những yêu cầu đặt ra trong việc trả lời các câu hỏi của trẻ là:
+ Nội dung câu trả lời phải đúng khoa học, đúng sự thật.
Theo ý kiến của Tiến sĩ y khoa D.V.Kooleexop thì không nên dựa vào các
chuyện cổ tích. Người giáo dục trẻ phải giúp trẻ xác nhận sự thật. Chẳng hạn đáp lại
câu hỏi “ em bé từ đâu ra?”, nhà giáo dục phải nói cho trẻ biết rằng em bé từ bụng mẹ
mà ra và nói cho trẻ biết quá trình hình thành em bé.
A.G. Khơripcova - Tiến sĩ khoa học sư phạm chuyên nghiên cứu về vấn đề
GDGT đã nhấn mạnh rằng: “ Khi chúng tôi nói rằng, chúng ta không nên nói dối trẻ
em mà chỉ được nói sự thật với chúng, điều đó không có nghĩa là chúng ta phải kể tất
cả những gì mà người lớn biết về điều đó. Ở đây có vấn đề nghệ thuật của nhà sư
17


phạm là nói sự thật với trẻ em, biết cách chọn lựa hình thức và nội dung phù hợp với
tuổi thơ” [21].
+ Câu trả lời đúng lúc, đúng chỗ.
Mặc dù trẻ có thể đặt câu hỏi ở bất kì lúc nào, nhưng người giáo dục trẻ phải
lựa chọn hoàn cảnh và điều kiện thuận lợi cho ý định giáo dục của mình để trả lời trẻ.
+ Lượng thông tin và hình thức thông tin phải ở mức mà trẻ hiểu được và có lợi cho
trẻ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status